31/01/2011

Bài học về sự thành công của cuộc cách mạng ở Tunisia

Ngọc Trân, thông tín viên RFA
2011-01-29Người dân Tunisia đã thành công trong cuộc cách mạng lật đổ chế độ độc tài của tổng thống Ben Ali, cai trị đất nước Bắc Phi hơn 23 năm qua, bằng bàn tay sắt.
AFP photo
Bộ trưởng Ngoại giao Slim Amamou tuyên thệ nhậm chức với sự bất mãn cao độ của dân chúng hôm 18/1/2011.
Câu hỏi được đặt ra là, nguyên nhân nào gây ra sự sụp đổ của chế độ Ben Ali? Tổng thống Tunisia bị lật đổ, có phải do “diễn biến hòa bình” hay các “thế lực thù địch” tạo ra? Và đâu là nguyên nhân dẫn đến sự thành công của người dân Tunisia? Mời quý vị cùng Thông tín viên Ngọc Trân tìm hiểu.

Chống khủng bố, nhưng trở thành khủng bố

Cựu tổng thống Ben Ali đã cai trị đất nước Tunisia kể từ năm 1987 bằng chế độ độc tài, thiếu tự do, dân chủ. Mặc dù ông Ben Ali và chính phủ của ông thường bị các tổ chức bảo vệ nhân quyền lên tiếng chỉ trích, thế nhưng bản thân cựu tổng thống Tunisia luôn nhận được sự ủng hộ của chính phủ Pháp, Mỹ và một số nước phương Tây.
Trả lời phỏng vấn báo “The Real News”, ông Shehata Samer, Phụ tá Giáo sư, nghiên cứu về chính trị Ả Rập, thuộc trường Đại học Georgetown, cho biết: “Ông ta rất gần gũi với Tổng thống Sarkozy. Ông ta đã có chuyến thăm chính thức Nhà Trắng dưới thời Tổng thống George W. Bush và cựu Ngoại trưởng Condoleezza Rice cũng đã đến thăm Tunisia hồi năm 2008.
Nhưng trên thực tế, người đàn ông này đã tra tấn những người dân. Ông ta không tham gia vào một cuộc tranh luận dân chủ với họ. Ông ta không cho họ cất tiếng nói.
Phóng viên báo chí  Kusai Kedri
Ông ta được xem là một đối tác quan trọng trong cuộc chiến chống khủng bố của Mỹ. Ông ta là người rất cởi mở, thân thiện với chính sách thị trường của Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Ông ta tin rằng Hồi giáo là kẻ thù và ông ta kềm kẹp đạo Hồi rất khốc liệt mà không chú ý gì đến vấn đề nhân quyền hay tiến trình dân chủ, kể từ khi ông ta lên nắm quyền cho đến bây giờ. Ông ta là một đồng minh lớn của phương Tây như: Pháp và châu Âu, cũng như Hoa Kỳ”.
Do chính sách chống các phần tử khủng bố Hồi giáo cực đoan, cùng với chính sách tăng trưởng kinh tế của ông Ben Ali, được Hoa Kỳ và phương Tây xem như là một mô hình kinh tế tuyệt vời, cho nên Ben Ali đã trở thành một đồng minh trung thành của Mỹ và các nước Tây phương. Thế nhưng, viện lý do chống khủng bố, ông Ben Ali đã thẳng tay đàn áp, khủng bố những người Hồi giáo vô tội khác, dẫn đến việc vi phạm nhân quyền trầm trọng.
Nhờ khéo che đậy, cho nên hầu hết phản đối của dân chúng Tunisia, liên quan đến các vấn đề vi phạm nhân quyền của chính quyền Ben Ali, cũng như các vấn đề chính trị và xã hội của đất nước, không nhận được sự chú ý từ chính phủ các nước bên ngoài.
colin-powell-ben-ali-250.jpg
Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Colin Powell và cựu Tổng thống Tunisia Ben Ali chụp năm 2004. Photo courtesy of Wikipedia.
Trả lời phỏng vấn đài truyền hình PressTV, ông Kusai Kedri, phóng viên báo chí Tunisia cho biết: “Cựu độc tài Ben Ali có mối quan hệ tốt với Pháp và Mỹ, bởi vì trong bối cảnh chính trị ở Pháp, ông ta là một nhà lãnh đạo Ả Rập có thể bảo vệ các nước Tây Âu từ hiểm họa Hồi giáo. Thực tế, ông ta là người kích động quần chúng chống lại những người Hồi giáo và các phong trào Hồi giáo ở Bắc Phi, trấn an phương Tây rằng ở Tunisia có một con tốt để xử lý và giải quyết các vấn đề theo ý của họ. Nhưng trên thực tế, người đàn ông này đã tra tấn những người dân. Ông ta không tham gia vào một cuộc tranh luận dân chủ với họ. Ông ta không cho họ cất tiếng nói. Cho nên người châu Âu, và đặc biệt là người Pháp bày tỏ thái độ rằng, họ không thực sự quan tâm nhiều về việc ông ta trừ khử những người đối lập gốc Hồi giáo như thế nào, hoặc sự quan tâm của các nước này chỉ đơn giản chú ý đến thực tế là các mối đe dọa Hồi giáo vẫn còn ở Bắc Phi”.
Do không bị Hoa Kỳ và các nước phương Tây chú ý đến vấn đề vi phạm nhân quyền, do chính sách cai trị độc tài, và nhất là do dưới thời Ben Ali, nền kinh tế Tunisia phát triển và ổn định so với các nước láng giềng, cho nên các cuộc biểu tình hay nổi dậy của người dân trên đất nước này, hiếm khi xảy ra.

Có áp bức, tất sẽ có đấu tranh

Cũng như Việt Nam, tuy nền kinh tế Tunisia ổn định và phát triển, thế nhưng đại đa số người dân Tunisia đều không được hưởng lợi từ sự tăng trưởng kinh tế, mà hầu hết của cải làm ra chỉ tập trung trong tay một nhóm thiểu số, đó là những người nắm quyền lực trong bộ máy chính phủ, trong khi đa số người dân Tunisia đều nghèo khổ và khốn cùng.
Cuộc sống nghèo khổ của người dân chỉ là một trong nhiều nguyên nhân dẫn đến sự nổi dậy ở Tunisia vừa qua. Một nguyên nhân sâu xa hơn nữa đã khiến chế độ Ben Ali sụp đổ, đó là sự đàn áp, khủng bố chính trị của chính quyền. Do cai trị người dân bằng chính sách độc tài, cho nên ông Ben Ali không chấp nhận đa đảng, không chấp nhận tự do bầu cử và tất cả các đảng phái đối lập ở Tunisia đều bị đặt ra ngoài vòng pháp luật.
Mặc dù cai trị người dân bằng chính sách độc tài, thế nhưng Ben Ali muốn chứng minh với dân chúng và thế giới rằng Tunisia có dân chủ, và ông là vị tổng thống do dân bầu ra. Cho nên, mặc dù tổ chức bầu cử, nhưng mọi cuộc bầu cử, Ben Ali đều thắng, và những chiến thắng này, không phải do sự tín nhiệm của người dân, mà do sự gian lận trong chính sách bầu cử của ông ta.
Tunisia gần như là một đất nước của cảnh sát. Không có kênh nào an toàn để người dân có thể bày tỏ sự thất vọng của mình. Bầu cử luôn là chuyện khôi hài.
Ông Shehata Samer
Ông Shehata Samer cho biết: “Tunisia được xem như một đất nước của cảnh sát, bên cạnh chế độ Saddam Hussein ở Iraq trước đây. Đạo Hồi chính thức bị cấm. Rất nhiều nhà lãnh đạo chính trị ở Tunisia phải sống lưu vong ở Paris và London.
Bầu cử là chuyện khôi hài. Ben Ali đã nhiều lần thay đổi hiến pháp, cho phép ông ta ra tranh cử tổng thống. Thực tế, người ta tin rằng ông ta chuẩn bị sửa đổi hiến pháp một lần nữa để loại bỏ giới hạn tuổi tác bởi vì ông ta hiện 74 tuổi, trong khi giới hạn tuổi tác của tổng thống trong hiến pháp là 75. Và như vậy, ông ta có thể ra tranh cử tổng thống một lần nữa vào nhiệm kỳ kế tiếp, năm 2014. Đây là một chính phủ độc tài toàn trị, không có tự do báo chí, không đảng phái chính trị nào tham gia”.
Để củng cố sự cai trị của mình, ông Ben Ali đã ngăn chặn tự do thông tin bằng một chế độ kiểm duyệt gắt gao tất cả các phương tiện truyền thông chính thống, cũng như các tin tức trên internet. Mọi phát biểu của người dân có nội dung phản đối chính quyền đều bị cấm và bị đàn áp, và kết quả là, người dân không còn nơi nào để bày tỏ sự bất bình đối với chính phủ. Ông Samer nói tiếp:
“Tunisia gần như là một đất nước của cảnh sát. Không có kênh nào an toàn để người dân có thể bày tỏ sự thất vọng của mình. Bầu cử luôn là chuyện khôi hài. Các đảng phái chính trị hợp pháp thực sự không còn tồn tại. Lãnh đạo các đảng phái đối lập đã phải sống lưu vong ở nước ngoài. Giống như các nước Ma-rốc, Jordan, Ai Cập, Tunisia là một chế độ toàn trị thuộc loại mềm dẻo. Họ là những kẻ du côn nắm quyền, họ cũng cho phép bầu cử nhưng ở mức độ gian lận khác nhau”.
tunisia-250.jpg
Một phụ nữ Tunisia đạp lên ảnh Tổng thống Zine El Abidine Ben Ali bị lật đổ tại Kasbah, Tunis. Ảnh chụp hôm 18/1/2011. AFP Photo/Fethi Belaid.
Ngoài chính sách cai trị cứng rắn, tình trạng tham nhũng, hối lộ ở Tunisia cũng tương tự như Việt Nam, đã trở thành quốc nạn, và chính sự bất công do nạn tham nhũng, hối lộ hoành hành đã trở thành một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự sụp đổ của chế độ Ben Ali.
Tham nhũng, hối lộ đã được bảo kê bởi gia đình cựu tổng thống và gia đình vợ ông ta, tạo điều kiện cho tệ nạn này phát triển, có mặt khắp mọi cấp chính quyền, từ trung ương đến địa phương, trong suốt thời gian Ben Ali nắm quyền 23 năm qua. Lực lượng cảnh sát không phải để giám sát việc thi hành luật pháp, mà là thành phần nhũng nhiễu, hạch sách người dân và là công cụ bảo vệ chính quyền của nhà lãnh đạo độc tài.
Ông Kusai Kedri cho biết: “Tham nhũng ở Tunisia là trường hợp đặc biệt và khác thường ở Bắc Phi và thế giới Ả Rập. Gia đình vợ của tổng thống có một kỷ lục nổi tiếng về sự lạm quyền để tham nhũng đất đai, cho nên về cơ bản, sự bất mãn ở Tunisia đã tồn tại trong một thời gian dài kể từ khi Ben Ali lên cầm quyền”.
Độc tài lãnh đạo, đàn áp chính trị, bóp nghẹt tự do, dân chủ cùng với nạn tham nhũng, hối lộ của chính quyền là những nguyên nhân chính, khiến người dân nổi dậy lật đổ chế độ độc tài của cựu tổng thống Ben Ali. Ngoài các nguyên nhân kể trên, những nguyên nhân nào đã giúp người dân thành công trong cuộc cách mạng này? Đó sẽ là nội dung của bài kế tiếp.

