28/02/2011

Ăn chay và ăn mặn

Đăng bởi Minh Triết
VIẾT BỞI TÂM MINH
anchay
Tuổi trẻ đến với đạo Phật với nhiều bỡ ngỡ như người lạc vào khu rừng đầy hoa thơm cỏ lạ nhưng lại khó tìm lối ra. Tiết mục “Tuổi Trẻ Với Phật Pháp” đến với các bạn trẻ để chúng ta cùng tìm hiểu và thực hành Phật Pháp, hầu đạt được an lạc, hạnh phúc và thảnh thơi ngay trong cuộc sống trước mặt cho bản thân, gia đình và cho mọi người quanh ta. Kính mời quý vị và các bạn trẻ cùng theo dõi câu chuyện hôm nay với tiêu đề “Ăn chay, Ăn mặn” với các bạn trẻ (A), (B) và (C).
Đây là một vấn đề mà nhiều người quan tâm đến, lại là một vấn đề hết sức tế nhị nên chúng tôi không dám tự tiện lý luận mà phải dựa vào những bài viết của hai vị sau đây: một là Tiến sĩ Victor A. Gunesekara, người Úc gốc Tích Lan, hiện là giáo sư đại học Queensland và là tổng thư ký hội Phật Giáo Queensland, Úc Đại Lợi; hai là Đại đức Thích Trí Siêu, ở Chùa Linh Sơn, Paris, Pháp quốc.
A: Này các bạn ơi, các bạn có biết các vị tu sĩ Phật giáo (PG) Tây Tạng ăn thịt bò không? Nghĩa là họ không ăn chay đó mà. Quý thầy tu Việt Nam mình mà thuộc Nam tông cũng vậy, ăn mặn đó! Nhưng họ chỉ ăn một bữa.
C: Bậy nào, tại sao lại như vậy được?
B: Không phải bậy đâu. Các bạn có biết không? Chúng ta thường tiếp xúc với quý Thầy tu Bắc tông, quí vị này theo truyền thống “tu hành thì phải ăn chay” nên chúng ta ngạc nhiên khi gặp những vị tu sĩ PG ăn mặn nghĩa là ăn thịt đó thôi. Thật ra khi xưa, có nhiều sự kiện được ghi lại trong đời sống đức Phật và chư Tỳ-kheo, ban đầu họ đã ăn thịt.
A: Thật vậy sao?
B: Thật chứ! Này nha, hồi đức Phật còn tại thế, khi đi khất thực, ai cho cái gì, quý Thầy ăn cái đó, không phân biệt ngon dở. Có câu chuyện kể rằng Đại đức Pindola Bharadvaja đã thản nhiên ăn ngón tay của một người cùi rụng rơi vào bình bát của Ngài, khi người này cúng dường vật thực. Như vậy, việc ăn chay hay ăn mặn đâu còn là vấn đề nữa?
C: Đức Phật có cấm các thầy Tỳ-kheo ăn thịt không?
B: Thời đức Phật còn tại thế, khi đi khất thực, Tỳ-kheo được phép ăn 5 thứ thịt, gọi là ngũ tịnh nhục.
A: Đó là 5 thứ thịt gì vậy?
B: Đó là qui định về việc ăn thịt: 1. Thịt ăn mà không thấy người giết. 2. Thịt ăn mà không nghe tiếng của con vật kêu la. 3. Thịt ăn mà không nghi người ta giết vì mình và cho mình ăn. 4. Thịt của con thú tự chết. 5. Thịt của con thú khác ăn còn dư. Có chỗ người ta ghi gọn lại là ‘‘Tam tịnh nhục’’ (không thấy, không nghe, không nghi ngờ) để nói đến qui định của đức Phật về việc ăn thịt.
C: Vậy còn theo giới luật thì sao?
B: Trong giới luật của Tỳ-kheo (Pratimoksha), dù là 227 giới của Tiểu thừa hay 250 giới của Đại thừa đều không có giới nào cấm ăn thịt cả. Do đó, một vị Tỳ-kheo ăn thịt chay hay thịt mặn đều không thể xem là phạm giới được. Ngoài ra, các bạn không nghe người ta nói ‘‘ăn mặn nói ngay hơn ăn chay nói dối’’. Câu này không phải nói ăn mặn tốt nhưng là để cảnh tỉnh người ăn chay, vì nhiều người ăn chay thì sinh tâm ngã mạn, chê người không ăn chay.
A: Như vậy tại sao Phật tử Đại thừa lại có giới ăn chay?
B: Trong 2 kinh Đại thừa Lăng-già và Đại Bát-niết-bàn, đức Phật dạy đệ tử không được ăn thịt cá, vì như vậy làm mất hạt giống từ bi. Trong Kinh Phạm Võng nói về Bồ tát giới cũng có 10 giới trọng và 48 giới khinh (trong đó giới khinh thứ 3 là cấm ăn thịt). Vì vậy, ai thọ Bồ-tát giới phải ăn trường trai. Gần đây Thượng tọa Đức Niệm soạn dịch cuốn Tại gia Bồ-tát giới gồm 6 giới trọng và 28 giới khinh, trong đó không bắt buộc phải trường trai nữa mà phải giữ ít nhất là 6 ngày chay trong một tháng.
C: Như vậy, nếu ta thích ăn chay vì lòng từ bi hay giữ giới Bồ-tát thì cứ việc ăn chay, mấy ngày trong 1 tháng cũng được, ăn chay trường cũng được nhưng đừng chỉ trích hay coi thường người không ăn chay như ta, có phải không?
