30/08/2011

"Ai chưa thấy hải đăng, xem bài này của tướng Vịnh"

Mở rộng hợp tác, xây dựng tin cậy, góp phần thúc đẩy quan hệ hữu nghị truyền thống
QĐND- Thứ Ba, 30/08/2011, 0:37 (GMT+7)
QĐND - Đối thoại chiến lược quốc phòng-an ninh Việt - Trung cấp Thứ trưởng lần thứ hai đã diễn ra tốt đẹp ngày 29-8 tại Bắc Kinh, Trung Quốc, dưới sự đồng chủ trì của Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam và Thượng tướng Mã Hiểu Thiên
, Phó tổng tham mưu trưởng Quân giải phóng nhân dân Trung Q
uốc. Hai bên đã nhất trí nhiều biện pháp thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương và đạt được nhận thức chung trong nhiều vấn đề, góp phần tăng quan hệ hữu nghị Việt-Trung.
Đẩy mạnh thông tin tuyên truyền
Phát biểu tại Đối thoại, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh và Thượng tướng Mã Hiểu Thiên nhất trí đánh giá dưới sự chỉ đạo của phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt, quan hệ giữa hai Đảng, hai nhà nước tiếp tục phát triển phù hợp với khuôn khổ quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Quan hệ kinh tế và thương mại phát triển nhanh. Giao lưu văn hóa, giao lưu nhân dân liên tục được mở rộng. Hàng nghìn sinh viên Việt Nam đang học tập tại Trung Quốc.

National Geographic và Bản Đồ Hoàng Sa

Đầu tháng 8 năm 2011, nhân chuyến viếng thăm Hoa Kỳ, Tiến Sĩ Nguyễn Nhã đã ghé thăm trụ sở National Geographic tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn và gởi tặng tôi một ấn bản luận án Tiến Sĩ Sử của ông hoàn tất năm 2003 là “Quá Trình Xác Lập Chủ Quyền của Việt Nam tại Hoàng Sa và Trường Sa” được ông dịch sang tiếng Anh với tựa đề “Documents on Viet Nam’s Sovereignty over Paracels & Spratleys.” Trong cuộc gặp gỡ thân tình này TS Nguyễn Nhã đã hỏi tôi về chuyện “Bản Đồ Hoàng Sa” xảy ra đầu năm 2010, và cứ thắc mắc tại sao tôi không bao giờ “lên tiếng” về việc này mặc dầu trong các diễn đàn cũng có nhiều người nhắc đến tên tôi. Thực ra, tôi đã ghi lại những diễn tiến “Bản Đồ Hoàng Sa” ngay từ đầu nhưng quyết định không phổ biến vì lời khuyên của một người đàn anh rất nổi tiếng trong giới truyền thông của người Việt tại Hoa Kỳ: “Em tìm cách nào ‘danh chính ngôn thuận’ để National Geographic chịu sửa lại chú thích trong bản đồ của họ; rồi chờ khi mọi chuyện lắng đọng hãy ‘xì ra’ chứ ngay lúc này thì không nên vì em sẽ bị ‘chụp mũ và trù dập’ từ chết tới bị thương...!”
Câu chuyện bản đồ Hoàng Sa sau đó cũng được National Geographic sắp xếp ổn thỏa và hợp lý, nhưng vì công việc bề bộn nên tôi chưa hoàn tất bài viết. Tuy nhiên, sau lần gặp gỡ TS Nguyễn Nhã và nhất là những cuộc biểu tình xảy ra liên tiếp ở trong nước cũng như ở hải ngoại từ mấy tháng nay nhằm phản đối việc Trung Quốc vi phạm chủ quyền trên Biển Đông đã thúc đẩy tôi phải sửa lại và phổ biến bài viết này để chia sẻ với các bạn.
Trước hết, tôi xin khẳng định là công việc của tôi ở National Geographic không liên quan gì tới việc làm bản đồ nhưng vì là người Việt Nam nên dầu muốn dầu không, tôi cũng phải “get involved” vì việc này liên quan trực tiếp đến “quê hương yêu dấu” của mình.
NGS_HoangSaĐầu tháng 3 năm 2010, văn phòng “Communications” báo cho tôi biết về việc có 3 người Việt Nam là các ông Nguyễn Hùng, Ngô Khoa Bá và Lê Quang Long, với tính cách cá nhân đã gởi thư yêu cầu National Geographic giải thích về việc đổi tên quần đảo “Paracel Islands” thành “Xisha Qundao” (China) và xóa bỏ tên “Hoàng Sa” một cách thiên vị, không đúng với lịch sử, và sẽ ảnh hưởng đến những tranh luận có tính cách pháp lý quốc tế trong nhiều năm. Họ báo cho tôi biết việc này vì chắc chắn sẽ có nhiều cơ quan truyền thông và hội đoàn người Việt liên lạc trực tiếp với tôi để “chất vấn” như chuyện đã xảy ra mấy năm trước khi National Geographic gọi “Sông Hương” là “Sông Huế” trong một cuộc thi chung kết giải “National Geographic Bee” ở Hoa Thịnh Đốn.
Để chuẩn bị cho mình một ít kiến thức căn bản về việc làm bản đồ ở National Geographic, tôi liên lạc với một trong những nhân viên kỳ cựu trong nhóm “Bản Đồ” để hỏi về việc “đổi tên” quần đảo Paracel Islands. Ông ấy đã cho tôi biết một chi tiết rất quan trọng là đối với những vùng đất “đang tranh chấp”, ít nhất là 10 năm một lần, những người phụ trách bản đồ khu vực đó sẽ liên lạc với các chính phủ liên quan để xem có gì thay đổi hay không, nếu hai bên vẫn còn tranh chấp thì cứ theo ấn bản cũ như trường hợp quần đảo Falkland Islands giữa Anh Quốc và Argentina. Riêng quần đảo Paracel Islands “Hoàng Sa” thì hơi đặc biệt vì từ hơn một năm trước, nhóm của ông ta cũng gởi thư xin “xác định” tới cả hai chính phủ Việt Nam và Trung Quốc, nhưng họ không hề nhận được trả lời từ Việt Nam; trong khi đó, Trung Quốc thì ngược lại, không những họ “khẳng định chủ quyền” trên quần đảo Paracel Islands mà còn chính thức mời một nhân viên đến tham quan cho biết thực hư. Ông ta bảo tôi: “Anh nghĩ xem, khi anh tận mắt chứng kiến từ phi trường tới hải cảng, từ các văn phòng hành chính đến chợ búa đều do Trung Quốc điều hành, và họ còn dẫn chứng giấy tờ để chứng minh họ là chủ thì anh nghĩ vùng đất đó thuộc về ai? Bây giờ muốn sửa lại, chúng ta cần có tiếng nói chính thức từ chính phủ Việt Nam!”
Tôi đang phân vân không biết tính sao thì ngày 10 tháng 3, 2010 anh Đỗ Hùng (báo Thanh Niên ở Sàigòn, Việt Nam) liên lạc email và điện thoại nói chuyện với tôi về những bài báo và các diễn đàn đang “bùng nổ” về chuyện “Bản Đồ Hoàng Sa của National Geographic” và hỏi tôi có cách nào hỗ trợ để “đòi lại chính nghĩa” cho người Việt. Đã biết trước nguyên tắc làm việc của nhóm “Bản Đồ” nên tôi nói với anh Hùng là phải tìm mọi cách để có tiếng nói chính thức từ Bộ Ngoại Giao Việt Nam. Thêm vào đó, tôi cũng gợi ý cho phát ngôn viên chính thức của National Geographic liên lạc trực tiếp với Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn để thúc dục họ lên tiếng xác định chủ quyền về quần đảo Paracel Islands. Cùng ngày hôm đó, nhân viên của báo Khoa Học và Đời Sống từ Hà Nội cũng liên lạc với tôi về chuyện bản đồ, tôi cũng nhấn mạnh thêm về việc “phải có” tiếng nói chính thức từ chính phủ Việt Nam. Và cũng từ hôm đó, ngày nào tôi cũng nhận được hàng trăm email và điện thoại “chất vấn” về việc làm “sai trái” của National Geographic. Cũng có một số đài truyền thanh, truyền hình và báo chí người Việt tại Hoa Kỳ muốn phỏng vấn tôi về chuyện “Bản Đồ Hoàng Sa” nhưng tôi chỉ trả lời là tôi không được phép, và xin họ liên lạc trực tiếp với bà Cindy Biedel là người được trao nhiệm vụ tiếp xúc với các cơ quan truyền thông về việc này. Tôi cũng giải thích cho nhiều người về việc gởi thư tới địa chỉ của nhóm “Bản Đồ” thay vì gởi cho ông chủ bút của National Geographic Magazine, và điều quan trọng nhất là tìm cách vận động để chính phủ Việt Nam phải chính thức lên tiếng. Thêm vào đó, tôi cũng gởi email trả lời cho một số đoàn thể và cơ quan truyền thông đang kêu gọi và vận động xin chữ ký gởi thư yêu cầu National Geographic đổi tên quần đảo Paracel Islands là tên của ông chủ bút của National Geographic Magazine là Chris Johns chứ không phải Chris Jones, nhưng rồi không thấy ai trả lời và tất cả các thư gởi đến National Graphic cũng “copy” lẫn nhau nên sai vẫn hoàn sai. Kể ra cũng hơi buồn vì mình viết thư yêu cầu người ta sửa tên một quần đảo trên bản đồ thế giới mà chính lá thư của mình lại viết sai tên người nhận... và người đó lại nổi tiếng khắp thế giới!
Tối ngày 13 tháng 3, các báo Thanh Niên, Khoa Học và Đời Sống... chuyển cho tôi văn bản cuộc họp báo ở Hà Nội với lời tuyên bố “Bản đồ ghi ‘Paracel Is. China’ do National Geographic công bố là sai, chúng tôi yêu cầu National Geographic sửa lỗi này” của phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam Nguyễn Phương Nga, và khẳng định “Việt Nam có chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.” Sau khi nắm được trong tay văn kiện này, sáng sớm hôm sau tôi đã nhắc bà Cindy Biedel liên lạc với Tòa Đại Sứ Việt Nam ở Hoa Thịnh Đốn để tham khảo, cũng như liên hệ với nhóm “Bản Đồ” của National Geographic để thúc đẩy họ triệu tập một cuộc họp hầu tìm ra phương hướng giải quyết tốt nhất và nhanh nhất  vì phản ứng giận dữ của người Việt đang “bùng nổ” rất mạnh mẽ cả trong nước lẫn hải ngoại.
Mấy ngày sau, tôi nhận được thư mời tham dự một cuộc họp khoáng đại sau khi nhóm “Bản Đồ” đề nghị và được Uỷ Ban Chính Sách Bản Đồ (The National Geographic Society’s Map Policy Committee) chấp thuận cách thức sửa đổi trước khi thông báo với giới truyền thông và các hội đoàn liên quan: “National Geogaphic sẽ chỉ sử dụng tên quốc tế Paracel Islands và xóa bỏ chữ China trong những bản đồ có tỷ lệ xích nhỏ (smaller-scale world maps) và sẽ chú thích thêm chi tiết ‘Trung Quốc chiếm đóng từ năm 1974 và gọi là Xisha Qundao, Việt Nam vẫn đòi chủ quyền và gọi là Hoàng Sa’ trong những bản đồ có tỷ lệ xích lớn hơn (larger-scale regional, continental, and sectional maps). Vào ngày 25 tháng 3 năm 2010, National Geographic đã gởi thông báo về việc thay đổi này cho hai tòa đại sứ Việt Nam và Trung Quốc cũng như các cơ quan truyền thông và hội đoàn người Việt.
Trong suốt mấy tuần lễ “dầu sôi lửa bỏng” về “Bản Đồ Hoàng Sa”, và lai rai cả gần năm nay, tôi nhận được không biết bao nhiêu là email và điện thoại của người Việt khắp nơi “hỏi thăm sức khỏe!” Tôi cảm nhận được lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh dũng cảm và đoàn kết của mọi người, đặc biệt là giới trẻ, bất kể đang ở trong nước hay hải ngoại, ai ai cũng xúc động và bồn chồn lo lắng trước viễn ảnh mất biển, mất đảo, mất đất... Tôi đã buồn thật nhiều khi có những người “trách móc” hay “chửi bới” cá nhân tôi vì chuyện “Bản Đồ Hoàng Sa” đã xảy ra; tôi cũng vui thật nhiều vì có nhiều người thông cảm và hiểu rằng khi tôi làm việc ở National Geopgraphic không có nghĩa là “đồng lõa” với việc sửa tên “Hoàng Sa” thành “Xisha Qundao” trong Bản Đồ Thế Giới.
Đã nhiều đêm tôi thao thức, và cũng đã hơn một lần tôi tự hỏi không biết mình phải làm gì khi “quê hương yêu dấu Việt Nam” càng ngày càng đi vào ngõ cụt! Trong lúc tôi ngồi viết lại những dòng này trong một dinh thự to lớn và hiện đại ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn thì bên kia bờ biển Thái Bình Dương, mẹ và các em, các cháu của tôi cùng với hơn 80 triệu đồng bào thân thương đang sống những tháng ngày khốn khổ vì ngư phủ không dám ra khơi, nông dân không có hạt giống vì nạn lũ lụt và hạn hán hàng năm khi rừng không còn nữa, công nhân đi làm lĩnh lương không đủ mua cơm ngày hai bữa... Và buồn thật nhiều khi tôi rảo khắp Sàigòn suốt một ngày cũng không tìm mua được một món hàng không có chữ “Made in China”; có chăng chỉ tìm được một vài mặt hàng có “bao bì” chế tạo tại Hoa Kỳ hay các nước Tây Phương nhưng trong ruột lại chứa “hàng nhái” từ Trung Quốc! Mẹ Việt Nam ơi, chúng con vẫn còn đây nhưng “Quê Mẹ” rồi sẽ về đâu?
Nguyễn Duy-An