Hơn hai mươi ba năm qua, người dân Tunisia đã bị cai trị dưới chế độ độc tài hà khắc của cựu tổng thống Ben Ali.
AFP PHOTO/FETHI BELAID
Một phụ nữ Tunisia đạp lên ảnh Tổng thống Zine El Abidine Ben Ali bị lật đổ tại Kasbah, Tunis. Ảnh chụp hôm 18/1/2011.
Dân chúng ở đất nước Bắc Phi này đã phải chịu đựng bao nhiêu áp bức, bất công và đã đến lúc không còn chịu đựng được nữa, tất cả những người dân Tunisia cùng nhau xuống đường, cất lên tiếng nói phản đối chính phủ. Và chưa đầy một tháng, họ đã làm nên cuộc cách mạng, lật đổ chế độ độc tài của cựu Tổng thống Ben Ali. Ngọc Trân trình bày tiếp.

Cuộc cách mạng không có lãnh tụ

Đây là lần đâu tiên, một cuộc cách mạng ở đất nước Ả-Rập thành công mà không có bàn tay của quân đội, hay sự nhúng tay của một đất nước nào bên ngoài, mà tất cả đều do chính người dân Tunisia làm nên. Ông Muhammad al-Asi, lãnh tụ Hồi giáo thuộc Trung tâm Hồi giáo ở Washington D.C., cho biết: “Đây là lần đầu tiên, tôi lặp lại, đây là cuộc cách mạng đầu tiên ở 22 nước Ả-Rập, từ Iraq đến Moroco. Đây là lần đầu tiên người dân tự động xuống đường bày tỏ ý nguyện của họ để lật đổ một chính phủ độc tài”.
000_Par3722116-200.jpg
Hai nhân viên an ninh bảo vệ chính phủ lâm thời trước cung điện chính phủ ở Tunis hôm 18/1/2011. AFP photo
Không do quân đội trong nước hay sự ủng hộ của một chính phủ nước ngoài, mà cuộc cách mạng này cũng không có sự hiện diện của một lãnh tụ nào đứng ra lãnh đạo, bởi trong suốt giai đoạn cầm quyền, do chính sách độc tài, không một lực lượng đối lập nào ở Tunisia có cơ hội tồn tại hay phát triển.
Bất kỳ tiếng nói bất đồng hay ý kiến đối lập nào cũng đều bị dập tắt từ trong trứng nước, thế nhưng không vì thế mà người dân không dám đứng lên. Ông Seifeddine Ferjani, một nhà hoạt động nhân quyền, cho biết: “Sau 23 năm bị đàn áp, sau 23 năm hủy hoại nhân phẩm của những công dân Tunisia, sau 23 năm kiểm soát mọi lĩnh vực đời sống của người dân Tunisia về mặt xã hội, chính trị, kinh tế, cuối cùng người dân Tunisia đã nổi dậy.
Phải chăng đó là bối cảnh của một cuộc đảo chính hay có nên gọi là một cuộc đảo chính nội bộ hay không, tôi nghĩ rằng không thể gọi đây là một cuộc đảo chính, vì lý do đơn giản là quân đội không có đủ sức mạnh để thực hiện một cuộc đảo chính nếu như không có sự nổi dậy của đa số người dân. Vì vậy, vấn đề là ở chỗ, người dân của chúng tôi ở Tunisia đã nổi dậy, họ đã bị bắn, họ đã bị xịt hơi cay, họ đã bị đàn áp, và có tin tức về những trường hợp bị hãm hiếp xảy ra ở Kasserine. Cho đến nay, có khoảng hơn 200 người chết. Vì vậy, đây là một cuộc tổng nổi dậy, không phải là một cuộc đảo chính mang ý nghĩa bình thường”.
Đây là lần đầu tiên người dân tự động xuống đường bày tỏ ý nguyện của họ để lật đổ một chính phủ độc tài.
Ông Muhammad al-Asi
Người dân Tunisia bị đàn áp, bị khủng bố, bị nhũng nhiễu, cùng với nạn nghèo đói, thất nghiệp, lạm phát gia tăng, và nhất là tệ nạn tham nhũng, hối lộ hoành hành, là những nguyên nhân khiến cho sự bất mãn trong dân chúng đạt đến cực điểm. Và vụ tự thiêu hôm 17 tháng 1, của Mohamed Bouazizi, một thanh niên 26 tuổi, đã trở thành giọt nước cuối cùng làm tràn ly, thổi bùng ngọn lửa bất mãn trong dân chúng.
Các cuộc biểu tình ở Tunisia đã biến thành những cuộc nổi dậy của người dân. Và như chúng ta đã biết, sau những lần liên tục xuống đường của người dân Tunisia, chưa đầy một tháng, kể từ vụ tự thiêu của Mohamed Bouazizi, vào ngày 14 tháng 1, ông Ben Ali đã cùng gia đình trốn chạy khỏi Tunisia.
Nhiều người ngạc nhiên về sự thành công của cuộc cách mạng ở Tunisia bởi không có sự lãnh đạo của quân đội hay một lực lượng đối lập ở trong cũng như ngoài nước. Cô Selma Beji, người Tunisia, hiện đang học cao học ở một trường ĐH tại Mỹ, nói với đài CNN rằng, cô rất ngạc nhiên khi các cuộc biểu tình chủ yếu bắt đầu từ các nhóm thanh niên và mạng xã hội, có thể dẫn đến một cuộc nổi dậy, lật đổ tổng thống Tunisia cầm quyền suốt 23 năm.

Mạng xã hội đóng vai trò quan trọng

facebook-250.jpg
Nhiều thiết bị có thể kết nối Facebook. Photo courtesy of Facebook.
Cuộc cách mạng ở Tunisia thành công phải kể đến vai trò của các mạng xã hội như Twitter, Facebook và cả WikiLeaks. Facebook và Twitter đã kết nối những người Tunisia lại với nhau, thực hiện thành công các cuộc xuống đường lớn trên cả nước.
Ông Kusai Kedri cho biết: “Về cuộc cách mạng internet, các trang web đã đóng một vai trò quan trọng, là nền tảng giúp người dân Tunisia nhận ra rằng, có các kênh thông tin khác có thể vượt qua sự kiểm soát của chính phủ. Trong 23 năm qua, Ben Ali đã cố kềm kẹp người dân Tunisian bằng cách chuyển cho họ những thông tin sai lệch, như cho các đài TV mở nhạc suốt cả ngày. Đột nhiên, người dân nhận ra rằng họ có thể liên lạc với nhau. Họ có thể sử dụng Twitter, họ có thể sử dụng Facebook, họ có thể đăng tải những đoạn video lên YouTube.
Về cuộc cách mạng internet, các trang web đã đóng một vai trò quan trọng, là nền tảng giúp người dân Tunisia nhận ra rằng, có các kênh thông tin khác có thể vượt qua sự kiểm soát của chính phủ.
Ông Kusai Kedri
Và điều này đã giúp, như là virus lan truyền, cơ bản là làm cho người dân nhận ra rằng, thực tế ở thế giới bên ngoài có nhiều điều ngoài những điều mà chế độ này, chính phủ này muốn họ biết. Tất cả điều này đã giúp và sẽ giúp dân Tunisia làm cho thế giới biết về đời sống của họ và tôi hy vọng, hôm nay những công cụ này sẽ duy trì sự tự do mà họ đã chiến đấu để giành lấy”.
Đây không phải là lần đầu tiên các nhà báo tự do đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin và hình ảnh, cũng như cộng tác với các phương tiện truyền thông chính thống để đưa tin về các cuộc biểu tình. Năm 2009, sau cuộc bầu cử tổng thống ở Iran, các trang mạng xã hội đã trở thành một trong những phương tiện quan trọng, huy động hàng trăm hàng ngàn người Iran xuống đường, chống lại kết quả bầu cử bị cho là gian lận.

Đàn áp, nhưng không thể dập tắt tiếng nói

Trở lại vấn đề Tunisia, những ngày đầu khi người dân xuống đường, chính phủ Ben Ali đã thẳng tay đàn áp với những người biểu tình, ra lệnh cho cảnh sát tấn công đám đông, cho phép cảnh sát bắn vào bất cứ người biểu tình nào không nghe theo lệnh, đóng cửa các cơ quan truyền thông và các trang web. Các blogger cũng đã bị chính phủ tấn công vào tài khoản, lấy cắp mật mã, xóa thông tin, nhằm ngăn chặn những thông tin, hình ảnh về cuộc nổi dậy của người dân ở Tunisia đến với thế giới bên ngoài.
Ông Evan Hill, một nhà báo mạng cho biết: “Có một cuộc chiến tranh mạng diễn ra giữa chính phủ Tunisia và các nhà hoạt động. Tunisia luôn kiểm duyệt các trang web tin tức và các trang mạng như Facebook. Chính phủ cũng xóa các trang Facebook mà họ cho là ảnh hưởng đến chế độ. Rất nhiều người Tunisia nói rằng, có ai đó thường xuyên truy cập vào trang Facebook và các tài khoản Gmail, đánh cắp mật khẩu của họ. Và nếu như họ nhận được mật khẩu trở lại, hầu hết các thông tin của họ đã bị xóa.
Nhưng sức mạnh của internet, sức mạnh của truyền thông đã nhân lên, cho phép chúng tôi vươn tới số lượng quần chúng vô cùng lớn.
Phóng viên Ayman Mohyeldin
Twitter hiện không gặp những vấn đề trục trặc kỹ thuật tương tự như vậy. Có nhiều người dùng internet ở Tunisia đã sử dụng phương pháp trèo tường lửa, và họ có thể lén ra ngoài, thoát khỏi các công cụ giám sát của chính phủ và họ có thể truy cập vào các trang tin tức quan trọng để nhận thông tin”.
Các nguồn thông tin, dữ liệu được cung cấp từ các blogger trên Facebook, Twitter, và video trên YouTube đã hỗ trợ rất lớn trong cuộc cách mạng ở Tunisia và các nước Arab. Các trang mạng xã hội này không chỉ chia sẻ thông tin giữa những người dân Tunisia mà còn với thế giới bên ngoài. Hình ảnh những người biểu tình đã được những người Ả Rập, cũng như các nhà lãnh đạo chính trị trong và ngoài nước quan sát và theo dõi chặt chẽ.
Ông Marc Lynch, Giám đốc Viện Nghiên cứu Trung Đông, thuộc trường ĐH George Washington, cho biết: “Một bài học khác đó là, họ muốn làm bất cứ điều gì họ có thể, để cấm không cho các phương tiện truyền thông lên tiếng, để ngăn chặn việc đưa tin về các cuộc biểu tình, để các cuộc biểu tình không thể bắt đầu gia tăng ngoài tầm kiểm soát. Tôi nghĩ rằng các nhà lãnh đạo Ả Rập vô cùng lo sợ trước những gì họ đã thấy ở Tunisia, nhưng tôi muốn nghĩ rằng phản ứng của họ sẽ thay đổi theo hướng cởi mở hơn thay vì ngược lại”.
Hiệu quả của mạng xã hội. Photo courtesy of Wikipedia.
Hiệu quả của mạng xã hội. Photo courtesy of Wikipedia.
Mối liên hệ giữa các trang mạng xã hội và các phương tiện truyền thông chính thống cũng đóng vai trò quan trọng trong các cuộc biểu tình chống chế độ độc tài ở Tunisia và các nước Ả Rập. Ông Ayman Mohyeldin, phóng viên Đài Truyền hình Al Jazeera, cho biết:
“Những gì họ muốn chúng tôi làm là thực sự liên lạc với những người bạn khác, các thân nhân ở các thành phố khác bên trong Tunisia. Nhưng sức mạnh của internet, sức mạnh của truyền thông đã nhân lên, cho phép chúng tôi vươn tới số lượng quần chúng vô cùng lớn. Cuối cùng là, nó trở thành một công cụ kết nối cho phong trào này, một công cụ kết nối cho cả nước và có lẽ cho toàn bộ khu vực trong những năm tới”.
Cuộc cách mạng ở Tunisia thành công trong việc lật đổ chế độ độc tài, đã chứng minh với thế giới rằng, mọi chế độ độc tài, đi ngược lại nguyện vọng của đa số dân chúng, sẽ bị chấm dứt khi người dân bị dồn tới đường cùng. Một khi sự chịu đựng những bất công trong xã hội của dân chúng lên tới đỉnh điểm thì chắc chắn các nhà lãnh đạo độc tài sẽ phải ra đi.