B: Đúng rồi, bạn nắm vững vấn đề ăn chay ăn mặn rồi đó!
A: Các bạn có biết rằng Phật tử Nam tông chỉ trích quý thầy Bắc tông ăn chay là ‘‘chạy theo Đề-bà-đạt-đa’’ không? Tại sao vậy hả?
B: Tại vì vào thời đức Phật, Đề Bà Đạt Đa yêu cầu Ngài ban hành thêm 5 giới luật của hàng xuất gia: 1. Tỳ-kheo phải sống trọn đời trong rừng; 2. Tỳ-kheo phải sống đời du phương hành khất; 3. Tỳ-kheo phải đắp y may bằng những mảnh vải rách lượm ở các đống rác hay trong nghĩa địa; 4. Tỳ-kheo phải sống dưới gốc cây. 5. Tỳ-kheo phải ăn chay suốt đời. Đức Phật tuyên bố rằng các đệ tử của Ngài được tự do hành động về 5 điều này, muốn theo hay không tùy ý.
C: Nghe nói chư Tăng và các Lạt ma Tây Tạng ăn thịt bò và đặc biệt thịt Yak (một loại bò núi rất to) phải không? Các bạn có biết tại sao không ?
B: Có một lần trong một buổi thuyết pháp, Lạt ma Thrangou Rinpoche trả lời câu hỏi “tại sao các sư Tây Tạng không ăn chay?” như sau: dân Tây Tạng giết một con Yak nuôi được 10 người trong một tháng, trong khi đó nấu một bó cải có thể làm chết biết bao nhiêu côn trùng sâu bọ mà chỉ nuôi được một người trong một bữa! Vậy thì cái nào lợi và ai sát sanh nhiều hơn!
A: Cũng có lý của họ. Tương tự, chúng ta thường nghe mấy bà nội trợ thắc mắc: ăn chay là tránh sát sanh nhưng còn chuyện xịt thuốc cho ruồi, kiến, gián, chuột v.v...  trong nhà bếp, nhà kho v.v.. chết thì làm sao đây? Đó là chưa nói làm ruộng, làm vườn, trồng cây v.v... lại còn phải xịt thuốc trừ sâu nữa!
B: Đúng vậy, sau khi nghe hết mọi lý lẽ, ăn chay hay ăn mặn là tùy ý bạn; cái chính mà người Phật tử cần lưu tâm là ăn để sống, để nuôi thân chứ không phải sống để mà ăn”.
C: Nói đúng lắm, chúng ta ai cũng nghe câu bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất nghĩa là  bệnh từ miệng vào và tai họa từ miệng mà ra vì vậy phải ăn sao cho đúng phép dưỡng sinh.
A: Thế nào là đúng phép dưỡng sinh? Nghe nói người Tây phương không phải là Phật tử họ cũng ăn chay đó, vì ăn chay có nhiều chất bổ dưỡng có phải không?
C: Phải rồi! Ăn chay rất tốt chứ, vì ăn chay là ăn các loại ngũ cốc, hoa quả, rau cải tươi, bơ sữa, fromage (cheese), đậu, mật ong, nước trái cây, nước suối v.v... là những loại thực phẩm đầy đủ chất bổ dưỡng cho cơ thể, đầy đủ sinh tố, giúp cho tâm trí bén nhạy, sáng suốt, và vắng lặng. Còn những thức ăn như thịt cá, hành tỏi, rượu, cà phê, thuốc lá, thuốc phiện v.v...  đồ hộp, đồ gia vị, đồ hóa học đều có hại cho cơ thể, làm tiêu hao năng lực, kích thích cả thân và tâm trí, làm con người mất tự chủ. Càng dùng ít càng tốt.
Vegetarianism
B: Đó chính là lý do người ta càng ngày càng ngán và sợ thịt. Đó là chưa nói ăn thịt làm cho dạ dày mau mệt, những loại dầu thực vật tốt cho cơ thể hơn là dầu động vật v.v… Ngoài ra còn phải ăn thong thả, ăn vừa đủ, đừng để quá no; phải biết ăn theo mùa, những trái cây rau quả đúng mùa thì vừa rẻ vừa tốt và bổ dưỡng.
A: Nãy giờ chúng ta chỉ nói chung về ăn chay và ăn mặn mà chưa đi sâu vào chi tiết như tại sao có những luận cứ chống lại việc ăn thịt về phương diện tôn giáo?  Nói rõ hơn là đạo Phật.
B: Trong kinh Lăng Già nói rằng chúng ta không nên ăn thịt thú vật vì vài lý do sau đây: 1. Những thú vật hiện nay có thể là bà con bạn bè với chúng ta trong những kiếp quá khứ. 2. Chính cha mẹ bà con bạn bè của chúng ta hôm nay có thể tái sanh làm thú vật trong các kiếp sau này. 3. Thịt được xem là ô uế vì sự phóng uế của thân xác. 4. Viễn ảnh bị giết khiến cho thú vật kinh hoàng. 5. Toàn bộ thịt chẳng khác gì một xác chết thối rữa. 6. Ăn thịt có thể khiến cho tánh tình thêm nóng nảy, độc ác, gợi cảm nhục dục. 7. Theo bản tánh tự nhiên, con người không phải là con vật ăn thịt.