(Chữ mãu đỏ do tranhung09 làm dấu lưu ý) 

--------------------------
Đăng bỡi: Tranhung09
*****

Đảng Việt Tân và Biểu tình

Tống Văn Công - Kẻ Thù???

(trích)

Nhớ cách đây mấy tháng, khi trả lời báo chí, bà Phương Nga nói: “Đảng Việt Tân đang lợi dụng tình hình căng thẳng để kích động nhân dân Việt Nam có những hành vi chống nhà nước”. Kẻ có tên rõ ràng trong “các thế lực thù địch” được nêu ra chính là đây? Bà Nga nghĩ như vậy là coi thường một nhân dân đã được trui rèn trong cuộc đấu tranh lâu dài giải phóng đất nước và vô tình đề cao một tổ chức chưa hề được nhân dân coi trọng. Một nhân dân từ ngàn xưa đã có câu thành ngữ “Con ruồi bay qua, biết ngay là ruồi đực hay ruồi cái”. Một nhân dân khiến bác sĩ Nguyễn Văn Thinh vừa nói câu “Đất Nam Bộ của người Nam Bộ” đã phải tự tử. Nhân đây, tôi cũng muốn kể lại ý kiến của khá đông người về Đảng Việt Tân. Nhìn cách họ hành xử, nhiều người bảo nhau, hình như đây là một tổ chức của Bắc Kinh lập ra nhằm mục đích chia rẽ nhân dân với nhà nước? Bởi vì chưa thấy một Đảng chính trị nào mà số đảng viên bị đem làm vật hi sinh cho danh tiếng của Đảng quá nhiều như Việt Tân. Ông Phạm Minh Hoàng bị bắt, đang cố chối mình không phải Việt Tân, vợ ông trả lời báo chí cả quyết chồng bà không phải Việt Tân. Nhưng người đại diện của Việt Tân mau mắn tuyên bố đòi nhà nước Việt Nam phải trả tự do ngay cho đảng viên Việt Tân Phạm Minh Hoàng! Nếu đưa được đảng viên đi biểu tình hẳn họ không tiếc mạng sống của anh ta, lu loa ngay hòng đánh bóng cho danh tiếng của Việt Tân.
Trên báo an ninh có người viết rằng “Yêu nước phải đúng cách”. Phải nói yêu nước là phải yêu dân, trọng dân, lắng nghe dân. Kẻ thù phương Bắc đã và đạng lộ rõ chân tướng bành trướng của chúng. Nhân dân thế giới ngày ngày liên tiếp cảnh báo bộ mặt thật của chúng. Mọi hành vi che đậy bộ mặt xấu xa của chúng, dù thực, dù giả, đều gây tác hại, vì sẽ làm sứt mẻ niềm tin của nhân dân đối với Đảng, nhà nước. Niềm tin mạnh hơn súng đạn. Chúng ta muốn hòa bình hữu nghị, chúng ta tránh khiêu khích, nhưng không thể giả dối nuốt bồ hòn làm ngọt, mà phải dựa vào luật pháp quốc tế, dựa vào bạn bè trong khu vực và thế giới để buộc Trung Quốc cũng phải cư xử bình đẳng với ta. Đó là những tấm gương hành xử đúng đắn của Nhật, Hàn, Phi, Singapore… Và trên hết là phải thực tâm tin nhân dân, dựa vào nhân dân! Nhân dân biểu tình trong trật tự, hát vang bài ca cách mạng là hình ảnh đẹp nhất, đáng tự hào nhất của quốc gia và những người lãnh đạo nước nhà!
Ngày 21-8-2011
Tống Văn Công