--------------------------
Đăng bỡi: Tranhung09
*****

Chiện chó

An_hoang_trung_tuong: 

Chiện Chó [1]
Bọn Lừa hay đem giống chó ra bỉ bai nhau, với cái lối ám chỉ điếu gì mà phản trắc, bất nghĩa, đểu cáng.
Trung Tướng thì nghĩ bọn chó chúng nó điếu biên sách ốc bấu chí blog, chứ không chúng nó chưởi bọn Lừa rức óc. Phản trắc, bất nghĩa, đểu cáng.. là dững thú tính loài chó điếu có và điếu cần.
Loạt tùy bút nầy Trung Tướng kể tuyền chiện chó. Có thể không sạch nức xinh ngon, dưng chúng, dững cô chó cậu chó của Trung Tướng, chắc chắn, đẹp hơn lương tri dân phẩm của cái đám Trung Tướng đang kêu bằng Đồng Bào. Điếu gì biên hai chữ nầy ngượng quá đi.

Tết năm nao quên mẹ Chị Thọt được đồng nghiệp tặng một cậu chó lai Bắc Kinh.
Chị Thọt là hàng xóm Trung Tướng, sống một mình, cha mẹ mất cả, không chồng, không con nuôi, không con đẻ, anh em ruột dường như cũng chẳng còn.
Chị Thọt thuở bé bị bịnh sao ý, khiến chân trái ngắn hơn chân phải độ hai chục phân, nên dù chị rất đẹp, nghề ngỗng tử tế, vưỡn chả kiếm nủi thằng chồng què quặt. Bọn giai bưn bửn láng cháng thăm chị, khi rút lui thường bẩu, rầng chân thế làm sâu rửa bát, làm sâu quét nhà, làm sâu giặt áo. Địt mẹ, cứ như thể chức năng con vợ Lừa chỉ gồm mỗi giặt áo quét nhà rửa bát.
Cậu chó của Chị Thọt lai đời ép mấy chả rõ, to kềnh như mọi chó Lừa, lông ba mầu đen trắng đỏ chắp vá loạn bậy, mũi ướt mắt nhồi, biết ỉa đái đúng toa-lét, biết ngồi xổm hóng cơm, biết vẫy đuôi khi được nhắc, đại khái đẳng cấp hơn hẳn chó Lừa. Tên cậu là Thủy Thủ.
Chị Thọt yêu Thủy Thủ hơn ông pa Trung Tướng yêu anh em Trung Tướng, hơn bà ma thằng Hắc Lào yêu anh em nó, hơn mọi liền ông liền bà trên thế gian nầy yêu con cái mình. Trung Tướng nghĩ thế.
Sáng sáng Thủy Thủ đến Sở cùng Chị Thọt, trong rọ xe chị, quả rọ thửa riêng phố Hàng Thùng, có đệm da, có mui che, có khay nước.
Chiều chiều Thủy Thủ lại từ Sở về cùng Chị Thọt. Tót khỏi rọ xe, cậu kiễng chân cào cửa, mõm tru liến thoắng, ra điều, đến nhà mình rùi mẹ ơi đến nhà mình rùi. Chị Thọt vừa quát, yêm nào giai ngoan yêm nào mẹ mở hẵng, vừa hí húi lục chìa khóa. Dáng chị lệch vẹo, giọng chị âu yếm, giỏ đồ ăn vứt một bên. Hạnh phúc là thế chứ đéo gì.
Đi công tác, Chị Thọt mang Thủy Thủ gởi Trung Tướng. Lần nầu chị cũng đưa Trung Tướng vài trăm ngàn, nhét phong bao cẩn thận, là tiền ăn cho Thủy Thủ.
Chị thút thít dặn, Trung Tướng, thương chị, đừng bắt Thủy Thủ ăn cứt nha cậu. Tiêu chuẩn nó ngày năm ngàn, dưng cậu mua mươi mười hai ngàn gì cũng được, thiếu vay đâu dùm chị chị giả sau nhé.
Trung Tướng bẩu, giời ôi bà lắm chiện, chó nầu chả ăn cứt. Chó ăn cứt như bà uốn bê-ni-xi-lin ý. Kháng sinh đấy. Chó không ăn cứt dặt dẹo như con thằn lằn phát tởm.
Mắt Chị Thọt sưng mọng rất nhanh, xin cậu, Trung Tướng, cậu thương chị. Rùi chị xụt xùi nấc. Thân còng sang một bên.
Trung Tướng bẩu, nầu nầu em đùa đấy, ai dám tròng công tử nhà chị.
Ở với Trung Tướng, Thủy Thủ rất biết điều, ngày đi đứng khúm núm, đêm nằm yên không sủa bóng. Ngoan thế chứ.
Đùng phát, Thủy Thủ bị bắt trộm.


Chị Thọt về muộn, quăng xe đổ rầm, gục mặt ôm gối, khóc nức, hu hu hu hức hức hức giời ôi con tôi giời ôi hu hu hu, vô cùng sầu bi.
Lối xóm đáo xem rộn ràng, tin truyền vùn vụt, chị ý xẩy thai, eo ơi thọt chửa dễ xẩy bỏ mẹ, đéo phải chị ý nạo thai, eo ơi không chồng mà chửa nạo đúng mẹ.
Trung Tướng đang táo bón, nghe chộn rộn thì thót bụng bỏ ỉa, chạy qua.
Chị Thọt bíu quần Trung Tướng, Trung Tướng ơi Thủy Thủ chị mất rồi.
Trung Tướng quát, thế nầu thế nầu, bà làm gì hoắng cả lên, ai chết?
Chị Thọt hỉ mũi, hu hu hu, Thủy Thủ, thằng Thủy Thủ chị, bị nhà ta bắt mất rồi.
Trung Tướng bẩu, ôi giời, ai bắt, sâu bắt, bắt làm sâu?
Chị Thọt kể chị để Thủy Thủ ở văn phòng sang Bưu Điện gởi công văn, xích cậu vầu chân bàn hẳn hoi, quay lại mất tiêu, cả chó cả xích.
Trung Tướng bẩu, bọn phòng bà chơi bà chứ gì? Tại bà nâng chiều nó quá chứ gì?
Chị Thọt khóc, không, sếp bẩu đuổi đứa nầu trộm mà.
Trung Tướng quát, đèo mẹ thế chúng nó nhận cục cứt, ra quán rùi, thành rựa mận rùi. Đéo ai như bà tâu sếp bâu giờ, lý phải đàm phán giá rổ chứ, già mà ngu.
Chị Thọt nghỉ làm, khóc ti tỉ suốt ba ngày, gầy mọp.
Trung Tướng thương quá, mang Chị Thọt gói xôi lạp xường, bẩu, thôi ăn đi em loanh quanh Chợ Bưởi xem nó còn đấy không, dưng đéo hứa đâu đấy.
Chị Thọt vùng dậy luôn, chị đi mới, cho chị đi mới.
Trung Tướng bẩu, bà rên la tru tréo thế bọn con buôn nó chả bóp sặc tiết. Ở nhà!
Trung Tướng đoán mấy đồng chí bắt trộm Thủy Thủ nhẽ mang cậu bán cho bọn lái chó cảnh chợ giời lãi hơn bán cho bọn xẻ chó thịt quán nhậu, nên lượn khắp đặc khu chó mèo Chợ Bưởi Chợ Hôm, tìm cậu.
Trung Tướng khám đến chục quả chó Bắc Kinh, chịu không phát hiện nủi bạn nầu là Thủy Thủ. Bạn nầu cũng lai tứ chiếng, lông ba mầu, to kềnh, la liếm mừng rỡ. Gọi tên Thủy Thủ thì không dám vì sợ bọn lái buôn biết bắt chẹt.
Trung Tướng bẩu Chị Thọt, Thủy Thủ bà đúng thành rựa mận thật, tui thề. Thôi đi mua thằng khác, tui hỏi một đứa bốn trăm một đứa bốn trăm bẩy, xinh miễn khen luôn.
Chị Thọt khóc rống, Trung Tướng ơi mất Thủy Thủ chị sống làm sâu sống làm sâu.
Trung Tướng bẩu ơ cái bà nầy hay, hồi xưa không có nó bà sống làm sâu?
Trung Tướng thửa câu ý xong thì hoang mang lắm, bẩu, thôi nín bà ơi, mai đưa bà tìm quắn nữa.
Trung Tướng chở Chị Thọt tới Chợ Bưởi, dặn, bà thấy nó thì nháy phát, tui vầu làm giá, bà đứng ngoài, bà thò ra nó cứa chết ráng chịu.
Ngang quán Chó Mèo Chim Chuột Cá thằng Mặt Lồn, Chị Thọt giật áo Trung Tướng, bẩu, nó ở đây.
Trung Tướng bẩu ơ cái bà nầy hay, đã vầu đâu biết nó ở đây?
Chị Thọt xụt xịt, chị biết nó ở đây thật mà, đấy tiếng nó đấy, hu hu hu hức hức hức con ơi.
Ừa có tiếng chó khàn rống vọng từ trong quán, khéc khéc khéc, khéc khéc khéc, khéc khéc khéc.
Trung Tướng bẩu, bà nín ngay không hử, trông xe, tui xem.
Thằng Mặt Lồn đón Trung Tướng hồ hởi như mọi chủ quán chân chính. Nó bẩu, em giai chọn gì nầu, chó mèo cá chuột anh thức gì cũng chuẩn như triển lãm.
Trung Tướng bẩu, Phốc Ngóe đen ngực vàng, có không?
Thằng Mặt Lồn bẩu, chó Phốc giờ lai linh tinh, sâu em không mua Tây Ban Nha, Ai Rơ Len, Bu Lơ Đốc?
Trung Tướng bẩu, tui khoái Phốc Ngóe. Mà thằng nầu sủa khéc khéc khéc thảm thế?
Thằng Mặt Lồn bẩu, con đó giống Bắc Kinh, đẹp cực, em xem không?
Thằng Mặt Lồn dẫn Trung Tướng vầu gian sau, thì thấy Thủy Thủ mình một chuồng đang cào cấu, khéc khéc khéc, khéc khéc khéc, cơm canh văng vãi, hôi mù.
Trung Tướng bẩu, con nầy nhộn nhỉ, giá bâu nhiêu?
Thằng Mặt Lồn dòm dòm Trung Tướng, bẩu, đúng năm trăm rưởi, khỏi mặc cả.
Bỗng đâu oẳng một giọng liền bà, ra Con Mặt Lồn, vợ Thằng Mặt Lồn.
Con Mặt Lồn mắng chồng, ông hấp hơi, Bắc Kinh thuần chủng, năm trẹo rưởi em ơi.
Trung Tướng nghĩ thầm, lộ mẹ rùi, bà thọt phá đám rùi, bố bà hãm.
Trung Tướng bẩu Con Mặt Lồn, thuần cục cứt, Bắc Kinh pha Cổ Nhuế tám đời, bốn trăm.
Thủy Thủ chồm lên rít gió, Trung Tướng quay nhìn, y như rầng Chị Thọt đã đứng bên, khóc òa.
Đoạn nầy bi kịch bỏ mẹ, khéo phải nhờ bạn Giang Gi Miu bên Tầu dựng hộ quả phim rựa.
Chẳng cần kể chi bộ chắc cũng đoán được Chị Thọt phải nhả tròn năm trẹo cho vợ chồng Thằng Mặt Lồn.
Cảnh cuối đương nhiên là đoàn viên. Có hậu phết. Trừ mỗi Trung Tướng lộn ruột, con bà nó thằng củ lồn, quả chó bốn trăm quất phát năm trẹo, buôn ma túy cũng chỉ lãi cỡ đó là cùng thằng củ lồn.