C: Thật vậy đó, cơ thể con người giống loài ăn cỏ nhưng không hoàn toàn là loài ăn cỏ vì cấu trúc dạ dày của con người khác hẳn với loài ăn cỏ, nhưng bộ ruột dài thì giống với loài ăn cỏ mà khác với loài ăn thịt. Đó là một cơ cấu thỏa hiệp giữa loài ăn cỏ thuần túy và loài ăn thịt thuần túy; vì vậy, “con người là một loài ăn tạp”. Thực phẩm chay thích hợp cho sức khoẻ con người vì trong các thức ăn chay có các chất đạm cao để cân bằng với lượng Cholesterol dư thừa trong cơ thể. Bệnh cao Cholesterol là hậu quả tai hại của việc dùng quá nhiều sản phẩm từ động vật.
A: À, mà các bạn có biết vào thời đức Phật, các tôn giáo khác có cấm ăn thịt không?
C: Không, không phải tất cả tín đồ các tôn giáo đều bị cấm ăn thịt; bởi vì bạn không nhớ là ở Ấn Độ có tục lệ giết súc vật để tế thần linh đó sao? Chính đức Phật đã lý luận với người Bà-la-môn tế lễ khi cứu một con dê con sắp bị thọc huyết đó! Tuy nhiên, đa số tín đồ Hindu (Ấn Độ giáo) lại ăn chay, hay ít nhất họ tránh ăn thịt bò. Còn phái Kỳ-na thì “kỹ lưỡng” hơn nữa; họ không những chỉ ăn chay mà lại còn cấm ăn một số trái cây có một số sinh vật bé li ti sống trên đó như trái vải, họ cũng cấm dùng bữa sau khi mặt trời lặn vì như vậy sẽ có một số thiêu thân lao vào bếp lửa chết v.v…
B: Còn nữa, theo kinh Thánh thì sau khi tạo dựng nên Trời đất Thượng đế đã ra lệnh cho con người phải ăn rau đậu, nhưng lệnh cấm đó đã được hủy bỏ sau cơn đại hồng thủy rồi. Ở Trung Hoa thì vào năm 511 trước Tây lịch, Lương Võ Đế đã ra lệnh cấm ăn thịt và tại hầu hết các nước Tây phương và nơi tiểu lục địa Ấn Độ đã có sự chống đối việc ăn thịt các con vật cưng (pets) hay các loài bò sát.
A: Nghe nói ở Ấn Độ thời đức Phật tuy không cấm ăn thịt nhưng cũng có một số con vật không được đụng tới phải không?
C: Phải đó, ở xã hội Ấn Độ thời đó, thịt của 10 sinh vật sau đây bị cấm xử dụng; đó là: thịt người, thịt voi, ngựa, chó, rắn, sư tử, cọp, beo, gấu và linh cẩu.
A: Tại sao những con vật này lại ưu tiên?
B: Mặc dù không ai nói chi tiết tại sao nhưng ngầm hiểu rằng sở dĩ có sự cấm đoán vì đã được công chúng đồng ý. Đức Phật của chúng ta thường có khuynh hướng chấp nhận những phong tục xã hội đang thịnh hành, miễn là đừng mâu thuẫn với những nguyên lý giáo pháp của Ngài.
C: Tại sao trong 10 con vật không có con bò cái? Hiện nay nó là con linh vật cấm kỵ nhất của Ấn Độ giáo đó mà!
B: Điều đó cho thấy có lẽ vào thời đức Phật, Ấn Độ giáo chưa được phát triển và sự kiện bò cái sau này mới được thừa nhận. Tuy nhiên, đối với chúng ta hôm nay việc quan trọng là qua cuộc nói chuyện này, tóm tắt cho được “tại sao Phật dạy người Phật tử phải ăn chay”“ăn chay như thế nào mới được gọi là đúng với Chánh pháp”.
A: Vậy thì các bạn làm ơn tóm tắt lại hai trọng tâm đó đi!
B: Những lợi ích của sự ăn chay là: thân thể khỏe mạnh, tránh các bệnh nan y và làm việc được dai sức. Ăn chay giúp trí óc được sáng suốt, tánh tình thuần hậu và nhất là tập thói quen nếp sống thanh bạch, ăn uống giản dị, thực hiện hạnh “ít muốn, biết đủ” của người con Phật.
C: Còn nữa! Ăn chay đúng Chánh pháp là ăn chay mà không chấp vào chuyện này, không chê bai người không ăn chay, không “nhiều chuyện” kiêng cử đủ thứ như chén đũa, soong nồi v.v… phải để riêng làm phiền đến mọi người trong gia đình, trong tập thể... điều cốt yếu là mình mượn phương tiện ăn chay để mở rộng tâm từ.
A: Vậy các bạn có biết, thông thường người ta ăn chay mấy ngày mỗi tháng không?
B: Ăn chay 2 ngày 1 tháng thì ăn vào ngày Rằm (15 Âm lịch) và mồng Một; ăn 4 ngày thì thêm 14 và 30 tháng thiếu thì ngày 29 tức là 30 đó; 6 ngày thì thêm mồng 8 và 23; 10 ngày thì thêm 18, 24 và 28, 29 (hay 27, 28 tháng thiếu); tóm lại, nếu ăn chay 10 ngày thì vào những ngày: 1, 8, 14, Rằm, 18, 23, 24, 28, 29, 30 (hay 27, 28, 29 tháng thiếu)
C: Như vậy buổi thảo luận về ăn chay ăn mặn hôm nay cũng tạm đầy đủ phải không các bạn? Chúng ta hãy tạm biệt nhau và xin hẹn lần sau nha!
A&B: Tạm biệt! Tạm biệt !
Nguồn: Tập san Pháp luân số 04
 