Nguyễn Quốc Quân – Trao Đổi Với Ông Tống Văn Công

Trong một bài viết có tựa đề “Kẻ Thù” ghi ngày 21 tháng 8 năm 2011, ông Tống Văn Công, cựu Tổng biên tập báo Lao Động, đã có viết một đoạn ngắn đề cập đến Đảng Việt Tân mà ông gọi là “muốn kể lại ý kiến của số khá đông người nhận định về Đảng Việt Tân”. Ông Tống Văn Công đã viết ý kiến đó như sau:
Nhìn cách họ hành xử, nhiều người bảo nhau, hình như đây là một tổ chức của Bắc Kinh lập ra mục đích chia rẽ nhân dân với nhà nước. Bởi vì chưa thấy một Đảng chính trị nào mà số đảng viên bị đem ra làm vật hy sinh cho danh tiếng của đảng quá nhiều như Việt Tân. Ông Phạm Minh Hoàng bị bắt, đang cố chối mình không phải Việt Tân, vợ ông trả lời báo chí cũng cả quyết chồng bà không phải Việt Tân. Nhưng đại diện của Việt Tân nhanh chóng tuyên bố đòi nhà nước Việt Nam phải trả tự do ngay cho đảng viên Việt Tân là ông Phạm Minh Hoàng! Như vậy nếu đưa được đảng viên đi biểu tình, hẳn họ sẽ không tiếc mạng sống của anh ta, lu loa ngay hòng đánh bóng cho danh tiếng của Việt Tân”.
Không biết ông Tống Văn Công đã dựa trên ý kiến của bao nhiêu người để ông gọi là “số khá đông” khi viết ra những nhận xét rất phiến diện và sai lạc về Đảng Việt Tân nói trên.
Trước hết, cho đến nay, chưa có người nào hay nhóm nào đã viết ra nhận xét mang tính quy chụp không những thiếu nghiêm chỉnh mà còn xúc phạm đến lý tưởng đấu tranh của toàn thể Đảng Viên Việt Tân như ông Tống Văn Công đã làm, rằng Đảng Việt Tân do Bắc Kinh lập ra. Không biết ông Công đã dựa vào những tài liệu nào và đã có dành thời giờ tìm hiểu về Đảng Việt Tân trước khi viết ra những nhận xét nói trên hay chỉ nghe qua những lời bêu rếu của nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, để vô hình chung tiếp tay cho bộ máy tuyên truyền Cộng sản Việt Nam dán nhãn Đảng Việt Tân là do Bắc Kinh lập ra trong lúc cao trào chống Trung Quốc đang bùng lên mạnh mẽ ở trong nước; như Hà Nội đã từng dán nhãn Đảng Việt Tân là tổ chức khủng bố nhưng không đưa ra được bất cứ bằng chứng nào cách đây vài năm, và nay đã phải rút lại vu cáo đó vì không một chính phủ nào trên thế giới chấp nhận.
Đảng Việt Tân được thành lập từ năm 1982, cách nay 30 năm với hai mục tiêu đấu tranh rõ rệt: 1/ Chấm dứt sự cai trị độc tài của đảng Cộng sản Việt Nam và xây dựng nền móng dân chủ; 2/ Vận động nỗ lực Canh tân gấp rút để có một nước Việt Nam tự do và tiến bộ về mọi mặt. Vì chỉ một Việt Nam như vậy mới có thể chống trả mọi cuộc xâm lược.
Điều cần nói thêm là trước sự gây hấn của Trung Quốc có chủ ý và liên tục trong thời gian gần đây tại Biển Đông và trước sự bế tắc của đảng CSVN đối với “người anh cả và người đồng chí Trung Quốc” trong việc giải quyết vấn đề Biển Đông, ngày 21 tháng 6 năm 2011, Đảng Việt Tân đã công bố lập trường 4 điểm về chủ quyền của đất nước. Trong đó, Đảng Việt Tân khẳng định rằng vấn đề chủ quyền trên Biển Đông phải được Quốc Tế Hóa và giải quyết bằng cách thương thuyết đa phương. Mọi âm mưu thông đồng song phương với Trung Quốc đều nguy hiểm và bất lợi cho dân tộc Việt Nam. Với sự khẳng định rõ ràng và minh bạch bằng cả lời nói và việc làm như vậy cho thấy là Đảng Việt Tân quyết tâm cùng dân tộc bảo vệ đất nước, chống lại chính sách bá quyền của Bắc Kinh và cực lực phản đối hành động thông đồng dâng nhượng đất nước của lãnh đạo đảng CSVN.
Thứ hai, ông Tống Văn Công cho rằng Đảng Việt Tân đã “lợi dụng sự hy sinh của đảng viên để nổi tiếng” khi xác nhận anh Phạm Minh Hoàng là Đảng Viên Việt Tân trong khi anh Phạm Minh Hoàng và vợ “cố chối không là Việt Tân”. Khi viết như vậy, ông Tống Văn Công đã dựa vào cảm giác chủ quan và những điều dựng đứng do nhà cầm quyền CSVN đưa ra, mà không dựa trên thứ tự các dữ kiện. Đảng Việt Tân chỉ xác nhận đảng tịch của anh Phạm Minh Hoàng SAU KHI biết rõ anh đã thừa nhận điều đó với công an. Và việc xác nhận của đảng Việt Tân chỉ để có thể vận động chính thức áp lực từ thế giới, đặc biệt là chính giới Pháp cho anh Phạm Minh Hoàng.
Ông Tống Văn Công có quyền không đồng ý việc Đảng Việt Tân lên tiếng trước công luận về những khó khăn, thiệt hại của tổ chức đến từ sự trấn áp của chế độ Hà Nội. Tuy nhiên, ông Tống Văn Công không thể dựa vào những xuyên tạc của nhà cầm quyền CSVN để quy chụp và phê phán một cách sai lạc về những hy sinh tranh đấu của Đảng Viên Việt Tân.
Trong quá trình 30 năm đấu tranh, Đảng Việt Tân có rất nhiều đảng viên đã hy sinh, đã bị tù tội trên con đường tranh đấu; nhưng những con số mà dư luận bên ngoài biết đến thật rất nhỏ, bởi vì Đảng Việt Tân chỉ lên tiếng trước công luận về những hy sinh, bị bắt của Đảng Viên khi mà sự an nguy của họ và gia đình ở mức trầm trọng trước sự đe dọa, trả thù một cách tàn độc của chế độ CSVN. Đảng Viên Việt Tân tâm niệm những hy sinh đóng góp của mỗi cá nhân và toàn đảng là để phục vụ cho chiến thắng cuối cùng là xây dựng một đất nước Việt Nam tự do, dân chủ, nhân bản và phú cường. Đảng Việt Tân chỉ là phương tiện để phục vụ cho mục tiêu cao cả nói trên của toàn thể dân tộc. Với tâm niệm sẵn sàng là phương tiện để đất nước đi lên, Đảng Việt Tân không có nhu cầu khoe khoang thành tích; và trong tinh thần phục vụ tuyệt đối đó, mọi đóng góp, hy sinh và thành quả cụ thể của mỗi Đảng Viên Việt Tân – dù được dư luận biết đến hay không – đều là những dâng hiến cho đất nước.
Trường hợp anh Phạm Minh Hoàng mà ông Tống Văn Công nêu ra để dẫn chứng “Việt Tân thí quân lấy tiếng” là không đúng sự thật. Anh Phạm Minh Hoàng bị công an Sài gòn ra lệnh bắt vào ngày 13 tháng 8 năm 2010. Lệnh bắt ghi là thành viên của tổ chức Việt Tân, truy tố theo điều 79 của luật hình sự. Mặc dù tin tức này đã được các báo đài lớn loan tải rộng rãi; nhưng Đảng Việt Tân giữ im lặng. Sau khi chị Oanh, vợ anh Phạm Minh Hoàng lên tiếng cầu cứu dư luận vào ngày 17 tháng 8, Đảng Việt Tân tuy lên tiếng về vụ đàn áp này của công an; nhưng không hề xác nhận anh Phạm Minh Hoàng là người của đảng Việt Tân.
Mặc dù lên tiếng và đã kêu gào nhiều nơi, chị Oanh vợ anh Phạm Minh Hoàng không biết chồng mình bị giam ở đâu, không được thăm nuôi, phía cơ quan an ninh thì không chịu tiếp và không trả lời. Sau gần 1 tháng chống chỏi trong sự tuyệt vọng và lo âu nói trên, ngày 6 tháng 9, chị Oanh vợ anh Phạm Minh Hoàng đã phải lên tiếng bày tỏ sự lo ngại là anh Hoàng sẽ bị giam giữ vô thời hạn và những tình huống xấu có thể xảy ra, như bị lãng quên, bị tra tấn, bức cung, chết trong tù… Trước tình hình này, Đảng Việt Tân đã không thể tiếp tục im lặng về trường hợp giam giữ anh Phạm Minh Hoàng. Sau khi trao đổi và được sự đồng ý của gia đình anh Phạm Minh Hoàng, ngày 9 tháng 9 năm 2010, Đảng Việt Tân mới lên tiếng xác nhận anh Hoàng là người của Việt Tân, để có thể chính thức vận động mọi áp lực cứu anh.
Trong quá trình tranh đấu cho chồng cũng như lên tiếng trên các làn sóng phát thanh, chị Oanh không bao giờ chối anh Phạm Minh Hoàng là Đảng Viên Việt Tân mà chỉ nói là chị không biết những hoạt động của anh. Trong khi đó, trước phiên tòa dàn dựng của Hà Nội vào ngày 10 tháng 8 năm 2011, anh Phạm Minh Hoàng đã xác định mình là Đảng Viên Đảng Việt Tân và chịu bản án 3 năm tù giam và ba năm quản chế tại địa phương. Những sự thật này cho thấy việc Đảng Việt Tân đã xác nhận anh Phạm Minh Hoàng là Việt Tân có sự đồng ý của gia đình và để sự vận động cứu anh Hoàng được hiệu quả hơn chứ không nhằm “lấy tiếng” như ông Tống Văn Công gán ghép.
Thứ ba, ông Tống Văn Công còn mỉa mai rằng: “Nếu đảng Việt Tân đưa được đảng viên đi biểu tình, hẳn họ sẽ không tiếc mạng sống của anh ta, lu loa ngay hòng đánh bóng cho danh tiếng của Việt Tân”. Nếu là một người tranh đấu thật sự vì dân tộc, hẳn ông Tống Văn Công phải hiểu rằng phát biểu của bà Phương Nga gán ghép “Việt Tân đang lợi dụng tình hình căng thẳng kích động nhân dân có những hành vi chống nhà nước” là để hù dọa những ai đi biểu tình là “liên hệ với khủng bố, phản động” hầu trấn áp, chia rẽ hàng ngũ đấu tranh. Nếu không là Việt Tân, công an CSVN cũng sẽ gán ghép một tổ chức nào đó là phản động để làm lý cớ ngăn chận sự đoàn kết giữa quần chúng và lực lượng đối kháng. Đây là âm mưu thâm độc của Hà Nội nhằm ngăn chận sự đoàn kết của phong trào chống Trung Quốc đang gây sức ép lên chế độ. Rõ ràng là chế độ CSVN đã thất bại trong việc ngăn chận lòng yêu nước của mọi thành phần quần chúng, thất bại trong việc răn đe, bắt giữ người biểu tình, và thất bại nặng nề trong những việc tấn công và bêu rếu Đảng Việt Tân là lực lượng đang gây nhiều sức ép lên chế độ hiện nay. Người yêu nước đi biểu tình đã chẳng sợ cái mũ “phản động” của chế độ đội lên đầu họ, cũng chẳng e ngại đứng cùng những Đảng Viên Việt Tân yêu nước. Tất cả đã chia xẻ cùng một mục tiêu, một động lực, một chính nghĩa mà chẳng một thế lực hay xuyên tạc nào có thể chia rẽ.
Đảng Việt Tân cũng đã chủ động bẽ gãy thủ đoạn chia rẽ nói trên của CSVN bằng cách âm thầm tiến hành các nỗ lực liên lạc trao đổi trực tiếp với các cá nhân, các lực lượng đấu tranh tại Việt Nam. Đồng thời, Đảng Việt Tân quan niệm việc tham gia biểu tình chống Trung Quốc là quyền của mọi công dân Việt Nam yêu nước, vượt lên trên sự chi phối của các đoàn thể, đảng phái. Trong tinh thần đó, suốt hơn 11 cuộc biểu tình chống Trung Quốc vừa qua tại Hà Nội lẫn Sài Gòn, đều có Đảng Viên Đảng Việt Tân tham gia như bao đồng bào khác. Anh chị em Đảng Viên Việt Tân đã vận động nhiều người cùng đi biểu tình vào mỗi sáng chủ nhật và coi đó là một nỗ lực quan trọng để góp phần dấy lên làn sóng yêu nước.
Tóm lại, tham gia đấu tranh chống lại chế độ độc tài CSVN là quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi công dân yêu nước. Tham gia biểu tình chống sự xâm lấn của Trung Quốc cũng là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân yêu nước.
Điều mà lãnh đạo đảng CSVN sợ hãi nhất lúc này là sự đoàn kết của toàn dân chống lại toan tính xâm lược dần dần của Trung Quốc mà chính họ đã chấp nhận chịu thua, dâng nhượng đất nước để tiếp tục cai trị độc tài. Lãnh đạo đảng CSVN sẽ làm hết sức để phân hóa sự đoàn kết toàn dân vì đất nước đó.
Với lòng yêu nước và trí tuệ của dân tộc, chúng tôi tin chắc chúng ta sẽ không rơi vào cái bẫy hiểm độc của những kẻ đang chủ mưu bán dần đất nước.
Nguyễn Quốc Quân
Ngày 25/8/2011.


Nguyễn Đắc Hải Di – Vài dòng về đảng Việt Tân và bài viết của ông Nguyễn Quốc Quân