Chiện Chó [2]

Chiện No2 Hồi 20 Lâu Rùi, vì một chút éole tàichính, Trung Tướng đảo dinhcơ về Xóm Liềm, quận Mới, rời downtown nhiều dặm.
Xóm Liềm tọa cạnh sông Liềm, ông sông nước đặc nhất Trung Tướng từng sờ ngửi ever, là kênh điềuhòa duynhất chuyên tải cứt và rác thươnghiệu Thủđô từ Phố Xưa ra Văn Điển (*). Nước ổng đặc như thể được chế bằng hắcín nguyênchất trộn thắngcố Simacai, thối tuyệtđối (**).
Khẩu Xóm Liềm toàn viênchức quốcdoanh hạlưu, tầm trưởng phó phòng cả đươngnhiệm cả hồihưu một tổngcôngty lìutìu không dầy mầumỡ, gốcgác quêmùa, những kỹsư cửnhân trìđộn caucó tọcmạch bủnxỉn mau mồm tốt bụng. Nhà Xóm Liềm toàn condo hộp diêm 45m2 ba tầng một tum chung tường áp mái. Ấmcúng và nhạtnhẽo. Đặctrưng Lừa.
Nhà Trung Tướng đeo số Bốn, dẫy Đê, hẻolánh phết.
Sát nách phải Trung Tướng là nhà thằng Mấu Bướm, số Năm.
Mấu Bướm già lắm, nhẽ đã 65-67, hoặc hơn. Vợ nó cũng 62-63, hoặc hơn. Con cháu Mấu Bướm không sống cùng hai đứa nó, langbạt miền vượn nào xa lắc, thithoảng mới đáo viếng dăm hôm.
Sát nách trái Trung Tướng là nhà thằng Phá Trán, số Ba.
Phá Trán trẻ hơn Mấu Bướm, nhẽ 40-42. Vợ nó đít to bành toácngoác. Con Phá Trán một giai nhớn một gái bé. Giai tên gì chả nhớ, sinhviên Trường Mở tóc cua quần thủng mặt cângcâng (***). Gái tên Trảng Đoàng, tuổi phátdục tintin, răng lợi gá niềng nong lủngcủng.
Trung Tướng không ưa xómláng. Bỏn cũng. Giaothiệp suốt ngày nhảmnhí: dạ bác cơm chưa ạ, ừa chú rỗi qua anh làm chân, vầng tối nay nóng kinh (****). Nhảm tuyệtđối.
Bữa nọ, nhà thằng Quái Mán đốidiện Trung Tướng bị đột vòm. Bọn trộm cắt mẹ cửa nó, dắt mẹ một con Rim Lùn với một quả loa Bose Siêu Trầm, trúng lúc Quái Mán nó chở vợ đi ăn cưới, giữa chạngvạng chiều (*****).
Xóm bànghoàng liền mấy tuần, rùi vợ thằng Mấu Bướm lên chợ Bưởi, xách về một ông chó.
Ông chó thằng Mấu Bướm là chó ta 100%, loại xơi cứt chuyênnghiệp, lông vàng cháy, bốn mắt, bốn huyềnđề, đã trưởngthành lộcngộc.
Mấu Bướm khoe, Trung Tướng, chó chú bốn mắt bốn huyềnđề, khôn dãman, phải nó trông nhà mới ổn.
Trung Tướng bẩu, nó tên gì, chú?
Mấu Bướm bẩu, chó ta cần gì tên.
Trung Tướng chắt lưỡi gọi, chặc chặc chặc, đúng kiểu gọi chó của bầnnông. Ông chó ngoáy đuôi chạy xunxoe. Trung Tướng cười bẩu, rồi, tên nó là Tặc Tặc.
Tặc Tặc được nết ít sủa đêm, nhưng mất dạy vôđối. Ổng toàn nhằm thềm Trung Tướng ỉa bậy đái bậy. Sáng lạnh xoắn dái bật cửa đi đong tiền, đã đụng chìnhình thỏi cứt dài đen thủi.
Trung Tướng gào, cô Mấu Bướm, con Tặc Tặc cô ỉa kín cửa cháu rồi.
Mấu Bướm tay dao tay chổi cuốngcuồng nói, Trung Tướng, chú xin lỗi, để chú hót, để chú hót.
Trung Tướng bẩu, cô chú phải nhốt nó toalét, chờ nó ỉa xong mới thả chứ.
Mấu Bướm vửa cạo cứt Tặc Tặc vửa phântrần, nó ỉa đái lúc nào chú biết đâu, chú xin lỗi, chú xin lỗi.
Trung Tướng bẩu, chú lau nước dùm cháu nhế, hôi lắm ạ.
Răn đe thế, nhưng khuya khậtkhưỡng về, Trung Tướng lại đụng ông cứt dài đen thủi.
***
Riết Trung Tướng quen thằng Phuồi.
Thằng Phuồi quê đâu mạn Thanh Hóa Ninh Bình, kéo cả giađình ra Thủđô hành nghề vớt chó, từ 199x.
Vai khoác cái bao dứa, nách kẹp chiếc móc sào, vợ chồng Phuồi xuôixuôi ngượcngược hai mé sông Liềm tám giờ một ngày, bảy ngày một tuần, bốn tuần một tháng, mười hai tháng một năm, cầncù như chuột chù.
Mỗi ngày không bể mánh, nhà Phuồi vớt ngon 2-3 xác ông chó chưa quá ươn, có ngày chơi tận 8 ông. Đó không phải xác chó rớt sông chết đuối, mà xác chó nuôi của dân Thủđô chết già chết bệnh, và được Thủy Táng hồnnhiên bằng cách quẳng mẹ xuống somewhere tiện đường, như sông Liềm.
Xác chó vớt về, Phuồi tuốt muối rửa kỹ, rùi phân loại 1-2-3 theo độ tươi độ béo, rùi tung vầu thịtrường.
Chó loại 1 Phuồi đưa tới trungtâm chó Nhật Tân, nơi hoạtđộng hăngsay 40 quán thịt chó Thủđô hảohạng. Giá chó Phuồi Nhật Tân quãng 15-20 ngàn Ông Cụ một cân kýlô, bằng 1/3 thịt lợn đùi bạcnhạc, bằng 1/4 thịt chó xịn Việt Trì. Hằng ngày Nhật Tân tiêuthụ năm trăm ông chó, độn vài ông Phuồi thế, ai thắcmắc chi?
Chó loại 2 Phuồi đưa tới các chợ cóc côngnhân, giá giao ngay 10-15 ngàn Ông Cụ, bằng 1/2 lợn Tai Xanh hoặc lợn Đóng Dấu, không tệ.
Chó loại 3 Phuồi hehe chén.

(*) Phố Xưa: Tức City's Ancient Quarter, một địadanh trìutượng của Thủđô Vănvật.
Văn Điển: Một khu thama kiêm thải rác ngoạiô Thủđô Vănvật.

(**) Simacai: Một thịtrấn Bắc Cực, rất xa Thủđô Vănvật, nủitiếng bởi món đặcsản thắngcố (Lồn Ngựa) Hở Mông.
(***) Trường Mở: Một thuậtngữ giáodục rất trìutượng của Xứ Lừa Ngàn Năm Vănhiến.
(****) Làm Chân: Ý gạ sang nhà thamgia một chân đánh bạc.
(*****) Rim Lùn: Tức xe máy mác Dream của Lào, tàisản quýtộc Lừa 200x.
Bose Siêu Trầm: Tức loa Super Bass mác Bose của Tầu, tàisản quýtộc Lừa 200x.


--------------------------
Đăng bỡi: Tranhung09
*****

30/01/2011

Bạn theo tôn giáo nào?

Hồ Anh Thái
Tạp chí Tia Sáng

Có thời nhiều người Việt ra nước ngoài được bạn bè hỏi theo tôn giáo nào thì đều nhanh nhảu mà rằng chẳng theo tôn giáo nào cả.
Kể ra trả lời thế cũng chẳng làm sao. Thế giới đang đầy những phong trào xã hội đòi tự do này nọ. Đức tin cũng là một thứ tự do, ai muốn theo gì thì theo, không theo thì thôi, chẳng ai có quyền áp đặt đức tin cho người khác.
Nhưng hình như có điều không ổn trong chính những câu trả lời kia, nhất là bao giờ nói xong cũng như kèm thêm một vẻ hãnh diện tự đắc, cứ vênh vênh nhơn nhơn ra.
Tôi từng ở những nơi nhiều tôn giáo: Ấn Độ, và Rome "thần với thánh chất chồng như lợn con lăn lóc”, trong một câu thơ báng bổ của Evtushenko. Những nơi đa tôn giáo, tôn giáo lại đa thần, người ta không thể hình dung được có người không theo tôn giáo nào. Không tôn giáo đường như đồng nghĩa với không giới tính. Bởi vì người ta quan niệm tôn giáo là một thuộc tính của con người - con người lọt lòng mẹ là có tôn giáo, cũng như khi lọt lòng phải có giới tính. Có mấy ai lại vênh vang tự nhận không giới tính?
Cũng thế, người ta không hình đung được rằng người không tôn giáo lại biết sống có đạo. Tôn giáo như một cái phanh hãm, nó có thể thắng con người dừng lại bên bờ vực tội lỗi, trước vùng ranh giới thiện-ác, bóng tối-ánh sáng... Có cỗ xe nào lại vênh vang tự nhận rằng nó không cần phanh?
Phải hiểu tâm lý người mộ đạo như vậy thì mới thấy câu trả lời thật thà nọ có thể gây sốc, thậm chí gây ác cảm cho người đối thoại. Một thời, không tôn giáo là câu cửa miệng, người ta khai vào lý lịch ở mục tôn giáo chỉ một chữ: Không. Lúc khác thì: Lương. Có người lý giải lương tức là mình lương thiện, có nghĩa là những ai không lương là theo tôn giáo, tà tà giáo. Chẳng biết có đúng nghĩa thế không?
Nhưng nghĩ cho cùng, nói rằng mình không tôn giáo là thật thà song chưa hẳn đã trung thực. Xin hãy xem, mọi tôn giáo đích thực đều có 5 yếu tố trụ cột:
- Có khái niệm về một đấng tối cao.
- Có người sáng lập.
- Có kinh sách.
- Có nơi linh thiêng để thờ phụng.
- Thực hành tụng niệm.
Xét theo năm tiêu chuẩn ấy thì thử hỏi có mấy ai trên thế gian này thực sự không tôn giáo? Nhiều thứ chủ nghĩa đang tồn tại hội đủ những điều trên, thực tế cũng là một kiểu tôn giáo. Mọi người ở một mức độ nào đó cũng có thể là những giáo đồ. Xung đột nảy sinh do khác hệ tư tưởng liệu có phải là một thứ thập tự chinh tôn giáo, dù cách này hay cách khác?
Mỗi một người thông minh có tôn giáo riêng của mình, Bernard Shaw từng nói vậy. Rất nhiều danh nhân, nhiều trí thức có sẵn trong mình một vị chúa, một ông thánh, và vị chúa tể nội tâm ấy khó mà cúi đầu trước đức chúa của một đám đông. Trong mỗi con người thông minh có hệ tư tưởng riêng, một thế giới riêng của mình và thế giới ấy đủ rộng lớn để bao trùm lên thế giới nhân loại bên ngoài. Nói như vậy không có nghĩa là đức chúa nội tâm, thế giới nội tâm là mối đe doạ xung đột với tôn giáo và xã hội, với thế giới nhân loại Cũng không hàm nghĩa trí thức tất thảy đều vô thần. Có rất nhiều người mộ đạo là đằng khác, nhất là trên các hành tinh bấn loạn và bất ổn hôm nay, nhất là vào thế kỷ XXI mà có người gọi là "thế kỷ tôn giáo".
Mặt khác có theo đạo cũng không phải là thứ để phô trương. Nhà văn Khushwant Singh từng phê phán một số thủ tướng Ấn Độ đến dự lễ ở các đền thờ trước ống kính truyền hình. Theo ông, tôn giáo là thứ rất riêng tư, một chính khách theo đạo Hindu chỉ nên thờ cúng ở nhà, cũng không nên rầm rộ dẫn đoàn đến thăm các nhà thờ Thiên Chúa giáo, Hồi giáo... như để biểu diễn hay khoe khoang. Một chính khách không thể thuộc về riêng một tôn giáo nào.
Cũng như một chính khách không nên gây ấn tượng thuộc về riêng một vùng quê nào. Nếu đó không phải là con người của mọi tôn giáo, của cả đất nước, thì thảm họa chia rẽ là nguy cơ tiềm tàng.
Một người bạn tôi không bao giờ nhận mình là người vô thần hay là không tôn giáo. Chẳng phải là những nhãn hiệu ấy không dùng làm đạo trang sức được, biết thế nào là đẹp hay không đẹp. Chỉ đơn giản là trả lời như vậy dễ dãi quá, hấp tấp quá, trong khi mỗi con người còn chưa hiểu hết thế giới bên trong mình, một phần nhỏ cũng chưa. Được hỏi theo tôn giáo gì, bao giờ anh cũng nói mình là một agnostic, một kẻ cho rằng con người chỉ có khả năng nhận thức những gì thuộc về vật chất, còn những gì thuộc về tinh thần, về tôn giáo, về dạng tối cao là bất khả tri. Làm sao con người có thể vội vàng nói có hoặc là không trước những vấn đề ấy. Chẳng lẽ lại có thể dễ dàng đến thế?
Agnostic không phải là câu trả lời láu lỉnh, lại nhuốm màu triết học, cốt để lảng tránh tranh luận, tránh xung đột, nhằm bảo toàn uy tín và danh dự cho một trí thức khôn khéo. Đấy nên là câu trả lời phải chăng và biết điều của tất cả những ai không chịu được một tôn giáo nào và tự xem là cái gì cũng biết. Nên thận trọng, thưa những ông những bà Biết Tuốt, những Mr. và Ms. Know-All.
Trở lại với câu bạn theo tôn giáo nào? Rất nhiều người Việt ra nước ngoài đều thản nhiên trả lời: Tôi không tôn giáo. Người ta lại hỏi: Thế thì bạn tin cái gì? Rất nhanh nhảu bên ta đáp luôn: Tôi chỉ tin vào khoa học.
Nhưng mà tôn giáo là khoa học. Người đối thoại khẳng định.
Theo: Chungta