*****

Huyền thoại bếp HOÀNG CẦM

Đăng bởi Minh Triết

Dân hướng đạo hay GĐPT chuyên nghiệp nhắc đến việc nấu nướng đều nhớ đến bếp Hoàng Cầm. Có thể nói bếp Hoàng Cầm đã đi vào huyền thoại vì rất nhiều anh chị em biết đến tiếng nhưng chẳng biết lịch sử xuất xứ và cấu tạo của nó ra sao cả. Trong bài viết này chúng ta sẽ đi tìm hiểu một chút về bếp Hoàng Cầm.
Bếp Hoàng Cầm được đặt tên theo người sáng tạo ra nó: “Hoàng Cầm – nguyên là anh nuôi trong quân đội”. Không phải là nhà thơ Hoàng Cầm tác giả của bài thơ “Bên kia sông Đuống” nổi tiếng nhưng người lính bình thường ấy đã có một sáng tạo để đời. Ông sinh năm 1916 quê gốc ở Cát Nội xã Trực Đại, Nam Ninh, Nam Hà ngày nay thuộc Tỉnh Nam Định. Năm 20 tuổi ông bỏ quê lên Tam Đảo, Vĩnh Phúc làm thợ nề, tháng 2 năm 1946 ông đi bộ đội và được phân làm anh nuôi cho quân y tiền phương sư đoàn 308. Việc được phân làm anh nuôi do trước đây có thời gian anh làm phụ bếp cho một gia đình ở Hà Nội.
Trong chiến tranh bí mật là một trong những tiêu chí hàng đầu. Việc nấu ăn là việc khó giấu kín được vì ban đêm thấy lửa ban ngày thấy khói. Rất nhiều thương vong của bộ đội xuất phát từ việc “khói bốc lên giữa rừng”. Hoàng Cầm đã sáng tạo kết hợp nhiều yếu tố dân gian để tạo nên một bếp Hoàng Cầm rất hoàn hảo với mục tiêu giấu lửa giấu khói theo phương châm: “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”. Bếp lần đầu tiên được sử dụng trong khoảng thời gian diễn ra chiến dịch Hòa Bình 1951 – 1952 và bắt đầu được phổ biến rộng rãi vào năm 1954 khi diễn ra chiến dịch Điện Biên Phủ. Năm 1952 Hoàng Cầm được khen thưởng Huân chương chiến công hạng 3, chiến sĩ thi đua cấp toàn quốc. Trong thời kháng chiến chống Mỹ bếp Hoàng Cầm được xem là bắt buộc trong hành quân tác chiến trên các chiến trường.
Hoàng Cầm giải ngũ năm 1961 khi đó đang đeo lon Đại úy. Ông cùng vợ về quê ngoại ông là Làng Đồi Mây, Tam Đảo làm ruộng. Sau có thời gian ông đi bán kem que rồi làm người giữ đền Trần ở Nam Định. Năm 1994 ông có làm đơn và được nhà nước cấp cho căn nhà tập thể ở số 28 Điện Biên Phủ, Hà Nội. Ông mất năm tháng 3 năm 1996 một cách bình lặng.
Bếp Hoàng Cầm ra đời hơn nửa thế kỷ những những biến tướng của nó hiện nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi ở các vùng nông thôn Việt Nam vì đặc tính tiết kiệm và tiện lợi của nó. Bếp Hoàng Cầm có 3 đặc điểm nổi bật:
1) Tiết kiệm nhiệt –-> Nấu ăn nhanh và tiết kiệm củi lại có thể nấu nhiều nồi cùng lúc.
2) Giấu được ánh lửa.
3) Giấu khói. (mục đích ban đầu, quan trọng nhất của bếp Hoàng Cầm
4) Giữ cho nồi niêu không bị ám khói hoặc đóng lọ nồi.
imagesĐể làm được bếp Hoàng Cầm đúng quy cách chúng ta phải đào hầm khá sâu, và dài tùy theo địa hình địa thế (xem hình). Sau đó phải đắp các hố đun (nơi đặt nồi), đào các hầm tụ khói và đường dẫn khói. Trên các đường dẫn khói phải lấy lá cây tươi (bẹ chuối) lấp lên, phủ đất rồi tưới nước cho đất ẩm để làm tan khói. Khói sau khi ra khỏi đường dẫn khói thực tế chỉ còn lại một lớp sương rất mỏng và tự tan trong không khí. Việc khó nhất của bếp Hoàng Cầm là phải cân bằng giữa lượng khí cấp vào bếp và lượng khói thoát ra, nếu kích thước các hầm tụ khói và đường dẫn khói quá hẹp hoặc quá ít bếp sẽ không cháy. Kinh nghiệm đóng vai trò rất quan trọng.
Cách đây vài năm tôi có đào thử một bếp Hoàng Cầm với quy mô nhỏ hiệu quả sử dụng rất tốt hoàn toàn không có khói tỏa ra, nấu ăn rất nhanh. Khi dọn trại ta chỉ việc lấp đất lại là xong rất sạch và gọn.
Trong thực tế nếu đi trại với quy mô lớn và thời gian dài chúng ta nên làm bếp Hoàng Cầm rất tiện lợi cho ban ẩm thực vì nấu ăn nhanh lại không phải cọ rửa nồi sau khi nấu nướng. Ngược lại nếu thiếu dụng cụ (cuốc xẻng chuyên dụng), nhân lực thì không lên đào bếp Hoàng Cầm rất lãng phí.
Khi đào bếp cũng nên tránh gần các gò mối, ụ kiến, ong đất vì việc hun khói khiến chúng túa ra rất nguy hiểm. Đất cũng ảnh hưởng ít nhiều đến bếp, đất pha cát sẽ dễ cho việc đào nhưng cũng khó đắp vì khi khô chúng rất bở; đất sét đất thịt là tốt nhất cho việc đào bếp Hoàng Cầm.
Minh Triết.