Vừa rồi tôi đọc thấy bài viết “Trao đổi với ông Tống Văn Công” của ông Nguyễn Quốc Quân http://danluanvietnam.wordpress.com/2011/08/25/nguy%E1%BB%85n-qu%E1%BB%91c-quan-trao-d%E1%BB%95i-v%E1%BB%9Bi-ong-t%E1%BB%91ng-van-cong/ và quyết định viết vài dòng vì 1 đoạn như sau:
Đảng Việt Tân cũng đã chủ động bẽ gãy thủ đoạn chia rẽ nói trên của CSVN bằng cách âm thầm tiến hành các nỗ lực liên lạc trao đổi trực tiếp với các cá nhân, các lực lượng đấu tranh tại Việt Nam. Đồng thời, Đảng Việt Tân quan niệm việc tham gia biểu tình chống Trung Quốc là quyền của mọi công dân Việt Nam yêu nước, vượt lên trên sự chi phối của các đoàn thể, đảng phái. Trong tinh thần đó, suốt hơn 11 cuộc biểu tình chống Trung Quốc vừa qua tại Hà Nội lẫn Sài Gòn, đều có Đảng Viên Đảng Việt Tân tham gia như bao đồng bào khác. Anh chị em Đảng Viên Việt Tân đã vận động nhiều người cùng đi biểu tình vào mỗi sáng chủ nhật và coi đó là một nỗ lực quan trọng để góp phần dấy lên làn sóng yêu nước.
Tóm lại, tham gia đấu tranh chống lại chế độ độc tài CSVN là quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi công dân yêu nước. Tham gia biểu tình chống sự xâm lấn của Trung Quốc cũng là quyền và nghĩa vụ của mọi công dân yêu nước.
Tôi có thể hiểu được quan điểm của đảng Việt Tân. Tiếp xúc với khá nhiều đảng viên Việt Tân, tôi có thể hiểu cách họ nhìn vấn đề, cách họ muốn mở rộng tầm ảnh hưởng và tìm cách đứng chung với người dân trong nước, đẩy mạnh phong trào dân chủ. Tôi cũng hiểu họ không sợ và không mấy quan tâm đảng CSVN nói gì về đảng Việt Tân cũng như sự liên quan của những người yêu nước và đấu tranh cho tự do dân chủ.
Nhưng với tư cách 1 người đứng ngoài không tham gia đảng phái, tôi đang nghĩ, thực sự đảng viên đảng Việt Tân không nắm vững tình hình và không hiểu tâm lý người dân trong nước nên đụng đâu đổ đó, hay thích ồn ào gây sự chú ý, hay rút cuộc chỉ muốn phá hoại? Dĩ nhiên người Việt cần phải đoàn kết, cần phải đứng cạnh nhau, dù là chống Trung Quốc hay tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền. Nhưng mặt khác, đảng Việt Tân nếu có can đảm và bản lĩnh nên tự tổ chức này nọ của riêng mình thay vì ăn theo vụ biểu tình do Nhật Ký Yêu Nước khởi xướng, hoặc nhái theo tờ Dân làm báo (thành Dân làm blog), nếu có can đảm và bản lĩnh không nên để đảng viên của mình hễ bị bắt là rối rít nhận tội ký giấy xin khoan hồng. Đảng Việt Tân nếu thực sự mong muốn dân chủ nên nhìn sự việc ở góc độ của người dân trong nước và hiểu họ, nếu thực sự mong muốn dân chủ nên hiểu đối phương là đảng CSVN, nếu thực sự mong muốn dân chủ không nên phát biểu kiểu lấy tiếng mà làm vạ lây cho người khác. Cuộc tuần hành đầu tiên do Nhật Ký Yêu Nước kêu gọi không có sự can thiệp và tham gia của đảng phái nước ngoài, và chỉ hoàn toàn là cuộc tuần hành của người yêu nước phản đối thái độ hung hăng của Trung Quốc. 1 người thực sự quan tâm và hiểu chính trị Việt Nam thừa hiểu người Việt Nam không quen biểu tình, ngại chính trị, sợ bị bắt, và rất nhiều người không tin đây là những cuộc biểu tình yêu nước tự phát mà do thế lực thù địch xúi giục. Trong số những người biểu tình có không ít những người không biết nhiều về chính trị và cũng lên án ‘bọn phản động’ nhưng vẫn tham gia, vì họ tham gia như những người yêu nước bức xúc chống Trung Quốc. Ngay sau khi Nhật Ký Yêu Nước lên tiếng, đảng Việt Tân đã phải đính chính. Bây giờ ông Nguyễn Quốc Quân lại có câu “Trong tinh thần đó, suốt hơn 11 cuộc biểu tình chống Trung Quốc vừa qua tại Hà Nội lẫn Sài Gòn, đều có Đảng Viên Đảng Việt Tân tham gia như bao đồng bào khác. Anh chị em Đảng Viên Việt Tân đã vận động nhiều người cùng đi biểu tình vào mỗi sáng chủ nhật và coi đó là một nỗ lực quan trọng để góp phần dấy lên làn sóng yêu nước.” Nhìn ở góc độ của đảng CSVN, đây là cơ hội ngàn vàng để chứng minh bao lâu nay báo chí và truyền hình đã đúng khi bảo yêu nước cần phải đúng mực, đúng cách, không nên để kẻ xấu lợi dụng, và nhiều kẻ biểu tình chẳng phải vì yêu nước mà chẳng qua chỉ vì Việt Tân giật dây. Nhìn ở góc độ người biểu tình, tôi chia ra 2 nhóm, những người lơ mơ về chính trị và không quan tâm nhiều đến tự do dân chủ sẽ cảm thấy mình như bị lừa và quyết định rút lui, còn nhiều người khác có thể bị liên lụy vì bị gắn mác ‘ăn tiền đảng Việt Tân’, ‘phản động’. Rất nhiều người có thể bị bắt và vu vạ là đảng viên đảng Việt Tân, và có nhiều hệ lụy khác. Đảng Việt Tân có nghĩ đến điều đó không, ông Nguyễn Quốc Quân có nghĩ đến điều đó không? Cuộc biểu tình tự phát của những con người yêu nước và can đảm rút cuộc bị vài câu phát biểu xuyên tạc mục đích và ý nghĩa.
Đang tự hỏi, đảng Việt Tân không nắm vấn đề, hay thích mượn chút danh, hay muốn phá hoại?
PS: Nếu đảng Việt Tân vẫn chưa ý thức được tác hại của việc mình làm, có thể đọc qua bài viết mới nhất của blogger Kami http://www.rfavietnam.com/node/761.
Etsuko


----------------------------------------

Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng
(Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)


--------------------------
*****

Mạnh Quân: Tôi lại thấy buồn nôn




Nguồn: Blog Mạnh Quân



Ban đầu, bài viết này có cái tựa như trên, nhưng sau đó tác giả đã đổi thành: Một ngày riêng cho báo chí “nhân dân”, tại sao không ?

Lâu lắm rồi chẳng viết blog. Phần vì bận, phần vì máy tính của mình ko hiểu sao cả máy để bàn và sách tay đều ko vào được nên đâm chán. Tuy nhiên, mấy hôm nay nhìn qua tựa đề,vài câu trích ở một số tờ báo chính thống, đài truyền hình…đăng các bài đại khái như họ nói là lên án nhóm biểu tình, lên giọng dạy bảo yêu nước là phải thế này, thế kia, tự nhiên lại lên cơn buồn nôn quá. Phải viết vài dòng cho qua cái cảm giác khó chịu này.

Mấy hôm trước có đọc bài của ông Huỳnh Ngọc Chênh ở báo Thanh niên về báo Cộng sản và báo nhân dân. Khoái quá, Tôi chưa mấy khi tán thành ai 100% nhưng bài đó tôi tán thành 100%, cũng có thể còn có nhiều ý ông Chênh chưa nói hết cần anh em báo chí “nhân dân” (ko phải là các ông bà của báo Nhân dân phố Hàng Trống đâu nhá, đừng vội mừng. ) phát triển. Khỏi phải nói tôi thích cái cụm từ báo nhân dân mới này như thế nào.  Có lẽ trong lịch sử báo chí Việt Nam trước nay, chưa có thời kỳ nào mà bất cứ  người dân nào có khả năng viết lách chút lại dễ dàng trở thành một cây viết, viết như những phóng viên, nhà báo thực thụ như bây giờ. Làng báo blog bây giờ xôm tụ và liên tục được bổ sung những cây bút rất thú vị: người thì viết thâm sâu, phân tích đâu ra đấy mà từng dòng, từng chữ viết ra người ta đã tin ngay đó mới là sự thật, chân lý trong thời buổi bát nháo ngày nay như: Osin (Huy Đức), Vạn Phú…; giàu chất văn, thâm thúy như bọ lập- Nguyễn Quang Lập, đầy chất thơ nhưng cũng rất uất hận với thời thế như Đỗ Trung Quân, Võ Thị Hảo; khá sâu sắc về lịch sử như Phạm Viết Đào, rồi hàng loạt cát tên như: Hiệu Minh, Đào Hiếu, Tô Hải…lúc nào cũng thể bung ra những bài làm lay động, chao đảo lòng người. Những tên tuổi ấy làm sao có trong báo chí chính thống-những tờ báo được Nhà nước cấp phép, đưa tin theo định hướng. Liên tục trong 1-2 năm trở lại đây, làng báo lề trái đã được bổ sung thêm hàng loạt cây viết đáng đọc khác: Mai Thanh Hải, Đào Tuấn…mặc dù có thời gian đầu cũng chuệch choạng, chưa hẳn là hay lắm nhưng dường như nhiệt huyết, kinh nghiệm viết…càng ngày càng cao nên dần dần đều trở thành các cây viết khá ấn tượng trong thế giới báo chí blog. Các trang báo-blog”  của Trương Duy Nhất, Nguyễn Xuân Diện…trang nào cũng đặc sắc, có phong cách riêng, chẳng giống như báo chí nhà nước: một cái tin phát đi thì báo nào chẳng giống báo nào. Có bình luận, phân tích…rồi thì cũng rất giống nhau như công thức bởi người ta đã bị khuôn lại trong chừng mực nhất định rồi.

Sự phát triển của báo chí-blog cá nhân chẳng phải chỉ là do những cố gắng tô đậm, mài dũa của chính các cây viết như thế mà chính là bởi nó thực sự là báo chí tự do-viết đúng điều người ta thực nghĩ, thực thấy, đúng nguyện vọng của người đọc. Đọc báo blog, rõ ràng người ta thấy được đọc những điều chân thực nhất: biên Đông đang bị kẻ thù truyền kiếp- Trung Quốc lăm le xâm lược; sự tha hóa đạo đức-xa rời là một chuyện nhưng thậm chí sẵn sàng ra tay tàn bạo, độc ác với nhân dân-những người đóng thuế nuôi mình của không ít người đang làm nhiệm vụ bảo vệ chế độ; những chính sách sai lệch của chính quyền làm cho đất nước tụt hậu về nhiều mặt; kinh tế chao đảo: lạm phát như không có điểm dừng…đời sống công nhân, nông dân nhiều nơi như đã rơi đến đáy: công nhân không đủ tiền để làm đám cưới, cứ về ở chung với nhau; sinh con ra không có tiền nuôi phải đem đi bỏ ngoài đường….Nếu không đọc trên blog, nhiều trang mạng cá nhân thì người ta sẽ không thể thấy những sự thật khốn nạn ấy mà dễ cứ tưởng rằng, cuộc sống cũng có chút khó khăn thật nhưng cũng chưa tệ hại lắm. Các tờ báo tư nhân ấy-những blog cá nhân ấy lại ngập tràn tình cảm yêu nước, những suy tư, đau đáu của người viết về thực trạng đời sống, thế sự, tương lai của dân tộc làm sao mà lại không được dân chúng đón nhận và trân trọng ?.

Ấy thế mà  có những tờ báo chính thống, tưởng rằng đàng hoàng nhưng lại có thể có những bài viết, thủ thuật tởm lợm để nói xấu, bôi nhọ, dám gọi những blog cá nhân đó…là rác rưởi, phản động, thế nọ thế kia không biết ngượng với chính mình, với thiên hạ. Những người khả kính như nhà văn Nguyên Ngọc, như ông Chu Hảo, ông Lê Đăng Doanh, ông Nguyễn Quang A…mà chúng nó gọi là phản động ư ? Thật nực cười. Khi những tay viết theo đơn đặt hàng, những kẻ bồi bút đúng nghĩa đó có khi còn ở trong nôi thì người như ông Nguyên Ngọc chính đã tham gia chiến đấu, xây dựng nên nhàn ước này rồi, đã viết nên tác phẩm” đất nước đứng lên”…chứ đâu chờ đến lúc mấy đứa hậu bối khả ố như vậy viết bài lên án việc ông tham gia cuộc biểu tình bày tỏ lòng yêu nước. Những người nào có thể trơ trẽn viết được như vậy thật chẳng đáng cho đi quét rác ngoài đường-một công việc có khi cũng cần phải có tâm chứ đâu có đáng làm vẽ bẩn các trang giấy báo ?. Cho nên, chẳng cần thiết phải tranh luận lại chúng nó làm chi cho bẩn tay. Riêng nghĩ rằng, những tờ báo nào mà đăng được những bài như vậy có lẽ từ nay, ai có chút hiểu biết thì nên đừng bao giờ mua nữa cho nó phí tiền.