--------------------------
Đăng bỡi: Tranhung09
*****

Cuộc chiến bí mật - Hồ sơ Lực lượng đặc biệt Quân đội VNCH (PII)

Lại nói, sau khi khám phá ra chiếc thuyền của điệp viên Ares trong tháng 2, Hà Nội đã để ý. Ngày 1/3, Đảng cộng sản Việt Nam ra nghị quyết về tăng cường cho lực lượng an ninh chống đối phương xâm nhập. Toán Castor dự kiến sẽ lên đường ngày 27/5, đúng thời điểm trăng tròn, thời tiết lý tưởng. Không như các đơn vị biệt kích đường biển, chuyên xâm nhập vào các đêm không trăng, các phi công cần ánh sáng mặt trăng để bay, thường mỗi tháng chỉ có bốn đêm trăng sáng nhất. Vả lại, những biệt kích quân cũng cần ánh sáng để điều khiển dù xuống bãi đáp.

Theo đúng kế hoạch, bốn biệt kích quân trong toán Castor sẽ được chiếc C47 không phù hiệu đậu sẵn trong sân bay Tân Sơn Nhất đón. Cơ trưởng không ai xa lạ, mà chính là Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ. Cả phi hành đoàn đều không đeo phù hiệu, không đem theo bất cứ một thứ giấy tờ nào để đề phòng trường hợp bị bắn rơi trên không phận miền Bắc thì vỏ bọc bên ngoài của họ chỉ là thường dân đi buôn lậu. Mỗi người được mang theo 100 USD, để phòng khi cần tẩu thoát sẽ dùng đến. Chiếc C47 chở toán Castor ghé qua Đà Nẵng tiếp thêm nhiên liệu. Đúng 10h đêm, Nguyễn Cao Kỳ cất cánh, bay ra vịnh Bắc Bộ, hướng về phía Ninh Bình. Sau đó theo hướng tây bắc bay qua không phận các tỉnh Hòa Bình, Sơn La, rồi băng qua sông Đà. Đến cao điểm 828, Nguyễn Cao Kỳ bật đèn xanh, cho đẩy những thùng đồ tiếp tế ra phía cửa sau, và toán Castor cũng nhảy theo. Chiếc C47 vòng lại, bay về hướng miền Nam.

Tại cao điểm 885, trung sĩ Hà Văn Chấp, trưởng toán Castor ra lệnh tháo dù và tập hợp lại. Họ xuôi xuống chân đồi, cách 1 bản gần đó chừng 1 km. Đi về hướng Nam 9 km là sông Đà; thêm 10 km nữa là quốc lộ số 6. Đó là con đường chính, xuyên qua các tỉnh Tây Bắc để đến tây nam tỉnh lỵ Sầm Nưa của Lào. Chính quyền Kennedy cho rằng Sầm Nưa là đất dụng võ của phía Cộng sản. Do đó, nhiệm vụ của toán biệt kích Castor là cung cấp tin tức về hoạt động chuyển quân của đối phương trên quốc lộ 6.

Khi toán Castor nhảy dù xuống cao điểm 885, dân bản gần đó nghe tiếng động cơ máy bay đã báo cho lực lượng CAND vũ trang Bắc Việt. Nên ngay sáng 28/5 họ đã đoán được địa điểm nhảy dù của toán biệt kích đêm qua và sử dụng lực lượng bao vây xung quanh cao điểm 885. Ba hôm sau, họ bắt được cả bốn biệt kích quân của toán Castor. Thế nhưng Phòng 45 vẫn chưa hề biết chuyện gì đã xảy ra với toán Castor, nên vẫn tiếp tục chương trình thả thêm những toán biệt kích khác.

Nguyễn Cao Kỳ - Đặng Tuyết Mai


...và nay
Ngày 2/6, toán biệt kích thứ hai gồm ba người, mang mật danh Echo, xuất phát từ Đà Nẵng, do chiếc C47 của VIAT chở, bay ra Bắc Việt. Chiếc máy bay bay vòng qua vĩ tuyến 17, đến không phận tỉnh Quảng Bình, toán biệt kích Echo được lệnh nhảy dù xuống vùng rừng núi phía bắc làng Trúc khoảng 5 km.

Không gì xui xẻo hơn, khi toán biệt kích Echo mới ra khỏi máy bay cũng là lúc ở dưới mặt đất dân chúng hai làng đang họp. Nghe tiếng máy bay, họ ùa ra xem, nhìn rõ mồn một chiếc C47 trên bầu trời sáng rực đầy trăng sao. Chỉ một giờ đồng hồ sau, lực lượng vũ trang Bắc Việt đã tổ chức xong cuộc truy tìm toán biệt kích, bao gồm công an vũ trang, bộ đội địa phương và cả chó nghiệp vụ.

Chuyện rủi ro đến với toán biệt kích Echo diễn ra ngay từ lúc đầu. Một biệt kích quân bị dạt đi khoảng 3 km, vướng trên một ngọn cây, anh ta cắt dây dù, rơi xuống đất và bị gãy chân. Hai người còn lại biết bị lộ bèn báo cáo tình hình nguy cấp về Sài Gòn và định chạy về hướng biên giới Việt – Lào hòng thoát thân. Thế nhưng trước lúc họ bắt đầu thực hiện ý định, quân đội Bắc Việt đã bao vây chặt khu rừng nên cả ba biệt kích quân đều bị bắt vào ngày hôm sau.

 Kết cục bi thảm trên cũng không ngăn được CIA tiếp tục kế hoạch thả biệt kích thâm nhập Bắc Việt. 12 ngày sau, toán biệt kích thứ ba, mang mật danh Dido, gồm bốn quân nhân gốc người dân tộc Thái đen đã rời sân bay Đà Nẵng. Mục tiêu hoạt động của toán biệt kích Dido là vùng dân tộc Thái đen là Lai Châu, thuộc khu tự trị Thái – Mèo, sau đổi lại là khu tự trị Tây Bắc.

Toán biệt kích Dido nhảy dù xuống gần quốc lộ số 6, khoảng giữa tỉnh lộ và con đường dẫn đến huyện lỵ Tuần Giáo. Toán Dido sẽ do thám lượng xe cộ của Bắc Việt đến Tuần Giáo, nhất là lưu lượng xe cộ qua lại trên tuyến đường đi về lòng chảo Điện Biên Phủ, qua Tây Trang để sang Lào. Đây là địa bàn đóng quân của Sư đoàn chủ lực 316 Bắc Việt, nên việc do thám, thu thập thông tin càng trở nên vô cùng cần kíp.

Trước một mục tiêu quan trọng như vậy, để an toàn, Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ chọn đường bay từ vùng vịnh Bắc Bộ, lái vòng sang các tỉnh thuộc không phận Việt Bắc, thả truyền đơn xuống địa bàn tỉnh Cao Bằng ngay sát biên giới Việt – Trung. Khi đến địa điểm thả dù thuộc tỉnh Lai Châu, bốn biệt kích quân của toán Dido nhảy ra và chiếc C47 sẽ theo lộ trình thả toán biệt kích Castor trước đây để tức tốc quay về Miền Nam.

Trang phục, vũ khí thường thấy
Tại bãi đáp đất, cả bốn biệt kích quân nhanh chóng tháo dù đem giấu rồi tập hợp lại. Thùng đồ của họ đã có đủ cả quần áo, lương thực, vũ khí. Còn máy truyền tin thì bị trôi dù lạc mất, tìm không ra. Sau ba tuần lễ bị đói, trên đường di chuyển sang Lào, toán biệt kích Dido chạm trán với lực lượng công an nhân dân vũ trang và bị bắt ngay biên giới Việt – Lào.

Như vậy, tính đến tuần lễ thứ hai của tháng 7, ít nhất Hà Nội đã nắm trong tay ba toán biệt kích. Họ biết rõ, sau khi không thể không đem ra xét xử vụ biệt kích xâm nhập Bắc Việt. Ít ra viên phi công hoặc cả 7 biệt kích quân biết rằng phi vụ của họ là tái tiếp tế cho toán biệt kích Castor. Nếu họ khai trước tòa án, Bắc Việt sẽ biết rằng đã có toán biệt kích hoạt động trên địa bàn tỉnh Sơn La. Đồng thời Sài Gòn cũng biết toán biệt kích Castor đã bị bắt. Thế nhưng Hà Nội đã dàn dựng một câu chuyện khác.

Chỉ có ba người bị đưa ra tòa trong tháng 11, bốn biệt kích quân khác đã chết do trọng thương. Trước tòa, cả ba biệt kích quân đều nhận tội có liên quan đến vụ xâm nhập của biệt kích và đang trên đường đến tỉnh Hòa Bình chứ không phải Sơn La. Đến cuối 1962, CIA và Sài Gòn vẫn tin rằng toán biệt kích Castor đang hoạt động hữu hiệu. Tại Sài Gòn, trung tá Tung cũng cảm thấy hài lòng về việc chuẩn bị thả thêm nhiều toán biệt kích khác ra miền Bắc.

Và rồi CIA phải tìm kiếm phương tiện khác để chuyên chở vì chiếc C47 duy nhất đã bị bắn rơi. Họ giờ đã chán loại máy bay C47 với hai lý do. Một là, tầm hoạt động của C47 ngắn, do đó máy bay phải bay thẳng đến mục tiêu. Thứ hai, máy bay phải tiếp thêm nhiên liệu tại Đà Nẵng, và biết đâu điệp viên Bắc Việt đã chẳng xâm nhập vào sân bay Đà Nẵng? Cuối cùng họ chọn loại máy bay C54 và huấn luyện hoa tiêu Việt Nam. Còn các phi công tình nguyện sẽ phải hoàn tất khóa huấn luyện vào đầu năm 1963.