Có một Hoàng Cầm

Có một sáng kiến đã theo hàng triệu người lính ra trận suốt những năm chống Pháp, chống Mỹ. Nó trở nên nổi tiếng và thân thuộc với tất cả các đơn vị quân đội. Đó là sáng kiến bếp Hoàng Cầm.
Cái bếp mang tên người “sinh” ra nó là một anh bộ đội tên là Hoàng Cầm, quê ở tỉnh Nam Định, nguyên chiến sỹ nuôi quân sư đoàn 308, đại đoàn quân tiên phong. Cái bếp kỳ diệu ấy đã cùng các đơn vị bộ đội tham gia chiến dịch biên giới, Hòa Bình, Điện Biên Phủ và sau đó tiếp tục cùng các đơn vị thời chống Mỹ xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Bếp Hoàng Cầm là một yếu tố tạo nên sự bất ngờ, bí mật cho bộ đội chiến thắng và biết bao người lính nhờ nó mà không phải đổ máu, hy sinh. Thời gian và năm tháng qua đi, nhiều người đã quên tên anh bộ đội Hoàng Cầm mà chỉ còn nhớ tên cái bếp Hoàng Cầm của anh. Cái bếp đã ăn sâu vào tiềm thức của bao người.
Cùng thời, có một vị tướng cũng tên là Hoàng Cầm. Vị tướng Hoàng Cầm khá nổi tiếng bởi những chiến công oanh liệt của ông đóng góp cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Nhiều người lầm tưởng, họ cứ nghĩ anh bộ đội tên là Hoàng Cầm, người có sáng kiến đặc biệt chế tạo ra cái bếp Hoàng Cầm thời chống Pháp đã lên cấp tướng. Họ mừng và cho rằng ông rất xứng đáng. Bởi sáng tạo ra cái bếp có tầm chiến thuật kỳ diệu và hiệu quả, phải là bộ óc của một ông tướng hoặc là bộ óc của một con người tài hoa, tâm huyết và hết mình vì đồng đội. Và cho đến hôm  nay, trong tâm khảm của không ít người vẫn ảo tưởng tác giả bếp Hoàng Cầm là vị tướng Hoàng Cầm. Đâu phải như thế. Ông Hoàng Cầm, tác giả bếp Hoàng Cầm, một anh bộ đội bình thường về làng phục viên như bao anh bộ đội khác. Ông đã trải qua một chặng đường đời, có những ngày vinh quang và có cả những năm tháng dài gian nan, nghiệt ngã. Dẫu ở hoàn cảnh nào ông cũng luôn luôn nỗ lực vượt lên. Luôn luôn giữ gìn phẩm chất mực thước của anh bộ đội cụ Hồ.
*
Hoàng Cầm sinh ra và lớn lên ở làng Cát Nội, xã Trực Đại, tỉnh Nam Định. Sau gia đình chuyển lên sinh sống tại làng Đồi Mây, nay là thị trấn Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc. Tháng 2 năm 1946, anh thanh niên Hoàng Cầm tình nguyện lên đường vào bộ đội chống Pháp. Trước khi vào quân ngũ, Hoàng Cầm có gần một năm đi làm thuê (làm đầu bếp) cho một gia đình ở Hà Nội. Có lẽ vì thế Hoàng Cầm được cử làm chiến sỹ nuôi quân thuộc đơn vị quân y tiền phương sư đoàn 308. Là anh nuôi, Hoàng Cầm luôn tận tâm, tận lực với công việc nấu ăn phục vụ bộ đội nhiều chiến dịch. Qua chiến dịch Hoàng Hoa Thám và chiến dịch Hòa Bình năm 1952, Hoàng Cầm nhận ra chiến tranh ngày càng khốc liệt. Bộ đội ta chiến đấu, hy sinh không chỉ ở mặt trận giáp mặt quân thù mà hy sinh, thương vong ngay cả khi về hậu cứ nghỉ ngơi, sinh hoạt. Nguyên nhân của việc mất mát ấy có một phần do việc nấu ăn. Khói lửa từ những cái bếp nuôi quân bốc lên, máy bay địch phát hiện đã trút bom đạn xuống. Tổ anh nuôi của Hoàng Cầm và nhiều đơn vị khác phòng tránh bằng cách chuyển sang nấu ăn ban đêm, khi máy bay địch tới thì dập lửa, dội  nước, nhưng nhiều khi vẫn không tránh kịp tai họa. Đang đun, dập lửa, cơm thường bị khê, sống. Nấu ăn ban đêm, ban ngày cơm nguội lạnh. Bộ đội ăn cơm sống, khê, nguội lạnh, không đảm bảo sức khoẻ. Hoàng Cầm nhớ một lần đồng chí thủ trưởng đơn vị nhắc tổ nuôi quân:
- Các đồng chí cố gắng xem có cách nào khắc phục cái bếp. Để anh em thương vong chết chóc ở ngay nơi đóng quân và ăn uống khổ cực là mình có tội với nhân dân, với bộ đội đấy.
Đúng! Để bộ đội chết vì nấu ăn là mình có tội. Hoàng Cầm trăn trở ngày đêm suy nghĩ. Có buổi anh ngồi hàng giờ đồng hồ dưới tán cây rừng quan sát anh em nhóm bếp và đăm đăm nhìn ngọn lửa, nhìn làn khói xanh cuồn cuộn bay lên.
Trong bản tự thuật quá trình mày mò, sáng chế kiểu bếp mới, Hoàng Cầm kể: “Một đêm nằm nghĩ miên man, tôi chợt nhớ đến cách nấu cám lợn ở vùng Nam Định quê tôi. Hồi đó bếp thường đắp bằng đất sét kín chung quanh chỉ để một lỗ thoát hơi phía sau, nên lửa cháy tập trung ít bốc ra ngoài. Nhưng làm thế nào để bếp đun không có khói? Suy nghĩ mãi đến hơn nửa tháng sau tôi mới nghĩ ra cảnh mình từng đi hun chuột ngoài đồng. Đào cửa hang sâu xuống, chất rạ đốt, hầu như khói hút cả vào trong hang. Tôi mừng quá, nếu áp dụng để cải tiến thành bếp nuôi quân kiểu mới sẽ hạn chế được khói và lửa bốc cao”.