Mình định không thèm đọc các bài báo đó vì nghĩ rằng, đọc chỉ làm bẩn mắt và mua sự bực mình vào người. Nhưng ngẫu nhiên đọc qua mấy cái bài trên trang anhbasam, Viet-Studies đã thấy lộn tiết lên rồi nên ngứa tay viết ra vài dòng, cũng mong mở mắt một chút cho những ai còn hồ đồ không biết trắng-đen. Riêng mình, có ngày nào mà  không vào đọc các bài của anh em trên anhbasam, haydanhthoigian, danlambao….mà chỉ đọc báo chí chính thống là cảm thấy đầu óc tối tăm, mụ mị lắm Ở đây không phải là chê tất cả các báo chính thống đều là dở mà thực sự, hầu như tờ báo nào cũng còn rất nhiều anh em, bằng nỗ lực, cố gắng của mình vẫn có nhiều bài viết hay, đúng. Vẫn có những tờ báo đọc rất tốt, nhiều thông tin, đúng sự thật.. như Tuổi trẻ, Thanh niên, Sài Gòn Tiếp thị, pháp luật TP HCM…nhưng điều rõ ràng là tất cả các báo, anh em đều chưa dám, không được đi đến tận cùng của sự thật, chân lý của rất nhiều chuyện, không dám nói những điều chính trong lòng mình đang sục sôi, những thông tin thực sự mà người dân trông ngóng thì làm sao mà cạnh tranh nổi với các tờ báo của nhân dân như thế ?.  Nếu ai đó có thể viết được những bài đi đến tận cùng của sự thật có lẽ sẽ lại -rất nhanh chóng lại giống như các ông: Huy Đức, Bùi Thanh…để bổ sung thêm các cây viết “khủng” cho làng báo-không nhuận bút thôi. Nói đến đây, nhớ đến anh bạn Đậu Anh Tuấn bên VCCI mỗi khi thế giới blog có các bài, ảnh về cảnh biểu tình ở Hà Nội…nói kháy mình rằng :”Báo chí lề phải các anh thèm nhỏ giãi nhỉ …” là thấy cần phải nhăn nhở nói: Vâng ! đúng là như thế. Hi hi.
Thế cho nên, có lúc mới trộm nghĩ :có lẽ nên có một ngày riêng cho báo chí của nhân dân-báo blog để những tay viết blog được vinh danh, được nhìn nhận, để anh em bloggers được tụ tập, chém gió chém bão, chửi những thằng làm báo theo kiểu “bồi bút”cho vui….hê hê. Báo chí ngày nay cũng như  các nhà thơ, nhà văn thôi, đi theo tiếng gọi của cuộc sống, đi đúng vào chủ đề yêu nước, thương nòi  thì có sức sống còn ngược lại chỉ có tàn lụi, xơ xác. Những kẻ rắp tâm bán nước, bồi bút, tấn công cả những người đồng bào của mình ..rồi sẽ được lưu danh “xấu” muôn thủa.

http://davangblog.wordpress.com/


--------------------------
Đăng bỡi: Tranhung09
*****

Thành viên diễn đàn HVA tìm và vô hiệu hóa Sinh Tử Lệnh

sinhtu1.jpg
Tqvn2004 tổng hợp
-
Nhóm tin tặc Sinh Tử Lệnh nổi lên kể từ khi hack vào diễn đàn X-cafevn.org và Dân Luận ngày 28/2/2010, đánh cắp thông tin cá nhân của các thành viên và tung lên mạng tại trang sinhtulenh.org. Thực ra họ đã có nhiều hoạt động phá hoại từ trước, nhưng chưa lấy Sinh Tử Lệnh làm danh xưng. Rất nhiều trang web nổi tiếng đã trở thành nạn nhân của Sinh Tử Lệnh, trong đó phải kể đến blog Osin Huy Đức, trang Minh Biện, Talawas, Bauxite Việt Nam, blog Anh Ba Sàm, blog của nhạc sĩ Tô Hải, Thông Luận, v.v…
Hoạt động tấn công trên mạng của nhóm Sinh Tử Lệnh rất đa dạng, từ đánh cắp thông tin cá nhân (ví dụ mật khẩu hòm thư hoặc quyền điều khiển trang blog) bằng cách gửi email có virus hoặc lừa nạn nhân vào những trang web giả mạo (phishing) cho đến tấn công từ chối dịch vụ (DoS) quy mô lớn. Sinh Tử Lệnh đã đột nhập vào một số trang cung cấp phần mềm gõ tiếng Việt như VPS, Unikey hay VietKey, thay thế bộ gõ ban đầu bằng phiên bản có chứa mã độc (trojan), để biến máy tính của người sử dụng thành bàn đạp tấn công các trang web lề trái theo lệnh của họ. Nạn nhân gần đây nhất của những mạng botnet (mạng gồm nhiều máy tính bị nhiễm virus) của Sinh Tử Lệnh là Dân Làm Báo, Tin Tức Hàng Ngày, HVA Online và cả VietnamNet.
Rất may cho chúng ta là một số kỹ thuật viên bên mạng HVA Online đã bắt tay vào phân tích mã virus của nhóm Sinh Tử Lệnh, từ đó phát hiện ra rất nhiều phiên bản khác nhau của virus Sinh Tử Lệnh. Họ đã gửi những phân tích của mình tới các hãng phần mềm diệt virus nổi tiếng thế giới để cập nhật cách diệt (trước đó người ta chỉ biết tới một phiên bản là Vecebot), giúp loại bỏ loại trojan độc hại này khỏi máy của người sử dụng, nếu máy tính có cài trình diệt virus của hãng. Họ cũng đã tìm ra những trung tâm điều hành mạng botnet, và thông báo với nhà cung cấp dịch vụ để đóng cửa các server vi phạm pháp luật này.
Độc giả có thể hỗ trợ các thành viên HVA Online trong cuộc chiến chống lại Sinh Tử Lệnh bằng cách:
- Đọc về cách kiểm tra máy có bị nhiễm virus của Sinh Tử Lệnh hay không ở đây: http://www.hvaonline.net/hvaonline/posts/list/540/39641.hva
- Thông báo rộng rãi cho bạn bè mình cách kiểm tra máy tính
- Chuyển những mẫu nghi có virus tới thành viên HVA, hoặc
- Giúp các kỹ thuật viên HVA chuyển mẫu virus đã bị phát hiện tới các hãng diệt virus (càng nhiều người báo thì họ càng ưu tiên cập nhật cách diệt sớm hơn).
Theo nhận xét của Admin PXMMRF trên HVA Online thì đây là một tổ chức có khá nhiều thành viên và nguồn tài chính dồi dào:
Như chúng ta đã thấy qua quá trình giải mã (RCE) của anh TQN, Sinh Tử Lệnh (STL) có khá nhiều webserver, trên 10 cái, đặt ở nhiều quốc gia mà điển hình là Hoa Kỳ và Nga, chuyên dùng làm master-webserver, chỉ huy và điều khiển các cuộc tân công DDoS vào các trang mang Việt Nam. Nạn nhân mới đây chính là HVA. Nạn nhân mới nhất là Vietnamnet.net. Hôm nay trên báo SGGP, Vietnamnet đã xác nhân thông tin website này bị DDoS. Việc bị DDoS đã làm cho website này luôn bị quá tải. Việc truy cập đến các trang của website khá chậm, đăc biệt là các trang đăng tải các hình ảnh.Tuy có nhiều master webserver như vậy, nhưng thưc tế gần đây STL chỉ sử dung thường xuyên một số master website-webserver. Chúng là: - second.dinest.net
- map.priper.info
- speed.cyline.org
- net.iadze.com
- một, hai website-webserver khác
STL thường chuyển nhiệm vụ thường trực chỉ huy điều khiển mang bot (in-charge) từ webserver này sang webserver khác, nhằm làm chúng ta bối rối trong việc theo dõi. Ngoài ra chúng còn thay đổi cổng truy cập, thí dụ từ 80 TCP sang 8080 TCP hoăc sang 443 TCP HTTPS…. Gần đây STL cũng đã dời webserver second.dinest.net từ một địa chỉ IP tĩnh cũ sang một đia chỉ IP tĩnh mới, để đánh lạc hướng người theo dõi.
Các webserver nói trên hầu hết hay tất cả chỉ hosting (đặt) một website duy nhất làm nhiệm vụ master webserver cho mạng bot. Các webserver nói trên đa phần là các dedicated server (server thuê riêng), chỉ một hai cái có thể là virtual server (Hai hay vài virtural server cùng trên một máy chủ).
Để theo dõi, điều chỉnh, bảo dưỡng, giải quyết các trục trặc về KT và hành chính từ xa (remote management) tất cà các master webserver nói trên thường xuyên, hàng giờ thì chắc chắn STL phải cần ít nhất là từ 3-4 người có trình độ KT khá và tương đối thông thạo ngoai ngữ (tiếng Anh). Thông thao đươc hiểu là trao đổi đươc qua phone, khi khẩn cấp và qua email. Chứ không phải là người có trình độ tiêng Anh ngớ ngẩn như một thành viên non nớt của STL viết một câu tiếng Anh dớ dẩn như vừa qua.
Ai đã từng đặt một webserver ở nước ngoài đều biết rõ và trải nghiệm điều này.
Chi phí thuê nhiều webserver đặt ở nước ngoài như STL đang làm, không hề nhỏ chút nào. Ai đã thuê dedicated server nước ngoài cũng biết rõ điều này. Các chi phí phụ, cần cho webserver hoạt động ổn định thường lại khá cao.
Để làm được rất nhiều việc như ta đã thấy hiện nay (không chỉ theo dõi quản lý các webserver, mà còn nhiều việc khác, như viết, sưu tầm các mã virus, trojan, tổ chức và thưc hiện việc gây nhiễm hàng trăm ngàn máy zombies ở VN và nước ngoài với virus tạo ra, theo dõi hiệu quả của quá trình….) STL cần nhiều nhân lực. STL cũng còn phải có một nhóm chuyên đọc, theo dõi nội dung và các bài viết trên rất nhiều website, blog trên mạng, để quyết định hay xin chỉ thị cấp trên là đánh (DDoS hay khui thông tin cá nhân nói xấu người chủ trì trang mạng) ai? Đánh như thế nào (đánh cảnh cáo – có thể như với Vietnamnet.net, hay đánh cho sụp hẳn – như với HVA)? Đánh thật hay đánh giả? (Đánh giả để che giấu mục đích thật, sâu xa của STL)….. Các bạn thử đoán xem cần bao nhiêu người để làm cho đạt yêu cầu (của cấp trên) việc này?
Nếu ai đó nói về một vài công việc khác mà có thể STL đang làm, chúng ta có thể phải kinh ngạc về khối lượng công việc họ phải làm và thán phục về ý tưởng sâu xa, thâm hiểm của họ.
Tôi nghĩ rằng STL là một tổ chức khá chặt chẽ, với biên chế hàng chục người, có thể lên đến 40-50 người, kể cả cấp trên trực tiếp. Tất nhiên STL gồm nhiều thành phần trong đó có vài bạn nhỏ VN biết ít nhiều về virus, nhưng dại dột trong cuộc sống. Nhưng cũng có những những người có trình độ khá, hay rất khá về virus, IT hoặc có những ý tưởng độc đáo, thông minh. Vì vậy không nên đánh giá STL quá thấp, như một số bạn đã viết. Cũng không nên đánh giá quá cao, để sợ.
Điều lạ lùng là nhóm Sinh Tử Lệnh tấn công dai dẳng vào một trang tin lớn của Việt Nam, đó là VietnamNet, mà không thấy cơ quan chức năng nào vào cuộc để tìm ra thủ phạm:
Sáng nay vô thử Vietnamnet thì vẫn tràn ngập trong “biển lửa”. Tất cả các trang mạng thuộc Vietnamnet đều chập chờn và đa số là bị lỗi 404.Hôm trước có vô được nhưng cực kỳ chậm. Điều này chứng tỏ cho đến nay Vietnamnet vẫn còn bị tấn công nặng nề, thậm chí còn nặng nề hơn mấy hôm trước. Botnet của Sinh Tử Lệnh vẫn tiếp tục “crawl” (dựa thông tin lấy từ con vmware đang chạy thử) và dường như Vietnamnet ứng dụng javascript để redirect nhưng chỉ thuần tuý redirecting nhưng không kiểm soát cụ thể cái gì được redirect và cái gì không được redirect. Hơn nữa, botnet của Sinh Tử Lệnh đập thẳng vô những trang chính của của Vietnamnet và sau đó tiếp tục “crawl” thì không có cách gì đỡ nổi. Về mặt pháp lý, lẽ nào một trang web lớn như Vietnamnet, một trong những cơ quan ngôn luận của nhà nước mà vẫn bó tay thúc thủ? Thông tin giải mã đã được anh em ở HVA công bố quá đầy đủ. Các cơ quan chức năng thừa sức mạnh để làm việc xuyên qua những channel chính thức để thộp cổ bọn tội phạm này. Nếu chuyện tường lửa đã được áp dụng để cản đến mức độ từng blog mà không thể dùng tường lửa để cản các master bots thì đây quả là chuyện kỳ lạ.
Để bảo vệ chính mình, hãy sử dụng ít nhất một chương trình diệt virus được cập nhật thường xuyên. Nếu không có tiền mua, độc giả có thể dùng tạm các bản miễn phí nổi tiếng sau đây:
- AVG Free
- AVAST! Free
- AVIRA Free
- Microsoft Security Essentials