Phòng 45 chuẩn bị cho toán biệt kích Europa gồm 5 biệt kích quân người Mường lên đường. Ngày 20/2, họ xuất phát từ sân bay Tân Sơn Nhất, do Trung tá Nguyễn Cao Kỳ lái và không cần ghé lại Đà Nẵng như các phi vụ trước đây. Đến địa điểm thả dù thuộc không phận tỉnh Hòa Bình, địa bàn cư trú tập trung chủ yếu của dân tộc Mường, Nguyễn Cao Kỳ bật đèn xanh, cả năm biệt kích quân người Mường đều biến mất vào màn đêm.

Theo kế hoạch, việc chọn địa điểm thả toán biệt kích Europa thuộc địa bàn huyện Tân Lạc là bất lợi, bởi quốc lộ số 6 chạy xuyên qua giữa huyện, có nhiều đường liên tỉnh, liên huyện thông thương và bản mường đông đúc. Vì thế toán biệt kích Europa đã bị lộ ngay khi dù của các biệt kích quân chưa thả. Ít lâu sau, CIA sẽ phải thả dù tiếp tế cho các biệt kích quân. Vì vậy Hà Nội buộc hoặc thuyết phục các hiệu thính viên các toán biệt kích hợp tác, báo cáo về Sài Gòn là họ vẫn an toàn. Kết quả là Bắc Việt đã lấy được lượng đồ tiếp tế của CIA cho các toán biệt kích đã bị bắt và tóm luôn những toán sẽ được thả sau đó.

Đúng 12h trưa ngày 29/6, nghĩa là khoảng một tháng sau khi xâm nhập, toán Castor gửi đi bức điện văn đầu tiên. Họ được Sài Gòn khích lệ và hứa sẽ thả dù tiếp tế trong vòng bốn ngày sau. Chiều 1/7, đồ tiếp tế được bí mật chất lên chiếc C47 đậu sẵn ở sân bay Tân Sơn Nhất.

Đúng ra, Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ trực tiếp thực hiện phi vụ này, nhưng đến giờ chót, chẳng hiểu vì sao Nguyễn Cao Kỳ lại giao trách nhiệm cho Trung úy Phan Thanh Vân. Phi hành đoàn có thêm 3 hạ sĩ quan thuộc Liên đoàn Quan sát số 1 để phụ giúp thả những thùng đồ tiếp tế xuống các mục tiêu đã được xác định. Chiều 1/7, sau khi nạp thêm nhiên liệu tại phi trường Đà Nẵng, chiếc C47 bay theo lộ trình đã thả 2 toán biệt kích Castor và Dido. CIA đâu có biết tại bãi thả, công an vũ trang Bắc Việt đã bao vây, đợi đón đầu chuyến thả tiếp tế cho toán biệt kích Castor.

Trong lúc đó, tại Hòn Ne, cách bờ biển Ninh Bình khoảng 5 km, công an, bộ đội Bắc Việt đã phát hiện ra tiếng động cơ máy bay. Chiếc C47, như thường lệ, bay thấp để tránh rađa và súng phòng không ở Hòn Ne phát hiện. Nhưng đã quá muộn, chiếc C47 đã bị trúng đạn, rơi xuống một cánh đồng rộng khoảng 20 ha.

Sau vụ bắn rơi chiếc C47, bắt sống 7 biệt kích quân, trong đó có phi công Phan Thanh Vân (1971 ra tù, được chị ruột bảo lãnh sang Pháp một thời gian rồi sang Mỹ định cư, chết tại Virginia; ct N.C.), Hà Nội đã công bố trên đài phát thanh, báo chí. Sáng hôm sau, công an vũ trang phối hợp với quân dân tự vệ, học viên của trường sĩ quan biên phòng… truy lùng ráo riết toán biệt kích. Tất cả các biệt kích trong toán đều bị bắt vào ngày hôm sau.

Một bóng hồng của Nha Kỹ Thuật
Hiệu thính viên toán Europa buộc phải gửi báo cáo về Sài Gòn, rằng toán đã đến mục tiêu an toàn. Phòng 45 khấp khởi, chuẩn bị tái tiếp tế cho toán Castor, tính đến thời điểm đó đã nằm vùng gần 10 tháng. Họ hy vọng rằng với loại máy bay C54 mới, lần này sẽ gặp may. Chuyến đi này do Đại úy Hội lái. Chiếc C54 bí mật chở đồ tiếp tế cất cánh từ sân bay Tân Sơn Nhất bay đi Sơn La. Trước khi đến mục tiêu, chuyện xui xẻo lại xảy ra: chiếc C54 gặp một cơn giông lớn. Trong lúc đó tại Sài Gòn, mấy tay CIA thuộc Ban kế hoạch hết sức mất mặt vì trong vòng 7 tháng đã bị mất hai chiếc máy bay. Điều an ủi duy nhất là theo bức điện văn bắt của Hà Nội cho biết chiếc máy bay rơi, trước hết là do lỗi của viên phi công gây nên tai nạn và họ không để ý đến vụ mất mát đó (?). Cũng vì lẽ đó nên cơ quan tham mưu ở Sài Gòn đinh ninh rằng toán biệt kích Castor vẫn đang hoạt động.

CIA lại phải tìm kiếm loại máy bay khác. Lần này họ liên lạc với Đài Loan, vì cho rằng không lực xứ này có kinh nghiệm thả điệp viên xâm nhập Trung Hoa lục địa từ năm 1952. Vả lại, đã có nhiều hoa tiêu Đài Loan tình nguyện bay những phi vụ bí mật xâm nhập Bắc Việt Nam. Mặt khác CIA cũng từng bố trí cho phi công của mình từ Air America (CIA) sang Đài Loan huấn luyện cho những phi công tình nguyện về kỹ thuật bay ở cao độ thấp.

Trong thời gian huấn luyện cho phi công Đài Loan, CIA và Phòng 45 đã chuẩn bị cho nhóm biệt kích kế tiếp xâm nhập miền Bắc. Toán mới này mang mật danh là Atlas, gồm bốn người quê ở Nghệ An. Cả bốn người được đưa về sống ở những mật cứ tại Sài Gòn để huấn luyện. Toán biệt kích Atlas có nhiệm vụ xâm nhập địa bàn tỉnh Nghệ An, đặc biệt là khu vực gần đường số 7. Cũng như toán Echo trước đây, Atlas sẽ do thám mức độ di chuyển của quân đội Bắc Việt qua đất Lào, đồng thời bắt liên lạc với hai linh mục công giáo nhờ giúp đỡ, che chở.

Trong tuần lễ đầu tiên của tháng 3/1962, toán Atlas được đưa sang Thái Lan. Thế nhưng những phi công Đài Loan vẫn chưa được huấn luyện xong, buộc CIA phải sử dụng trực thăng của Air America đưa toán biệt kích đến biên giới Việt – Lào, thuộc địa bàn tỉnh Nghệ An. Sau đó toán Atlas sẽ di chuyển bộ đến mục tiêu. Chiều ngày 12/3, toán Atlas lên đường cùng với phương tiện, vật chất bảo đảm, do hai chiếc trực thăng H34 đảm nhận, cộng với một chiếc hộ tống. Theo máy bay hướng dẫn, trực thăng thả toán biệt kích lúc trời nhập nhoạng tối xuống một ngọn núi sát biên giới Việt – Lào. Toán Atlas mặc bà ba đen, vũ trang tiểu liên Stern (theo quy định của CIA, không dùng vũ khí Mỹ).

Sau ba ngày di chuyển về hướng đông Nghệ An một cách suôn sẻ, đến ngày thứ tư, toán biệt kích Atlas gặp một đứa trẻ. Theo lời một thành viên trong toán kể lại: “Đứa trẻ biến vào rừng nhanh như chớp!” Sau đó, lập tức lực lượng an ninh đến bao vây toán Atlas, một biệt kích quân trúng đạn, bỏ mạng tại trận. Trên đường chạy trở lại đất Lào, thêm một biệt kích quân nữa giẫm phải mìn, chết. Hai người còn lại không liên lạc được với Sài Gòn vì thời tiết xấu, cuối cùng đều bị bắt.

Rút bài học kinh nghiệm xương máu này, CIA tiếp tục lên kế hoạch cho những chuyến thả biệt kích tiếp theo xuống lãnh thổ Bắc Việt Nam. Lần này CIA quyết định sử dụng loại máy bay C46, xuất phát từ căn cứ không quân Takhli của Thái Lan. Họ sẽ được hai Đại úy Ron Sutphine và M. D. Doc Johnson bay trước hướng dẫn vào bãi thả dù. Toán kế tiếp mang mật danh Remus, gồm 6 biệt kích người dân tộc Thái đen. Cũng như toán Dido trước đây, gồm những biệt kích người dân tộc Thái đen, toán Remus sẽ nhảy dù xuống lòng chảo Điện Biên Phủ, thuộc địa bàn tỉnh Lai Châu.

 Điện Biên Phủ không chỉ là căn cứ quân sự lớn nhất ở vùng Tây Bắc, cùng với sự hiện diện của Sư đoàn 316; hơn thế nữa, Sư đoàn này thường xuyên có những hoạt động trên đất Lào. Để tránh bị lộ, toán Remus sẽ nhảy dù xuống khu vực gần biên giới Việt – Lào, rồi xâm nhập bằng đường bộ đến mục tiêu. Ngày 16/4/1962, sáu biệt kích quân nhảy dù xuống cách Điện Biên Phủ 15 km về hướng Tây Bắc an toàn. Toán Remus tập hợp lại và năm hôm sau báo cáo về Sài Gòn rằng họ bắt đầu vượt biên giới, xâm nhập vào Bắc Việt.

Sau khi thả toán Remus thành công, Phòng 45 quay trở lại làm việc với toán đầu tiên là Castor. Cuối tháng 4, toán Castor được lệnh di chuyển từ sông Đà về phía nam, đến huyện Mộc Châu, Sơn La. Tại đây, Castor sẽ nhận đồ tiếp tế cùng với toán Tourbillon xuống tăng cường. Không như những toán trước đây, toán Tourbillon gồm 4 dân tộc khác nhau; trong đó ít nhất có hai thành viên là người Kinh. Nhiệm vụ CIA giao cho toán Tourbillon cũng khác, không phải thu thập tin tức tình báo mà là tập kích, tấn công, phá hoại chớp nhoáng. Vì trước đó vào tháng 5, Tổng thống Mỹ Kennedy đã nhiều lần lệnh cho các giới chức lãnh đạo Hoa Kỳ chỉ đạo các toán biệt kích tăng cường hoạt động phá hoại đối với miền Bắc Việt Nam, nhằm cải thiện tình hình bên Lào đang trở nên căng thẳng; tỉnh lỵ Nậm Thà bị Quân giải phóng Pathét Lào chiếm, với sự yểm trợ của vài tiểu đoàn quân tình nguyện Bắc Việt.

Một biệt kích bị bắt giữ khi dù vừa chạm đất
Toán Tourbillon sẽ nhảy dù xuống những ngọn đồi ở phía bắc huyện Mộc Châu, rồi di chuyển khoảng 6 km về hướng nam, đến quốc lộ 6, dự định sẽ phá sập những chiếc cầu trên quốc lộ 6 để ngăn chặn đường tiếp tế của Bắc Việt từ Điện Biên Phủ cho Quân giải phóng Pathét Lào, để phần nào giảm áp lực bên Lào. Trước đây trùm CIA Lansdale đã từng xác nhận: “Nằm vùng trong một xã hội quản chế nghiêm khắc đã khó thì việc phá hoại kể như quá khó khăn đối với những biệt kích quân trẻ tuổi”.



Trùm CIA Lansdale, chuyên gia đảo chính, gây rối được tiểu thuyết hóa qua tác phẩm "Một người Mỹ trầm lặng"

Để đảm bảo kế hoạch, Phòng 45 tiếp tục tuyển chọn tình nguyện quân từ Liên đoàn Quan sát số 1, thời điểm đó đã đổi tên thành Liên đoàn 77. Có 7 người được chọn học lớp huấn luyện nhảy dù và chiến thuật biệt động. Riêng người hiệu thính viên từng vượt biên xâm nhập đất Lào 2 lần nên ít nhiều đã có kinh nghiệm. Từ tháng 5/1962, quân đội Hoàng gia Lào liên tục bại trận, trước khi Quân giải phóng Pathet Lào làm chủ Nậm Thà.