Từ cơ sở đó, Hoàng Cầm miệt mài nghiên cứu, vẽ sơ đồ một số kiểu bếp. Ngày ngày anh tranh thủ trưa, tối, có khi cả buổi vác xẻng, đeo xoong nồi, trốn vào rừng đào bếp thử nghiệm. Không biết có thành công hay thất bại, nhưng sợ anh em tốn sức, vất vả, anh dấu kín mọi người. Anh đào hàng chục cái bếp khác nhau, có nhiều nhánh dẫn khói như hang chuột. Làm xong anh đặt nồi lên từng cái bếp chất củi đun thử. Kết quả tạm được, nhưng lửa vẫn lộ, khói ra vẫn phảng phất bay lên. Lại hì hục đào hàng chục cái bếp khác nữa. Lần này Hoàng Cầm đào các đường dẫn khói chẽ ra nhiều nhánh và dài gấp đôi. Trên rãnh dẫn khói rải cành cây rồi đổ đất san phẳng. Phía trước cửa bếp đào một hố sâu, trên lợp nilon hoặc lá vừa để đồ, vừa che ánh lửa và có hầm chứa khói, hút lửa mạnh hơn.
Trong bản tự thuật, Hoàng Cầm viết: “Lần này bếp có nhiều ưu điểm, đã dấu kín được ánh lửa, nhưng khói trên ống dẫn vẫn lảng bảng bay lên ngọn cây. Nghĩ mãi, tôi chợt nhớ ngày ở quê, chiều chiều nấu cơm, gặp trời mưa, khói chui qua mái gianh ướt, bốc lên nhè nhẹ như sương mù. Tìm ra rồi, sướng quá, tôi lật hết cành cây khô lát trên đường ống dẫn rồi dùng cây chuối rừng chẻ ra lát lên trên, phủ đất san phẳng và dùng nước tưới đều lên rãnh dẫn khói. Quả nhiên khi đun khói cứ là là tỏa đều mặt đất, không bốc lên cao nữa...”
Ông Đỗ Văn Cường, cùng đơn vị Hoàng Cầm cho biết: “Anh em chúng tôi ân hận mãi về chuyện anh Cầm trốn đi làm bếp. Ngày đó có mấy cô gái trong bản gần nơi đóng quân thường lui thới nhặt rau, đánh rửa xoong nồi giúp anh nuôi. Anh Hoàng Cầm có quen một cô. Các  buổi trưa, buổi tối thấy anh thường xuyên vắng đơn vị, anh em cho là anh Cầm dụ cô gái vào rừng tán tỉnh. Đang định kiểm điểm tội vô kỷ luật của anh thì có một chiến sỹ tinh nghịch đã bám theo để “rình” anh. Chỉ thấy một mình Hoàng Cầm mình trần dưới tán cây rừng, hì hục đào đất, mồ hôi ướt đìa. Thì ra anh trốn vào rừng đào bếp thử nghiệm chứ không phải đi tán gái”.
Cái bếp do Hoàng Cầm sáng tạo rất phù hợp với bộ đội thời chiến, kín lửa, khói không bốc cao, anh nuôi nấu ăn cả ngày, cả tối, không sợ máy bay địch phát hiện. Bộ đội có cơm nóng, canh ngọt. Mỗi khi ém sát địch, anh nuôi vẫn nổi lửa đêm ngày.
Tháng 10 năm 1952, đơn vị quyết định, cái bếp được mang tên người chiến sỹ đã sáng tạo ra nó: Bếp Hoàng Cầm. Anh chiến sỹ nuôi quân Hoàng Cầm được tặng thưởng huân chương chiến công hạng 3. Và năm đó Hoàng Cầm được suy tôn là chiến sỹ thi đua toàn quốc. Bếp Hoàng Cầm được phổ biến, áp dụng trong toàn quân.
Từ đó cái bếp theo bộ đội hết chiến dịch này đến chiến dịch khác. Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, bếp Hoàng Cầm tiếp tục là bạn đồng hành của bộ đội nuôi quân suốt những năm chống Mỹ. Và nó đã đi vào lời bài hát làm cả triệu anh bộ đội xao xuyến khôn nguôi: “Nổi lửa lên em, đánh Mỹ đêm ngày... Đôi quang gánh nặng tình yêu đất nước. Hơi bếp Hoàng Cầm sưởi ấm khắp nơi nơi...”.
*
*          *
Trong con người ông Hoàng Cầm, người ta bảo có đến hai con người. Một Hoàng Cầm được tôn vinh, được  ngưỡng mộ bởi chiến công sáng tạo độc đáo của ông. Một Hoàng Cầm bươn trải trong cuộc sống đời thường, chuân chuyên và cơ cực. Nếu chỉ một chiều ca ngợi chiến tích của ông thì quả là còn thiếu trách nhiệm. Bởi nghị lực vươn lên trong sự chuân chuyên đời thường, nhiều lúc xót xa, nhưng chính nó lại tôn vinh phẩm chất cao đẹp trong con người Hoàng Cầm.
Sau 16 năm gắn bó với đơn vị, hiến dâng cái bếp Hoàng Cầm kỳ diệu cho quân đội, năm 1961, anh bộ đội Hoàng Cầm cấp bậc đại úy về làng phục viên.
Làng Đồi Mây, Tam Đảo quê hương thứ 2, cũng chính là quê ngoại của Hoàng Cầm. Về quê, ngày ngày vợ chồng ông lên đồi phát cỏ, cuốc đất trồng chè, trồng sắn. Đất ở đây đá sỏi, bạc màu, làm lụng vất vả cuộc sống dân làng và gia đình ông quanh năm vẫn nghèo đói. Làm ruộng không đủ nuôi gia đình, nhưng cái đói không trói nổi ông, ngay trong những năm sáu mươi, Hoàng Cầm đã xoay xở tìm cách làm kinh tế để tự cứu mình và cứu dân làng. Ông chuyển sang làm que kem và tổ chức cho bà con trong làng làm que kem bán cho các nhà hàng ở Hà Nội và Vĩnh Yên để kiếm sống.
Bán que kem, ngày ngày phải lang thang khắp đây cùng đó tìm nơi tiêu thụ thật vất vả. Nhớ một lần, Hoàng Cầm bảo thật không ngờ. Hôm ấy ông về Hà Nội bán que kem cho cửa hàng Thủy Tạ, tình cờ gặp người bạn gái là Trần Thị Lan chiến sỹ thông tin của đại đoàn 308 cũ. Lan cùng đi dự đại hội chiến sỹ thi đua toàn quốc với Hoàng Cầm cuối năm 1952. Ngày đó Lan rất ngưỡng mộ Hoàng Cầm, ngưỡng mộ tài năng của người làm ra cái bếp Hoàng Cầm, cái bếp được toàn quân khâm phục. Rồi Lan đem lòng yêu thương Hoàng Cầm. Lan xinh đẹp, lại có ý chí phấn đấu, nói năng hiền dịu, Hoàng Cầm cũng rất cảm tình. Nhưng vì đã có người yêu ở quê Nam Định rồi, Hoàng Cầm và Lan đành phải xa nhau. Không được làm bạn đời với Hoàng Cầm, Lan vẫn yêu mến, ngưỡng mộ, và luôn cầu mong cho Hoàng Cầm tiến bộ. Bẵng đi thời gian khá lâu, Hoàng Cầm và Lan đều đã lập gia đình. Hai người không còn điều kiện biết về tin tức của nhau. Khi nghe nói có một ông Hoàng Cầm được phong quân hàm cấp tướng, Lan mừng lắm. Lan cứ nghĩ đó là Hoàng Cầm ngày xưa Lan đã yêu. Lan cho rằng người có công như Hoàng Cầm được phong tướng là xứng đáng lắm. Ai ngờ hôm gặp nhau, lúc đầu Lan không tin ở mắt mình. Hoàng Cầm, Lan gặp không phải một ông tướng bệ vệ, oai phong mà là một ông Hoàng Cầm gầy nhom, vai đeo thùng kem, tay dắt chiếc xe đạp cà tàng vừa đi vừa “que kem đây”.