Theo: http://danluan.org/node/9739


--------------------------
Đăng bỡi: Tranhung09
*****

NGHỊ ĐỊNH CÔNG KHAI, THỰC HIỆN TUYỆT MẬT

CHÍNH PHỦ

_________
Số: 37/2007/NĐ-CP
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
_______________________________________
Hà Nội, ngày  09  tháng  3  năm 2007

 

NGHỊ ĐỊNH

Về minh bạch tài sản, thu nhập

______

 

CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật Phòng, chống tham nhũng ngày 29 tháng 11 năm 2005;

Xét đề nghị của Tổng Thanh tra,

 

NGHỊ ĐỊNH :

Chương I

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Nghị định này quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số quy định về minh bạch tài sản, thu nhập tại Mục 4 Chương II Luật Phòng, chống tham nhũng, bao gồm việc kê khai tài sản, thu nhập; xác minh tài sản, thu nhập; xử lý vi phạm các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong tổ chức thực hiện.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng của Nghị định này là người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập được quy định tại khoản 1 Điều 44 Luật Phòng, chống tham nhũng và Điều 6 Nghị định này; cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân có liên quan đến việc kê khai, xác minh tài sản, thu nhập.

Điều 3. Giải thích từ ngữ

Trong Nghị định này các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:

1. “Kê khai tài sản, thu nhập” là việc người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập ghi rõ các loại tài sản, thu nhập phải kê khai theo mẫu ban hành kèm theo Nghị định này;

2. “Tài sản, thu nhập phải kê khai” là nhà, quyền sử dụng đất; kim khí quý, đá quý, tiền, giấy tờ có giá và các loại tài sản khác mà giá trị của mỗi loại từ năm mươi triệu đồng trở lên; tài sản, tài khoản ở nước ngoài; thu nhập phải chịu thuế theo quy định của pháp luật; 

3. “Biến động về tài sản phải kê khai” là sự tăng, giảm tài sản, thu nhập phải kê khai so với lần kê khai gần nhất;

4. “Xác minh tài sản, thu nhập” là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền tiến hành xem xét, đánh giá, kết luận về tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định này.

Điều 4. Những hành vi bị nghiêm cấm

1. Tẩu tán tài sản dưới mọi hình thức nhằm trốn tránh việc kê khai tài sản, thu nhập; cản trở việc xác minh tài sản, thu nhập.

2. Khai thác, sử dụng trái pháp luật bản kê khai tài sản, thu nhập; lợi dụng việc quản lý, khai thác bản kê khai tài sản, thu nhập để gây mất đoàn kết nội bộ hoặc để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác.

3. Lợi dụng việc xác minh tài sản, thu nhập để gây khó khăn, cản trở hoạt động bình thường của người được xác minh; xuyên tạc, xúc phạm danh dự, uy tín của người được xác minh; gây mất đoàn kết nội bộ hoặc để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác.

 

Chương II

KÊ KHAI TÀI SẢN, THU NHẬP

Điều 5. Mục đích kê khai tài sản, thu nhập

Việc kê khai tài sản, thu nhập là để cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền biết được tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai nhằm minh bạch tài sản, thu nhập của người đó; phục vụ công tác quản lý cán bộ, công chức, góp phần phòng ngừa và ngăn chặn hành vi tham nhũng.

Điều 6. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập

1. Đại biểu Quốc hội chuyên trách, đại biểu Hội đồng nhân dân chuyên trách, người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân.

2. Cán bộ, công chức từ phó trưởng phòng của Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên và người được hưởng phụ cấp chức vụ tương đương phó trưởng phòng của Ủy ban nhân dân cấp huyện trở lên trong cơ quan, tổ chức, đơn vị.

3. Sĩ quan giữ cương vị chỉ huy từ cấp phó tiểu đoàn trưởng, phó chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự cấp huyện trở lên trong Quân đội nhân dân; sĩ quan giữ cương vị chỉ huy từ cấp phó tiểu đoàn trưởng, phó trưởng công an phường, thị trấn, phó đội trưởng trở lên trong Công an nhân dân.

4. Giám đốc, phó giám đốc, viện trưởng, phó viện trưởng, kế toán trưởng, trưởng phòng, phó trưởng phòng, trưởng khoa, phó trưởng khoa, bác sĩ chính tại các bệnh viện, viện nghiên cứu của Nhà nước.

5. Tổng biên tập, phó tổng biên tập, kế toán trưởng, trưởng phòng, phó trưởng phòng, trưởng ban, phó trưởng ban báo, tạp chí có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước.

6. Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, kế toán trưởng trường mầm non, tiểu học của Nhà nước tại quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, kế toán trưởng trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, trường trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên của Nhà nước; hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, kế toán trưởng, trưởng phòng, phó trưởng phòng, trưởng khoa, phó trưởng khoa, giảng viên chính trường đại học, cao đẳng của Nhà nước.

7. Giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng, trưởng phòng, phó trưởng phòng, trưởng ban, phó trưởng ban tại ban quản lý dự án đầu tư xây dựng có sử dụng ngân sách, tài sản của Nhà nước; giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng ban quản lý dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA).

8. Tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, chủ tịch hội đồng quản trị, phó chủ tịch hội đồng quản trị, thành viên hội đồng quản trị, trưởng ban kiểm soát, phó trưởng ban kiểm soát, thành viên ban kiểm soát, kế toán trưởng, trưởng phòng, phó trưởng phòng, trưởng ban, phó trưởng ban các phòng, ban nghiệp vụ trong công ty nhà nước; người được Nhà nước cử giữ chức vụ kể trên trong doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước.

9. Bí thư, phó bí thư Đảng ủy; chủ tịch, phó chủ tịch Hội đồng nhân dân; chủ tịch, phó chủ tịch, uỷ viên Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; trưởng công an, chỉ huy trưởng quân sự xã; cán bộ địa chính - xây dựng, tài chính - kế toán của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

10. Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán, thư ký toà án, kiểm toán viên nhà nước, thanh tra viên, chấp hành viên, công chứng viên nhà nước.

11. Bộ trưởng Bộ Nội vụ, sau khi thống nhất với Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Trưởng các ban của Trung ương Đảng, người đứng đầu cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Danh sách đối với người có nghĩa vụ phải kê khai tài sản, thu nhập là:  người làm công tác quản lý ngân sách, tài sản của Nhà nước hoặc trực tiếp tiếp xúc và giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân trong cơ quan hành chính nhà nước các cấp, cơ quan của Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Hội đồng nhân dân, Văn phòng Chủ tịch nước.

Điều 7. Quyền và nghĩa vụ của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập

1. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập có các quyền sau:

a) Được bảo đảm bí mật nội dung của bản kê khai tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật;

b) Khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập tại Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định này;

c) Được khôi phục danh dự, uy tín, được bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập gây ra.

2. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập có các nghĩa vụ sau:

a) Kê khai trung thực, đầy đủ, đúng thời hạn về số lượng tài sản, thu nhập phải kê khai và những thay đổi so với lần kê khai gần nhất trước đó;

b) Giải trình trung thực, đầy đủ, kịp thời về các nội dung liên quan đến việc kê khai tài sản, thu nhập khi có yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền;

c) Thực hiện đầy đủ các yêu cầu của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền  phục vụ cho việc xác minh tài sản, thu nhập.

3. Người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập là thành viên của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thì ngoài việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này còn phải thực hiện các nghĩa vụ về kê khai tài sản, thu nhập do tổ chức đó quy định.

Điều 8. Tài sản, thu nhập phải kê khai

1. Các loại nhà, công trình xây dựng sau:

a) Nhà, công trình xây dựng khác đang thuê hoặc đang sử dụng thuộc sở hữu của Nhà nước;

b) Nhà, công trình xây dựng khác thuộc sở hữu của bản thân, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu;

c) Nhà, công trình xây dựng khác thuộc sở hữu của bản thân, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu hoặc giấy chứng nhận quyền sở hữu đứng tên người khác.

2. Các quyền sử dụng đất sau:

a) Quyền sử dụng đất của bản thân, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng;

b) Quyền sử dụng đất của bản thân, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đứng tên người khác.

3. Tài sản, tài khoản ở nước ngoài của bản thân, vợ hoặc chồng và con chưa thành niên.

4. Thu nhập từ mức phải chịu thuế thu nhập cá nhân trở lên theo quy định của pháp luật. 

5. Kim khí quý, đá quý, tiền, sổ tiết kiệm, cổ phiếu, trái phiếu, séc, các công cụ chuyển nhượng khác, mô tô, ô tô, tàu, thuyền và các loại tài sản khác mà giá trị của mỗi loại từ năm mươi triệu đồng trở lên.

Điều 9. Trình tự, thủ tục kê khai, tiếp nhận bản kê khai tài sản, thu nhập

1. Chậm nhất là ngày 30 tháng 11 hàng năm, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị chỉ đạo đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình gửi bản kê khai tài sản, thu nhập theo mẫu, hướng dẫn và yêu cầu người có nghĩa vụ kê khai thực hiện việc kê khai tài sản, thu nhập.

2. Trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày nhận được bản kê khai tài sản, thu nhập, người có nghĩa vụ kê khai phải thực hiện việc kê khai và nộp bản kê khai tài sản, thu nhập cho đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ.

3. Khi tiếp nhận bản kê khai tài sản, thu nhập, người tiếp nhận phải làm giấy giao nhận theo mẫu ban hành kèm theo Nghị định này và ký nhận.

4. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được bản kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai, đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ phải kiểm tra lại bản kê khai và lưu hồ sơ; trường hợp bản kê khai chưa đúng mẫu quy định thì yêu cầu kê khai lại, thời hạn kê khai lại là năm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu.

Việc kê khai phải hoàn thành chậm nhất là ngày 31 tháng 12. 

Điều 10. Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong việc kê khai tài sản, thu nhập

1. Gương mẫu trong việc thực hiện nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập của mình theo quy định của pháp luật.       

2. Tổ chức, chỉ đạo việc kê khai kịp thời, đúng đối tượng, đúng trình tự, thủ tục kê khai theo quy định của Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định này.

3. Chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm quy định về kê khai tài sản, thu nhập trong cơ quan, tổ chức, đơn vị do mình quản lý, phụ trách theo quy định của pháp luật.

Điều 11. Quản lý, khai thác, sử dụng bản kê khai tài sản, thu nhập

1. Bản kê khai tài sản, thu nhập được quản lý theo chế độ quản lý hồ sơ cán bộ và chỉ được khai thác, sử dụng trong các trường hợp sau:

a) Phục vụ cho việc bầu cử, bổ nhiệm, cách chức, miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc kỷ luật đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập;

b) Phục vụ cho hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền trong việc thẩm tra, xác minh, kết luận về hành vi tham nhũng;

c) Phục vụ công tác tổ chức, cán bộ.