Toán biệt kích Tourbillon khởi hành bốn lần đều phải quay lại vì lý do thời tiết và nằm chờ tại sân bay Tân Sơn Nhất. Ngày 9/5/1962, Quân giải phóng Pathet Lào làm chủ Nậm Thà. Một tuần sau đó, toán biệt kích Tourbillon xuất phát bằng phương tiện máy bay, do những phi công Đài Loan lái. Họ bắt buộc phải để lại mọi giấy tờ tùy thân trước khi lên máy bay.

Đến điểm hẹn với toán Castor, những biệt kích quân toán Tourbillon nhảy dù xuống đất mà không hề biết, ở dưới mặt đất, ngoài toán biệt kích Castor còn có ít nhất một đại đội công an vũ trang và cả chó nghiệp vụ đang chờ họ. Vào thời điểm đó, lại có gió thổi mạnh. Các thành viên biệt kích quân Tourbillon bị trôi dạt đi xa bãi đáp khiến cho đơn vị công an vũ trang phải đuổi theo. Chiếc dù của viên toán phó bị vướng trên ngọn cây và anh ta bị bắn chết. Những biệt kích quân khác đều mạnh ai nấy chạy, cố tìm lối thoát thân khi đáp đất. Nhưng chỉ hai hôm sau tất cả đều bị bắt. Nhân viên truyền tin lập tức bị cô lập và buộc phải báo cáo về Sài Gòn rằng toán đã đáp xuống mục tiêu an toàn. Phòng 45 tin tưởng rằng bãi đáp đã được toán Castor chuẩn bị và bảo vệ cẩn mật. Sau 11 ngày đấu tranh, suy nghĩ, tay nhân viên truyền tin đã gửi đi bản báo cáo đầu tiên rằng toán đã đáp xuống mục tiêu an toàn.

Bốn ngày sau khi toán Tourbillon nhảy dù xuống Mộc Châu, toán biệt kích kế tiếp mang mật danh Eros lên chiếc máy bay C54, xuất phát từ sân bay Tân Sơn Nhất. Chuyến đi này phi công bay theo đường vòng qua đất Lào, xâm nhập không phận tỉnh Thanh Hóa, thả toán biệt kích chớp nhoáng rồi bay về. Phi vụ này diễn ra quá nhanh đến nỗi quân Bắc Việt chưa kịp đề phòng, chuyến xâm nhập coi như thành công.

Xuống tới đất, toán Eros gom lại an toàn. Họ gồm 5 người thuộc sắc tộc Mường và Thái đỏ ( Dao đỏ?), cả hai sắc dân thiểu số trên đều sống ở phía tây tỉnh Thanh Hóa. Có điều đặc biệt là trong số các thành viên của toán có 3 người Mường, thì hai người là anh em, người thứ ba là anh em họ. Hai người Thái là chú cháu. Phòng 45 hy vọng sợi dây liên hệ dòng tộc này sẽ làm cho toán gắn bó hơn và họ dễ dàng móc nối những người cùng sắc tộc khác.

Sau ba tuần lễ trong rừng, vài người Thái trông thấy toán biệt kích. Hốt hoảng, toán Eros chạy lên hướng bắc. Mấy người Thái quay trở lại tìm thấy những vỏ lon đồ hộp lạ, không phải sản xuất ở miền Bắc. Họ bèn báo cáo sự việc cho công an địa phương. Trong khi đó toán Eros trên đường chạy đã gần cạn lương thực, mà Sài Gòn lại đáp rằng do thời tiết xấu, chưa thể tiếp tế được. Những biệt kích quân phải tự tìm thức ăn cho mình.

Dân quân xã Phú Hải, Hà Cối, Quảng Ninh tham gia truy bắt nhóm biệt kích xâm nhập bãi biển Hà Cối 28/7/1963
Ngày 2/8/1962, một lần nữa họ bị dân làng phát giác và cuộc truy lùng lại tiếp diễn. Lần này Phòng 45 nhận được công điện khẩn của toán Eros rằng họ đang bị truy lùng.

Ngày 29/9, sau khoảng 2 tháng bị truy đuổi, toán biệt kích bị bao vây. Một biệt kích quân bị trúng đạn bỏ mạng, một người bị bắt. Ba người kia chạy thoát, rồi nhập vào toán dân Lào đi săn. Tưởng thoát, ai dè họ lại bị phát giác và bắt sống, giao nộp cho Quân đội Bắc Việt.

Khi mặt trời chưa kịp nhô lên ngoài khơi vịnh Bắc Bộ, từng đoàn đánh cá của ngư dân đã giăng như mắc cửi trên cửa sông Gianh, cách Đồng Hới, một tỉnh cực nam của miền Bắc Việt Nam, khoảng 40 km. Từ biển theo sông Gianh vào khoảng 40 km, có căn cứ hải quân Quảng Khê. Đây là bàn đạp xuất phát của lực lượng Phòng vệ Duyên Hải của Bắc Việt.

Ngày 16/2/1962, quang cảnh căn cứ Quảng Khê có vẻ bình yên. Không ai biết rằng dưới đáy biển có một chiếc tàu ngầm Catfish của Hải quân Mỹ đang do thám vùng biển Bắc Bộ. Chiếc tàu ngầm này từng hoạt động nhiều năm tại hải phận của Trung Quốc và Việt Nam. Lần này chiếc Catfish quan sát  những chiếc tốc đỉnh vũ trang Swatow của Hải quân  QĐND Việt Nam. Chiếc Swatow dài 83 bộ (25,3 m), được trang bị radar để phát hiện những chiếc tàu lạ xâm nhập hải phận, với hỏa lực gồm 3 khẩu súng máy phòng không 37mm, cộng với hai khẩu 14.5mm hai nòng và thủy thủ đoàn 30 người. Tàu có thể chạy với tốc độ 28 hải lý mỗi giờ.

Sau khi dò biết trong căn cứ Quảng Khê có ba chiếc Swatow đang bỏ neo, chiếc tàu ngầm Catfish kiểm tra lại tin tức tình báo và báo cáo về trung tâm tại thủ đô Manila, Philippin và văn phòng CIA tại Sài Gòn. CIA lập tức phác thảo kế hoạch sử dụng người nhái phá hủy những chiếc tốc đỉnh của Hải quân Bắc Việt.

Tàu Swatow 154 tại Quảng Ninh
Cùng thời điểm tháng 4/1962, Phòng 45 quyết định thành lập toán cảm tử quân người nhái do Đài Loan huấn luyện, mang mật danh Vulcan. Họ được đưa đến Đà Nẵng huấn luyện cách đặt mìn phá tàu. Sau khi xác định được mục tiêu, theo thông tin của tàu ngầm Catfish cung cấp, toán người nhái Vulcan cùng với 10 thủy thủ lên chiếc tàu Nautilus 2, hướng ra hải phận Bắc Bộ. Chiếc Nautilus 2 thả neo ngoài khơi trước của sông Gianh, để cho 4 cảm tử quân chèo thuyền vào căn cứ thám thính. Sau khi xâm nhập, bốn người này quay ra, báo cáo rất yên tĩnh.

Chiếc Nautilus 1 bị bắt giữ trước đó

Đại úy Hà Ngọc Oanh, với mật danh Antoine, từng phục vụ 2 năm tại phòng 45, đã nhận lệnh tấn công những chiếc tốc đỉnh Swatow vào ngày 28/6/1962. Trong buổi thuyết trình kế hoạch hành quân, với sự hiện diện của hai nhân viên CIA và ảnh chụp căn cứ hải quân Quảng Khê, Đại úy Hà Ngọc Oanh đã trình bày kế hoạch tấn công và đường rút lui trước các cảm tử quân người nhái được chỉ định tham gia phi vụ.

Theo kế hoạch, các cảm tử quân từ chiếc Nautilus 2 xuống thuyền gỗ, chèo vào bờ theo hướng cửa sông Gianh. Vì chỉ có ba chiếc Swatow trong căn cứ Quảng Khê nên người nhái thứ 4 là Nguyễn Chuyên sẽ ở lại giữ xuồng và làm dự bị. Ba cảm tử quân trong bộ đồ người nhái sẽ bơi vào căn cứ, gắn mìn vào ba chiếc Swatow, rồi rút êm. Sau buổi thuyết trình, mọi người chúc rượu, tiễn đưa đến tận khuya. Những người nhái thực thi phi vụ được đưa vào mật cứ riêng biệt để đảm bảo bí mật hoàn toàn.

Đúng 20h 30’ tối 29/6/1962, toán người nhái lên tàu xuất phát. Đêm hôm sau, họ đã nằm ngoài khơi hải phận Bắc Việt và tiến dần tiếp cận mục tiêu. Trước nửa đêm ngày 30, chiếc Nautilus 2 tắt cả hai máy, hạ thủy chiếc thuyền gỗ có gắn động cơ. Các cảm tử quân lặng lẽ xuống thuyền, chạy thẳng vào bờ. 15 phút sau, Lê Văn Kính đã có thể nhìn thấy cửa sông Gianh. Toán người nhái dự tính sẽ thực thi xong phi vụ trong vòng hai giờ đồng hồ, đủ thời gian bơi vào mục tiêu đặt mình, rồi bơi trở lại thuyền. Hợp đồng với đồng sự xong, Lê Văn Kính kéo kính che mắt lại rồi trườn xuống nước, theo sau là Nguyễn Hữu Thao.

Chiếc Swatow 108 bị máy bay đánh chìm
Trên boong chiếc Swatow mang số hiệu 185, người lính canh gác nghe tiếng chân vịt quạt vào nước. Lập tức thuyền trưởng Hồ Ngọc Minh dẫn mấy thủy thủ chạy xuống cuối tàu quan sát. Trong lúc đó, ở dưới nước, Nguyễn Hữu Thao đang gắn quả mìn vào lườn tàu. Nghe tiếng chân người chạy rầm rập trên boong, anh ta hốt hoảng, trật tay và quả mìn phát nổ, Thao chết ngay tức khắc.

Kính đã đặt xong quả mìn, bơi ra xa chiếc Swatow chừng 20 m, trồi lên khỏi mặt nước đúng lúc quả mìn của Thao phát nổ. Sức ép của quả mìn khiến anh ta tức ngực, chân tê dại, trôi vật vờ trên mặt nước. Kính trông thấy chiếc Swatow 185 bị hư hại nặng và biết chắc chắn lính Hải quân Bắc Việt sẽ tràn ra đầy căn cứ trong giây lát. Vì thế Kính gắng bơi vào bờ sông, rồi lủi vào bãi sậy trốn. Anh ta hy vọng khi sự việc lắng xuống sẽ tìm cách trở về căn cứ. Nhưng chuyện đó đã không bao giờ xảy ra, lính Bắc Việt đã tìm thấy và lôi anh ta ra từ bãi sậy.

Ngồi đợi ngoài thuyền, Nguyễn Chuyên cùng 2 thợ máy hoảng hốt khi trông thấy quả mìn phát nổ. Hải quân Bắc Việt phát hiện thấy chiếc thuyền nhỏ đợi ở ngoài xa, họ liền cho tàu đuổi theo. Chiếc thuyền cuống cuồng chạy ra khơi trong làn đạn truy đuổi, hướng về chiếc Nautilus 2. Khi đến được chiếc Nautilus 2, Chuyên trúng đạn bị thương.

Người nhái thứ ba là Nguyễn Văn Tâm cũng kém may mắn. Sau khi đặt mìn xong, anh ta bơi trở lại thuyền, rồi quả mìn thứ nhất phát nổ, chiếc thuyền vọt mất và Tâm bị bỏ rơi. Anh ta lấy một chiếc thuyền của một ngư dân, định chạy ra biển. Nhưng mới leo lên thuyền, anh ta đã rơi vào tay lực lượng tự vệ địa phương, vì quân đội Bắc Việt đã báo động khắp nơi.