Ba năm bán que kem vất vả, thu nhập thất thường và rất thấp, Hoàng Cầm lại chuyển sang mở xưởng nấu nước chấm (nước mari) và làm miến đao, thu hút lao động trong làng vào cùng làm. Làm nước chấm và miến thu nhập tạm ổn, cuộc sống gia đình ông và dân làng đã vượt qua những ngày đói kém.
Vợ ông đau yếu luôn, nên tất tật công việc nặng nhọc đều đổ vào đầu ông. Phải cố sức làm quần quật ông mới nuôi nổi năm miệng ăn. Người con trai duy nhất của vợ chồng ông là Hoàng Thư đã khôn lớn. Những tưởng Thư sẽ gánh vác công việc nặng nhọc để bố đỡ vất vả. Nhưng năm đó, cuộc chống Mỹ đang khốc liệt, ông Hoàng Cầm đã động viên Thư lên đường giết giặc. Trước ngày nhập ngũ, ông căn dặn Thư:
- Con cứ yên tâm đi, bố tuy sức yếu rồi nhưng vẫn cố gắng làm lụng để nuôi mẹ và các em con được. Chiến trường đánh Mỹ chắc chắn sẽ ác liệt hơn thời bố đánh Pháp. Con cần phải cố gắng nhiều.
Tháng 4 năm 1963 Hoàng Thư vào bộ đội, thuộc đơn vị C150 - Bộ Tư lệnh B3 và chiến đấu “một lèo” tới năm 1975, năm giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Con trai ra đi, ở nhà vật lộn với cuộc sống giữa vùng quê Vĩnh Phúc nghèo đói của thời kỳ bao cấp, thật gian nan. Tuổi cao, ngày càng yếu, Hoàng Cầm không còn đủ sức đi bán kem que, làm xì dầu, miến đao nữa. Ông tìm lên một ngôi đền trên núi Tam Đảo phục vụ đèn nhang, hương khói, quét dọnvà trông coi đền. Ngôi đền đó thờ Đức Thánh Trần.
Gặp những người dân sinh sống qnah đền họ kể: ngày ngày ông dạy từ tinh mơ, quét dọn, nhặt cỏ, tưới cây, lau bệ Phật, sắp hương, nến để người thập phương lên thăm quan, nhang khói Đức Thánh. Không phải nhà sư tu hành chính quả, nhưng cái tâm của ông với ngôi đền, với dân làng khiến nhiều người lui tới đều kính nể. Họ gọi ông với những cái tên thân thuộc: Hoàng Cầm giữ đền, ông từ Cầm...
Ông Nguyễn Đức Chiểu người bạn cùng đơn vị với Hoàng Cầm, hiện ở cạnh nhà ông Cầm kể lại:
- Tôi với ông Hoàng Cầm trước ngày cùng ở tiểu đội nuôi quân của sư đoàn 308. Hồi đó ông Cầm nghĩ ra cái bếp không có khói, cả đơn vị chúng tôi mừng lắm. Đến khi về phục viên, ông lên coi đền Đức Thánh Trần. Ngôi đền ở gần nhà tôi và nhà ông. Tư rằm, mùng một tôi thường lên đền thăm ông. Liên tưởng tới ngày ông Cầm còn ở đơn vị với tôi, ông phụ trách bếp nuôi quân, ông luôn phải ghìm khói. Bây giờ thắp hương, ông để mặc cho khói bay lên. Nhìn ông, lắm lúc tôi cứ bấm bụng mà cười.
Ông Chiểu cười rồi nói tiếp:
- Một lần đơn vị 308 hành quân qua chân núi Tam Đảo. Lúc dừng nghỉ, được tin người chiến sỹ Hoàng Cầm của đơn vị 308 năm xưa, người làm ra cái bếp Hoàng Cầm vĩ đại, đang coi đền Đức Thánh Trần trên núi. Thế là anh thủ trưởng đơn vị đích thân lên đền thắp hương và đón ông Hoàng Cầm về đơn vị cũ chơi 3 ngày. Tôi là người cùng tiểu đội với ông Hoàng Cầm nên cũng được đón đi cùng với ông.
Chị Hoàng Thị Định, con gái ông Hoàng Cầm hiện ở thị trấn Tam Đảo kể với chúng tôi một chuyện rất cảm động: “Một hôm tôi lên đền giúp đỡ bố. Gần trưa có đoàn cán bộ từ Hà Nội lên Tam Đảo tham quan và vào thắp hương Đức Thánh Trần. Có ông cán bộ ăn mặc chỉnh tề, đầu đội mũ phớt, đeo kính trắng, sau khi thắp hương, quay ra cứ chằm chằm nhìn bố tôi. Lúc đó bố tôi đang mải quét lá khô dưới gốc cây đại. Ông cán bộ bỗng kêu lên:
- Anh Cầm hả?
Ông cán bộ tháo kính ra, cái chổi trên tay bố tôi rơi xuống đất, hai người ôm chặt lấy nhau.
- Sao anh lại ở đây, anh Cầm?
Rồi ông quay ra giới thiệu với những người cùng đi:
- Đây là anh Hoàng Cầm, bạn cùng đơn vị với tôi, người chế tạo ra cái bếp Hoàng Cầm nổi tiếng thời chống Pháp đấy.
Mọi  người vây quanh, hình như họ đều đã từng nghe tiếng cái bếp Hoàng Cầm của bố tôi. Có người đi bộ đội từng nấu ăn bằng bếp Hoàng Cầm. Được thấy tác giả chế tạo ra cái bếp nổi tiếng, họ chăm chú nhìn bố tôi vẻ thán phục.
Ông cán bộ buông bố tôi ra hỏi:
- Anh ở đền này lâu chưa?
- Hơn chục năm rồi. Bố tôi nói. Ông ta tròn mắt:
- Sao anh không chuyển ngành hay đi làm một nghề gì đó mà lại ở chùa?
- Tôi đã làm nhiều nghề rồi. Giờ đây sức yếu, ở đền cái tâm mình nó tĩnh tại, tôi thấy khỏe ra.
Ông cán bộ nói:
- Anh hay thạt, người ta mong có thành tích xuất sắc để được “làm quan” có tiền, có chức, anh lại vào chùa để được hưởng tĩnh tâm.
Ông nói tiếp vẻ nhiệt tình:
- Không. Người vĩ đại như anh, người “đẻ” ra cái bếp Hoàng Cầm cho anh nuôi toàn quân không thể đi quét chùa. Về Hà Nội, tôi sẽ báo cấp trên đề bạt để anh đi làm cán bộ.
Bố tôi lắc đầu:
- Cảm ơn anh. Ước nguyện của tôi giờ chỉ mong mình sống khỏe mạnh. Làm được việc gì có ích cho dân, cho nước thì tôi làm.
Bố tôi bảo, ông bạn gặp bố tôi hôm đó là cán bộ cấp Vụ trưởng. Về sau không thấy ông ta liên lạc lại, tôi nói hay ông ấy quên bố. Bố tôi bảo, ông ấy làm lãnh đạo công việc bận mải, chứ ông không quên đâu. Vì ngày ở đơn vị hai người rất thân nhau mà”.
*
*          *
Mười lăm năm hương khói trên cõi “niết bàn”, tuổi cao, đau yếu luôn, ông Hoàng Cầm không còn đủ sức coi đền Đức Thánh Trần núi Tam Đảo nữa. Lộc Thánh và sự giúp đỡ của địa phương cũng không cưu mang nổi ông lúc cuối đời. Ông về Hà Nội nương nhờ người con trai Hoàng Thư. Sau hơn 10 năm chiến đấu ở chiến trường B3, Thư về, học sư phạm rồi làm giáo viên trường PTTH Phan Đình Phùng, Hà Nội. Đồng lương giáo viên ít ỏi, phải nuôi vợ không việc làm, nuôi con nhỏ và người bố già bệnh tật, hoàn cảnh gia đình Hoàng Thư thật khốn khó. Thương con, ông Hoàng Cầm không muốn mình thành gánh nặng cho con. Nhưng chẳng còn cách nào. Cuộc sống kéo dài ngày một chồng chất khó khăn. Ông đành viết một lá đơn đề nghị cấp trên cứu giúp. Vốn là người chỉ biết tự lực vượt khó, không bao giờ đòi hỏi kêu ca. Viết xong, ông ngần ngại rồi xé đi.
Một người bạn khuyên: “Cái chất trong con người ông là chất Hoàng Cầm. Nhưng Hoàng Cầm cũng là con người. Mình hoạn nạn, mình kêu, đấy mới là con người”. Nghe lời bạn, cộng với gia cảnh bức thúc quá, lá đơn thứ 2 đề ngày 15/3/1994 có đoạn ông Hoàng Cầm trình bày:
“... Cả gia đình tôi 4 bố con, ông cháu ở nhà một “mái vẩy” 9m2 của trường PTTH Phan Đình Phùng cho mượn. Tôi không biết nằm dọc, nằm nghiêng, ngửa thế nào cho tiện. Các cháu học sinh của con tôi, bạn bè, đồng đội đến thăm khi đau yếu, thật ái ngại, xin ngồi xuống đất. Lúc ốm chìa tay bấu đồng lương ít ỏi của con để mua thuốc, thật không đành. Cực chẳng đã, có lần tôi chống gậy đến một bệnhviện khám bệnh và xin thuốc. Một nhân viên phòng khám bảo: Bác phải có sổ, có giấy tờ, chế độ mới được khám cấp thuốc. Tôi trình bày, tôi là Hoàng Cầm, bộ đội phục viên ở với con nên không có giấy tờ gì. Họ nói: Một Hoàng Cầm chứ mười Hoàng Cầm cũng vậy thôi. Tôi viết lá đơn này đề nghị cấp trên xét cấp cho tôi một cái sổ khám bệnh, một tiêu chuẩn nhà đất như hàng vạn người khó khăn khác để ổn định sức khoẻ đoạn đời còn lại. Năm nay tôi đã 81 tuổi. Để khỏi có lúc chợt nghĩ “nếu có mệnh hệ nào” tôi không muốn nằm tại 9m2 nhà đi mượn cho con cháu khỏi phiền lòng...”.
Nỗi lòng ấy âu cũng là cái chất rất con người trong Hoàng Cầm. Và chính nó đã làm nên một Hoàng Cầm chân thật, đáng thương và cao thượng, làm rung động trái tim của không ít người. Lời thỉnh cầu của ông đã được những người làm chính sách hết lòng giúp đỡ.
Gặp thiếu tướng Nguyễn Thế Kỷ, nguyên Cục trưởng Cục quản lý hành chính Bộ Tổng tham mưu, hiện ở phường 2, Quận Tân Bình, tp. Hồ Chí Minh. Ông cho biết:
- Nhận được đơn và ý kiến của cấp trên, chỉ trong một tuần lễ, chúng tôi đã lo chu tất cho ông Hoàng Cầm. Đã giải quyết cho ông một căn nhà 43m2 ở khu tập thể 28 Điện Biên Phủ, Hà Nội, một quyển sổ khám chữa bệnh tại bệnh viện quân đội và tạo việc làm cho người con dâu của ông là chị Minh, vợ anh Hoàng Thư vào giữ trẻ tại cơ quan.
Ông  Hoàng Cầm hưởng cuộc sống đầm ấm trong căn nhà mới được gần 3 năm thì đi theo tiên tổ. Ra đi, ông để đời một công trình vô giá.
Dẫu mai này, có thể người ta lại quên cái tên người chiến sỹ nuôi quân Hoàng Cầm. Nhưng cái bếp Hoàng Cầm của ông. Cái bếp đã đi vào lịch sử hai cuộc kháng chiến vệ quốc của dân tộc, có thể sẽ trở thành cái bếp huyền thoại, truyền mãi đến muôn đời.
Nguồn: Báo Văn nghệ
Theo: Tanvien.net
*****
Ảnh bếp Hoàng Cầm trên Google

Hình ảnh Kon Tum, xưa & nay

Ảnh từ: Donghuongkontum:


Ảnh từ Google:

Phi trường Kontum 1970

Toà Giám mục









Sông Dakbla ngày xưa

Nhà dân
 Hình ảnh




26 Apr 1972, Kontum City, South Vietnam --- South Vietnamese soldiers man their weapons in a sandbag bunker built in the middle of the street in Kontum city. The Central Highlands town is being threatened by a large force of N orth Vietnamese troops.


Ảnh từ: Tourdulichtaynguyen:













Nhà sàn gỗ
Người phụ nữ Bana

Nhà rông làng Kon Rơvang

Nhà rông Kon Klor

Cầu treo Kon Klor








Tòa Giám mục Kon Tum

Tòa Giám mục có kiến trúc đẹp và mang một nét riêng, mặt trước vật liệu chủ yếu là gỗ.

Nhà thờ gỗ Kon Tum, được xây dựng từ năm 1913, vật liệu chủ yếu là gỗ, một công trình kiến trúc tuyệt đẹp giữa núi rừng Tây Nguyên.





Sông Đăkbla

Cầu Đăkbla

Nhà thờ Tân Hương

Gài độ