2. Khi người kê khai được điều động, thuyên chuyển sang cơ quan, tổ chức khác thì bản kê khai tài sản, thu nhập của người đó phải được chuyển giao cùng với hồ sơ cán bộ cho cơ quan, tổ chức có thẩm quyền quản lý.

3. Khi người kê khai nghỉ hưu, thôi việc thì bản kê khai tài sản, thu nhập của người đó được lưu giữ cùng với hồ sơ cán bộ.

4. Bản kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức, viên chức là đảng viên được quản lý theo quy định tại Nghị định này và các quy định của Đảng; trường hợp quy định của Đảng có yêu cầu phải công khai bản kê khai tài sản, thu nhập thì phải thực hiện việc công khai theo đúng các quy định đó.   

Điều 12. Thủ tục khai thác, sử dụng bản kê khai tài sản, thu nhập

1. Khi cần khai thác, sử dụng bản kê khai tài sản, thu nhập, người thực hiện việc khai thác, sử dụng phải có giấy giới thiệu của cơ quan, tổ chức, đơn vị có nhu cầu khai thác, sử dụng, trong đó ghi rõ họ, tên, chức vụ của người đến khai thác, sử dụng và mục đích của việc khai thác, sử dụng.

2. Việc khai thác, sử dụng bản kê khai tài sản, thu nhập được tiến hành tại cơ quan quản lý bản kê khai; nếu cần thiết phải khai thác, sử dụng tại nơi khác thì phải được sự đồng ý của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai và phải có biên bản bàn giao bản kê khai.

3. Người được giao nhiệm vụ khai thác, sử dụng phải thực hiện việc khai thác, sử dụng đúng với mục đích ghi trong giấy giới thiệu và theo quy định của pháp luật.

Điều 13. Trách nhiệm của người quản lý, lưu trữ bản kê khai tài sản, thu nhập

1. Sắp xếp, bảo quản, lưu trữ bản kê khai tài sản, thu nhập theo quy định về quản lý hồ sơ cán bộ.

2. Cung cấp bản kê khai tài sản, thu nhập đầy đủ, kịp thời và tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có yêu cầu.

3. Không được làm sai lệch nội dung, làm mất mát, hư hỏng bản kê khai tài sản, thu nhập.

4. Không để người khác khai thác, sử dụng trái pháp luật bản kê khai tài sản, thu nhập.

Điều 14. Xử lý vi phạm về quản lý, khai thác, sử dụng bản kê khai tài sản, thu nhập

Người nào làm sai lệch nội dung, làm mất mát, hư hỏng hoặc làm lộ bí mật nội dung bản kê khai tài sản, thu nhập, cung cấp cho người không có thẩm quyền khai thác, sử dụng; người nào khai thác, sử dụng trái pháp luật bản kê khai tài sản, thu nhập hoặc lợi dụng việc khai thác, sử dụng để gây mất đoàn kết nội bộ thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Chương III

XÁC MINH TÀI SẢN, THU NHẬP

Điều 15. Mục đích xác minh tài sản, thu nhập

Mục đích của việc xác minh tài sản, thu nhập là nhằm xem xét, đánh giá, kết luận về tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập; kiểm soát sự biến động về tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai; góp phần phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng và xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong sạch, vững mạnh. 

Điều 16. Căn cứ yêu cầu xác minh tài sản, thu nhập

Việc yêu cầu xác minh tài sản, thu nhập được thực hiện khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Khi có kết luận của cơ quan Kiểm tra Đảng, cơ quan Thanh tra Nhà nước, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan điều tra về trách nhiệm của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập liên quan đến hành vi tham nhũng.

2. Khi có tố cáo hoặc phản ánh về vấn đề tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập mà tố cáo, phản ánh đó có nội dung rõ ràng, bằng chứng cụ thể, có căn cứ để xác minh về sự không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập của người có nghĩa vụ kê khai và người tố cáo, phản ánh nêu rõ họ, tên, địa chỉ, cam kết hợp tác đầy đủ, cung cấp tài liệu mà mình có cho cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền để phục vụ cho việc xác minh tài sản, thu nhập.

Điều 17. Thẩm quyền yêu cầu xác minh tài sản, thu nhập

Khi có một trong những căn cứ quy định tại Điều 16 Nghị định này, cơ quan, tổ chức dưới đây có thẩm quyền ra văn bản yêu cầu xác minh tài sản, thu nhập:

1. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập đối với người dự kiến được bầu, phê chuẩn;  

2. Cơ quan thường vụ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người dự kiến được bầu tại đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập đối với người dự kiến được bầu; 

3. Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người dự kiến được phê chuẩn vào các chức danh do Hội đồng nhân dân bầu ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập đối với người dự kiến được phê chuẩn;

4. Hội đồng bầu cử hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc có thẩm quyền yêu cầu người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập đối với người ứng cử;

5. Chủ tịch nước yêu cầu Thủ tướng Chính phủ ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập đối với người dự kiến được bổ nhiệm Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ; yêu cầu Chánh án Toà án nhân dân tối cao ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập đối với người dự kiến được bổ nhiệm Phó Chánh án, thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; yêu cầu Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập đối với người dự kiến được bổ nhiệm Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

6. Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu Tổng Kiểm toán Nhà nước ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập đối với người dự kiến được bổ nhiệm Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước.  

Điều 18. Thời hạn tiếp nhận tố cáo, phản ánh để yêu cầu xác minh tài sản, thu nhập đối với người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân, tại đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; đối với người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân   

1. Tố cáo, phản ánh về tài sản, thu nhập của người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân, tại đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội chỉ được coi là căn cứ để yêu cầu xác minh tài sản, thu nhập khi được gửi đến cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền chậm nhất là 30 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội.   

2. Tố cáo, phản ánh về tài sản, thu nhập của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân chỉ được coi là căn cứ để yêu cầu xác minh tài sản, thu nhập khi được gửi đến Hội đồng bầu cử hoặc Ủy ban Mặt trận Tổ quốc có thẩm quyền chậm nhất là 30 ngày trước ngày hiệp thương lần cuối cùng về danh sách người ứng cử.

Điều 19. Việc ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập

1. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập trong các trường hợp sau đây:

a) Khi có văn bản yêu cầu theo quy định tại Điều 16 và Điều 17 Nghị định này;  

b) Khi có một trong các căn cứ theo quy định tại Điều 16 Nghị định này để phục vụ cho việc bổ nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền quản lý người dự kiến được bổ nhiệm;  

c) Khi có văn bản yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thường trực Hội đồng nhân dân, cơ quan thường vụ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội để phục vụ cho việc miễn nhiệm, bãi nhiệm đối với các chức danh do Quốc hội, Hội đồng nhân dân, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội bầu, phê chuẩn;

d) Khi thấy cần có thêm thông tin phục vụ cho việc miễn nhiệm, bãi nhiệm, kỷ luật đối với người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập;  

đ) Khi người có nghĩa vụ kê khai tài sản, thu nhập có hành vi tham nhũng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Việc xác minh tài sản, thu nhập đối với người có hành vi tham nhũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự được thực hiện theo pháp luật về tố tụng hình sự.

Điều 20. Cơ quan, đơn vị tiến hành xác minh tài sản, thu nhập

Người ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập giao cơ quan, đơn vị sau đây tiến hành xác minh tài sản, thu nhập:

1. Trong trường hợp người dự kiến được xác minh tài sản, thu nhập do cấp uỷ Đảng quản lý thì cơ quan tiến hành xác minh là Ủy ban Kiểm tra Đảng cùng cấp;

2. Trong trường hợp người dự kiến được xác minh tài sản, thu nhập không do cấp uỷ Đảng quản lý thì cơ quan tiến hành xác minh là cơ quan Thanh tra Nhà nước cùng cấp; nếu không có cơ quan Thanh tra Nhà nước thì đơn vị phụ trách công tác tổ chức, cán bộ của cơ quan, tổ chức, đơn vị đó tiến hành việc xác minh.

3. Thanh tra Chính phủ phối hợp với Bộ Nội vụ, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn việc xác định cơ quan, tổ chức, đơn vị tiến hành xác minh tài sản, thu nhập.

Điều 21. Giải trình về việc kê khai tài sản, thu nhập

1. Trước khi ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập, người có thẩm quyền ra quyết định xác minh phải có văn bản yêu cầu người dự kiến được xác minh tài sản, thu nhập giải trình về tính trung thực của việc kê khai tài sản, thu nhập của mình.

2. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu giải trình, người được yêu cầu phải có văn bản giải trình về các nội dung được yêu cầu giải trình và gửi cho người có thẩm quyền ra quyết định xác minh.   

3. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản giải trình, người có thẩm quyền phải xem xét nội dung giải trình và ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập; trường hợp không ra quyết định xác minh thì phải có văn bản nêu rõ lý do, gửi cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đã yêu cầu xác minh.   

Điều 22. Quyết định xác minh tài sản, thu nhập

1. Quyết định xác minh tài sản, thu nhập phải có các nội dung sau:

a) Căn cứ ra quyết định xác minh;

b) Họ, tên, chức vụ, nơi công tác của người được xác minh;

c) Họ tên, chức vụ, nơi công tác của người tiến hành xác minh; trường hợp thành lập đoàn xác minh thì phải ghi rõ họ, tên, chức vụ, nơi công tác của Trưởng đoàn, thành viên đoàn xác minh (sau đây gọi là người xác minh);

d) Nội dung xác minh;

đ) Thời hạn xác minh;

e) Nhiệm vụ, quyền hạn của người xác minh. 

2. Trong trường hợp việc xác minh tài sản, thu nhập có nội dung, tính chất phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực, địa bàn xác minh rộng thì người ra quyết định xác minh thành lập đoàn xác minh và có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan cử cán bộ tham gia đoàn xác minh.

3. Mẫu quyết định xác minh tài sản, thu nhập được ban hành kèm theo Nghị định này.

Điều 23. Nội dung xác minh tài sản, thu nhập

Nội dung xác minh tài sản, thu nhập là việc đối chiếu thông tin về tài sản, thu nhập tại bản kê khai với tài sản, thu nhập thực tế của người được xác minh, bao gồm: 

1. Số lượng các loại tài sản, thu nhập;

2. Mô tả về tài sản, thu nhập;

3. Biến động tài sản và giải trình về biến động tài sản (nếu có).

 Điều 24. Hoạt động xác minh tài sản, thu nhập

Trong quá trình xác minh tài sản, thu nhập, người xác minh tiến hành các hoạt động sau :

1. Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc xác minh;

2. Làm việc trực tiếp với người được xác minh;

3. Xác minh tại chỗ đối với tài sản, thu nhập được xác minh;

4. Làm việc với cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, lưu trữ hồ sơ, tài liệu về tài sản, thu nhập được xác minh;

5. Làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân có chuyên môn - kỹ thuật về tài sản được xác minh để đánh giá, giám định tài sản đó;

6. Làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan khác để phục vụ cho việc xác minh tài sản, thu nhập;

7. Hoạt động khác cần thiết cho việc xác minh tài sản, thu nhập.

Điều 25. Quyền hạn, trách nhiệm của người xác minh

1. Tiến hành xác minh tài sản, thu nhập khi có quyết định xác minh tài sản, thu nhập.

2. Xác minh tài sản, thu nhập khách quan, trung thực, chính xác, kịp thời; đúng nội dung, thời hạn ghi trong quyết định xác minh.

3. Yêu cầu người được xác minh cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung xác minh.

4. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung xác minh cung cấp thông tin, tài liệu đó.

5. Kiến nghị cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản; hành vi cản trở, can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xác minh.

6. Giữ bí mật thông tin, tài liệu thu thập được trong quá trình xác minh và chỉ báo cáo với người ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập về các thông tin, tài liệu đó.

7. Không làm sai lệch hồ sơ, kết quả xác minh.

8. Báo cáo kết quả xác minh với người ra quyết định xác minh và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực, khách quan của nội dung đã báo cáo.  

Điều 26. Quyền và nghĩa vụ của người được xác minh tài sản, thu nhập

1. Giải trình về các nội dung được xác minh trong quá trình xác minh tài sản, thu nhập.

2. Đề nghị người ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập xem xét lại kết luận của mình nếu có căn cứ cho rằng kết luận đó là không chính xác, trung thực, khách quan; trường hợp không đồng ý với kết quả giải quyết của người ra kết luận thì có quyền đề nghị lên người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của người ra kết luận xem xét lại kết luận đó.

3. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình xác minh tài sản, thu nhập theo quy định của pháp luật về tố cáo.

4. Thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu của người xác minh; kết luận, quyết định của cơ quan, tổ chức, đơn vị ra quyết định xác minh.  

Điều 27. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan

Khi có yêu cầu của người ra quyết định xác minh, người xác minh, cơ quan địa chính - nhà đất, cơ quan thuế, ngân hàng và các cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân liên quan có trách nhiệm:

1. Cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung xác minh và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu được cung cấp.

2. Cử người có trách nhiệm làm việc với người xác minh để phục vụ hoạt động xác minh.

3. Tiến hành các hoạt động thuộc phạm vi thẩm quyền, chuyên môn của mình để phục vụ cho việc xác minh, làm rõ các thông tin cần thiết trong quá trình xác minh hoặc ngăn chặn hành vi tẩu tán tài sản, hành vi cản trở hoạt động xác minh tài sản, thu nhập. 

Điều 28. Biên bản làm việc

1. Các buổi làm việc giữa người xác minh với người được xác minh, giữa người xác minh với cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan phải được lập biên bản.

2. Biên bản làm việc phải có các nội dung sau:

a) Thời gian, địa điểm làm việc;

b) Thành phần tham gia;

c) Nội dung làm việc;

d) Kết luận của buổi làm việc hoặc nội dung được thống nhất tại buổi làm việc;

đ) Ý kiến bảo lưu (nếu có).

Điều 29. Báo cáo kết quả xác minh tài sản, thu nhập

1. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày ra quyết định xác minh tài sản, thu nhập, người xác minh tiến hành các hoạt động xác minh theo quy định tại Điều 24 Nghị định này và phải có báo cáo kết quả xác minh tài sản, thu nhập gửi người ra quyết định xác minh.

2. Báo cáo kết quả xác minh tài sản, thu nhập phải có các nội dung sau:

a) Nội dung xác minh, hoạt động xác minh đã được tiến hành và kết quả xác minh;

b) Hồ sơ, tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình xác minh; biên bản làm việc;

c) Kết luận của người xác minh về việc kê khai tài sản, thu nhập;

d) Kiến nghị việc xử lý đối với người kê khai không trung thực (nếu có).

Điều 30. Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập

1. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả xác minh tài sản, thu nhập, sau khi xem xét báo cáo kết quả xác minh và giải trình của người được xác minh, người ra quyết định xác minh phải ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập và gửi cho người được xác minh, cơ quan, tổ chức có yêu cầu xác minh và người tố cáo khi người tố cáo có yêu cầu.

2. Nội dung của bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập phải nêu rõ sự phù hợp hay không phù hợp giữa bản kê khai tài sản, thu nhập và kết quả xác minh; trường hợp có sự không phù hợp giữa kết quả xác minh và bản kê khai thì kết luận không trung thực và nêu rõ sự sai lệch về số lượng tài sản, thu nhập, thông tin mô tả về tài sản, thu nhập, biến động tài sản; quyết định hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý người kê khai không trung thực.       

3. Trong trường hợp người được xác minh tài sản, thu nhập đề nghị người ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập xem xét lại bản kết luận thì người ra kết luận có trách nhiệm xem xét và trả lời người đề nghị trong thời hạn năm ngày kể từ ngày nhận được đề nghị; trường hợp người đề nghị không đồng ý với kết quả giải quyết của người ra kết luận và kiến nghị người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp trên trực tiếp của người ra kết luận thì người nhận được kiến nghị phải xem xét, ra quyết định giải quyết; quyết định này là căn cứ cho việc xử lý người ứng cử, người dự kiến được bầu, phê chuẩn được xác minh tài sản, thu nhập theo quy định tại khoản 1, 2 và 4 Điều 17 Nghị định này.

4. Mẫu kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập được ban hành kèm theo Nghị định này.

Điều 31. Công khai kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập

1. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu công khai bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập của cơ quan, tổ chức đã yêu cầu xác minh theo quy định tại Điều 17 Nghị định này, người ra kết luận phải ra quyết định công khai bản kết luận đó.

2. Đối với việc xác minh tài sản, thu nhập phục vụ cho việc miễn nhiệm, bãi nhiệm, kỷ luật hoặc khi có hành vi tham nhũng thì người ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập phải ra quyết định công khai bản kết luận đó ngay sau khi bản kết luận được ban hành.

3. Bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập được công khai tại các địa điểm quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Phòng, chống tham nhũng.

4. Bản kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập của người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân được công khai tại hội nghị cử tri nơi công tác, nơi cư trú của người đó.

Điều 32. Hồ sơ xác minh tài sản, thu nhập

1. Việc xác minh tài sản, thu nhập phải được lập thành hồ sơ. Hồ sơ xác minh gồm có:

a) Quyết định xác minh; biên bản làm việc; giải trình của người được xác minh; báo cáo kết quả xác minh;

b) Kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập;

c) Văn bản yêu cầu, kiến nghị của người ra quyết định xác minh, người xác minh;  

d) Kết quả đánh giá, giám định trong quá trình xác minh (nếu có);

đ) Các tài liệu khác có liên quan đến việc xác minh.

2. Việc quản lý, sử dụng hồ sơ xác minh tài sản, thu nhập được thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý hồ sơ cán bộ.

3. Nghiêm cấm việc tiết lộ thông tin của hồ sơ xác minh tài sản, thu nhập; người nào vi phạm thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm bị xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

 

Chương IV

XỬ LÝ VI PHẠM CÁC QUY ĐỊNH                                                  

VỀ MINH BẠCH TÀI SẢN, THU NHẬP

Điều 33. Xử lý kỷ luật đối với người kê khai tài sản, thu nhập không trung thực

1. Người bị kết luận là không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập thì tuỳ theo tính chất, mức độ bị xử lý bằng một trong các hình thức kỷ luật sau:

a) Khiển trách;

b) Cảnh cáo;

c) Hạ bậc lương;

d) Hạ ngạch.

2. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày có kết luận về sự kê khai tài sản, thu nhập không trung thực, người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền xử lý kỷ luật phải tiến hành xem xét, xử lý kỷ luật đối với người kê khai không trung thực.

3. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với người kê khai tài sản, thu nhập không trung thực là cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện theo quy định của pháp luật về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức.

4. Việc xử lý kỷ luật đối với người kê khai tài sản, thu nhập không trung thực là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân thì được thực hiện theo quy định của pháp luật về Quân đội nhân dân và Công an nhân dân.

5. Quyết định kỷ luật đối với người kê khai tài sản, thu nhập không trung thực phải được niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc; thời hạn công khai ít nhất là ba tháng kể từ ngày quyết định kỷ luật được ban hành.

Điều 34. Xử lý người kê khai tài sản, thu nhập không trung thực là người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, người dự kiến được phê chuẩn, bổ nhiệm

1. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân mà bị kết luận là kê khai tài sản, thu nh��p không trung thực thì bị xoá tên khỏi danh sách người ứng cử trong thời hạn một nhiệm kỳ.

2. Người dự kiến được bầu, phê chuẩn tại Quốc hội, Hội đồng nhân dân, đại hội của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, người dự kiến được phê chuẩn, bổ nhiệm mà bị kết luận là kê khai tài sản, thu nhập không trung thực thì không được bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm trong thời hạn một năm, kể từ ngày bị kết luận là kê khai không trung thực.

3. Người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, người dự kiến được bầu, phê chuẩn, bổ nhiệm bị kết luận là kê khai tài sản, thu nhập không trung thực mà người đó là cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân  ngoài việc bị xử lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì còn bị xử lý kỷ luật theo quy định tại Điều 33 Nghị định này.

Điều 35. Xử lý trách nhiệm trong xác minh tài sản, thu nhập

1. Người yêu cầu xác minh, người ra quyết định xác minh, người xác minh, người ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập có hành vi vi phạm các quy định về xác minh tài sản, thu nhập thì tuỳ theo tính chất, mức độ bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật.

2. Người yêu cầu xác minh, người ra quyết định xác minh, người tiến hành xác minh, người ra kết luận về sự minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập có hành vi vi phạm các quy định về xác minh tài sản, thu nhập, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người được xác minh có trách nhiệm cải chính công khai bằng văn bản và gửi cho người được xác minh, cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi người đó làm việc.

 

Chương V

TỔ CHỨC THỰC HIỆN VÀ ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

Điều 36. Trách nhiệm của Thanh tra Chính phủ

1. Tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn công tác thanh tra việc thực hiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập theo nội dung, trình tự, thủ tục quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng, Nghị định số 120/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 10 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định này.

2. Chủ trì, phối hợp với Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan có liên quan hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc các cấp, các ngành trong việc thực hiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập.

3. Tổng hợp, báo cáo Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập.

Điều 37. Trách nhiệm của Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương

1. Tổ chức, chỉ đạo, tuyên truyền, phổ biến, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập trong phạm vi Bộ, ngành, địa phương, cơ quan mình.

2. Rà soát, bãi bỏ theo thẩm quyền; kiến nghị các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bãi bỏ các quy định trái với các quy định về minh bạch tài sản, thu nhập tại Luật Phòng, chống tham nhũng và Nghị định này.

3. Khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích, xử lý nghiêm minh người có hành vi vi phạm quy định về minh bạch tài sản, thu nhập.

Điều 38. Hiệu lực thi hành

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.

Các quy định tại Chương II Nghị định số 64/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 1998 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Chống tham nhũng và Nghị định số 13/2002/NĐ-CP ngày 30  tháng 01 năm 2002 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 64/1998/NĐ-CP ngày 17 tháng 8 năm 1998 hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực.

Điều 39. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.


Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ; 
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- Văn phòng BCĐTW về phòng, chống tham nhũng;
- HĐND, UBND các tỉnh,
  thành phố trực thuộc Trung ương;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Toà án nhân dân tối cao;
- Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- Học viện Hành chính quốc gia;
- VPCP: BTCN, các PCN,
  Website Chính phủ, Ban Điều hành 112,
  Người phát ngôn của Thủ tướng Chính phủ,
  các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: Văn thư, V.I (5b). A.   
TM. CHÍNH PHỦ
THỦ TƯỚNG
(đã ký)
Nguyễn Tấn Dũng

Nguồn: Chinhphu.vn

Bà con chưa biết nó ra ngô ra khoai gì, ông Chánh phủ lại bồi thêm cái này nữa:

Nghị định 68/2011/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 37/2007/NĐ-CP ngày 9/3/2007 của Chính phủ về minh bạch tài sản, thu nhập



--------------------------
Đăng bỡi: Tranhung09
*****

Gài độ