Căn cứ hải quân Quảng Khê lại phát nổ, chiếc Swatow 185 chìm ngay. Trong lúc hỗn loạn, chiếc Swatow 161 chạy ra biển đuổi theo chiếc thuyền gỗ và phát hiện ra chiếc Nautilus 2. Trên tàu Nautilus 2, các thủy thủ cố cầm cự với đại liên, rồi tháo chạy về hướng nam. Đến 6h sáng hôm sau, chiếc Nautilus 2 bị trúng đạn, hỏng máy, đành nằm chờ chết. Không bỏ lỡ cơ hội, chiếc Swatow 161 bắn chiếc Nautilus 2 tan tành. Người nhái Nguyễn Chuyên thoát chết đợt đầu, nay cùng chung số phận với các thủy thủ còn lại. Sau khi chiếc Nautilus 2 bị bắn chìm, 10 người nhái sống sót được chiếc Swatow 161 vớt lên, bắt làm tù binh. Tuy nhiên vẫn sót một người nhái là Nguyễn Văn Ngọc trốn trong chiếc tàu đang chìm, không ai hay biết. Sau khi chiếc Swatow 161 đi khỏi, anh ta trôi vật vờ qua vĩ tuyến 17, được phi cơ tuần tiễu phát hiện và cứu sống.

Ngày 21/7/1962, Hà Nội đưa toán biệt kích hải quân Sài Gòn ra xét xử công khai. Đây là lần thứ hai Bắc Việt xét xử những tội phạm là biệt kích và có kẻ đã bị phạt tù chung thân. Thất bại này khiến cho CIA mất mặt. Phải một năm sau, họ mới toan tính tổ chức tiếp những đợt tập kích phá hoại ở vịnh Bắc Bộ.

Hồ sơ mật của CIA về các toán biệt kích xâm nhập bằng đường biển giai đoạn 1961-1963
Nguồn: Quansuvn
Đăng bỡi: Tranhung09
*****

Somalia: kinh tế học của nghề cướp biển

VOA:

Hghề cướp biển, chủ yếu ở vùng biển gần Somalia, gây ra cho thế giới là vào khoảng US$12 tỷ mỗi năm
Hghề cướp biển, chủ yếu ở vùng biển gần Somalia, gây ra cho thế giới là vào khoảng US$12 tỷ mỗi năm
Theo Vnexpress đưa tin cuối tuần trước, hải tặc Somalia được cho là đã bắt giữ một tàu chở hàng của Việt Nam cùng 24 thủy thủ hôm 17 tháng 1 vừa qua. Con tàu  của Việt Nam mang tên Hoàng Sơn Sun phát tín hiệu kêu cứu và mất liên lạc sau đó. Chủ tàu xác nhận con tàu đã bị hải tặc tấn công. Trên tàu có 24 thủy thủ đều là người Việt Nam.
Đây không phải là lần đầu tiên tàu chở hàng của Việt Nam bị hải tặc Somalia tấn công. Trước đây, ngày 15 tháng 3, 2009, tàu chở hàng Việt Nam M/V Diamond Falcon cũng bị hải tặc tấn công ở vịnh Aden (vùng biển giữa nam Yemen và bắc Somalia) nhưng thoát nạn nhờ tàu chiến TCG Giresun (F-491) của Thổ Nhĩ Kỳ và tàu chiến HDMS Absalon của Đan Mạch can thiệp kịp thời.
Nghề cướp biển ở Somalia
Somalia trước đây vốn không nổi tiếng về nghề cướp biển. Nghề này chỉ dần dần trở nên thịnh hành kể từ khi chính quyền Siad Barre bị lật đổ vào tháng 1, 1991. Lý do là các cuộc nội chiến triền miên sau đó đã khiến kinh tế Somalia lâm vào tình trạng khốn cùng với thu nhập bình quân đầu người hiện nay chưa tới US$600. Thêm vào đó, do không còn lực lượng tuần dương, vùng biển giàu có của Somalia dần dần trở thành bãi đánh bắt trộm của các tàu cá nước ngoài và bãi đổ chất thải độc hại của các tập đoàn công nghiệp nước ngoài.
Theo một báo cáo do Bộ Phát triển Quốc Tế (DFID) của Anh công bố năm 2005, thì chỉ trong vòng 2 năm 2003 và 2004, Somalia đã mất khoảng US$100 triệu doanh thu do việc các tàu cá nước ngoài xâm nhập vào hải phận của nước này để đánh bắt trộm cá thu và tôm.
Sinh kế bị cướp mất kèm theo nỗi căm phẫn vì bị nước ngoài bóc lột đã đẩy nhiều người Somalia vào chỗ trở thành cướp biển. Nghề này đã thực sự đem lại thu nhập và sinh kế cho nhiều người. Theo thông tin từ nhiều nguồn, đối với đại bộ phận dân Somalia (70%), cướp biển được coi là một nghề đáng nể trọng. Họ “ủng hộ mạnh mẽ nghề cướp biển như là một cách để bảo vệ chủ quyền quốc gia trong vùng lãnh hải của họ”, và những kẻ cướp biển này tin rằng họ đang bảo vệ vùng đặc quyền đánh bắt của mình và đem lại công lý cũng như đền bù cho các nguồn tài nguyên hải dương đã bị nước ngoài lấy mất.
Trên thực tế thì giữa một cộng đồng dân cư nghèo đói, theo cách nói của Abhi Farah Juha, một người Somalia sống gần biển, trên BBC thì “những kẻ cướp biển có tiền, họ có quyền lực, họ ngày càng mạnh lên, […] Họ cưới những cô gái đẹp nhất, họ xây những ngôi nhà lớn nhất, mua xe hơi và súng ống hiện đại.”  Và điều này là một hấp lực ghê gớm đối với các thanh niên thất nghiệp của Somalia.
Theo bài báo trên của Vnexpress, hiện có 30 tàu và hơn 700 thủy thủ bị bắt giữ làm con tin ở Somalia. Thiệt hại mà nghề cướp biển, chủ yếu ở vùng biển gần Somalia, gây ra cho thế giới là vào khoảng US$12 tỷ mỗi năm, theo One Earth Future Foundation.
Tại sao không kiểm soát được
Có một thực tế từ vài năm gần đây, các lực lượng hải quân của nhiều nước như Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Canada và cả Mỹ đã thường xuyên tham gia bảo đảm an ninh trong các vùng biển này nhưng có vẻ như tình hình cướp biển không giảm đi mà còn có diễn biến ngày càng phức tạp. Trong một cuộc trao đổi với đại tá Jeff Breslau, phát ngôn viên của Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương của Mỹ, hồi cuối năm ngoái, tôi được ông cho biết lý do từ phía một quan chức hải quân. Theo Jeff, không thể phân biệt được một tàu đánh cá thông thường với một tàu cướp biển. Các lực lượng hải quân chỉ được biết khi được các tàu nạn nhân phát tín hiệu cấp cứu, và việc này thường chỉ xảy ra khi cướp biển đã tấn công. Khi đó, vấn đề khó khăn tiếp theo của các tàu hải quân là không thể nổ súng vì thường cướp biển sẽ nhanh chóng bắt giữ được con tin.
Trong một số trường hợp, các tàu hải quân nước ngoài cũng phát hiện được các đối tượng tình nghi là cướp biển và truy đuổi chúng. Tuy nhiên, đa số họ không được quyền đi vào vùng lãnh hải của Somalia, vì thế họ chỉ có thể đuổi bắt cướp biển trong hải phận quốc tế. Thêm nữa, trong một số trường hợp thí dụ như tàu hải quân Hà Lan De Zeven Provinciën hồi tháng 4 năm 2009 đã bắt được 7 tên cướp biển Somalia trong vụ cướp tàu chở dầu Handytankers Magic nhưng sau đó đã phải thả nhóm cướp này vì không có thẩm quyền pháp lý để bắt giữ.
Tệ hại hơn, đã có một vụ trong đó cướp biển bị hải quân của Liên minh châu Âu bắt giữ ở vùng Vịnh Aden hồi tháng 1 năm 2009, bị đưa về châu Âu xét xử ở tòa án Hà Lan vào tháng 5, 2010 và bị kết án tù 5 năm. Sau khi ra tù ít có khả năng là nhóm này bị trục xuất trở lại Somalia vì nước này được coi là nơi quá nguy hiểm để trục xuất. Vì thế có lẽ họ sẽ được ở lại châu Âu (trên thực tế một người đã nộp đơn xin tỵ nạn lại ở Hà Lan). Việc giơ cao đánh khẽ khiến nhiều người lo ngại rằng nó không làm cướp biển e ngại, mà thậm chí còn khuyến khích cướp biển hành động ngang tàng hơn.
Bản thân chính quyền đương nhiệm của Somalia thì không có năng lực để kiểm soát hoạt động cướp biển, và cũng không có nhiều động cơ để thực hiện việc này.
Chi phí thuộc về ai?
Như đã nói ở trên, tổn hại về kinh tế do cướp biển gây ra cho thế giới là nhiều tỷ USD mỗi năm. Chi phí này do ai gánh? Thông thường sau khi cưỡng chiếm được một con tàu, cướp biển sẽ đòi tiền chuộc. Sau khi nhận được tiền chuộc chúng sẽ trả lại tàu và thủy thủ đoàn. Các công ty vận tải quốc tế thường đã đóng bảo hiểm và được bảo hiểm trả cho các tổn thất dạng này. Vì vậy, họ cũng không muốn các lực lượng hải quân mạnh tay với cướp biển vì hậu quả của nó có thể dẫn tới những kết cục tai hại hơn.
Đương nhiên cướp biển càng lộng hành thì chi phí bảo hiểm càng cao lên. Tuy vậy, các hãng tàu cũng có thể chuyển một phần chi phí này đến người tiêu dùng thông qua việc tăng cước vận chuyển. Nói tóm lại là khoản phí tổn mà cướp biển Somalia được chia đều cho người tiêu dùng ở khắp nơi trên thế giới.



--------------------------
Đăng bỡi: Tranhung09
*****

Ý chí của nhà cai trị và lòng dân?

Trần Minh Thảo
Tác giả đặt ra nhiều câu hỏi về những vấn đề rất căn bản của thể chế, của đường lối đối nội, đối ngoại hữu hiệu để bảo vệ chủ quyền và phát triển đất nước mà nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 11 chưa khiến ông (và chắc chắn là rất nhiều người nặng lòng với đất nước ) yên tâm. Trong đó vấn đề bản chất của nhà nước hiện hành chắc là đề tài gây nhiều tranh cãi. Có một chuyện khá tế nhị, “tưởng dzậy mà không phải dzậy”. Đó là chuyện “linh hoạt, sáng tạo” của người cai trị. Tất nhiên “linh hoạt, sáng tạo” thì không thể có nhà nước pháp quyền, thì sẽ có nền hành chính không giống ai, sẽ vô chính phủ, phe cánh, mafia… Nhưng cũng chính “linh hoạt, sáng tạo” nên mới có Nghị quyết 6 phá vỡ vòng kim cô của “chủ nghĩa xã hội” về kinh tế. Đó là mặt tích cực của “linh hoạt, sáng tạo” trong hoàn cảnh ta cứ bị cái bóng của “hai ông Tây có râu” nó đè mãi không thoát ra nổi nên cứ phải hô to “kiên trì”. Vậy các nhà cai trị kỳ này lại “linh hoạt, sáng tạo” một lần nữa để giải phóng sức bật của đất đai khỏi cái gông “công hữu”, giải phóng sức sáng tạo của người dân khỏi cái cùm “độc… lãnh…”. Cứ thế mà “diễn biến” dần cho đến đứt cái đuôi “định hướng”. Xong việc rồi ta sẽ thề đoạn tuyệt với “linh hoạt, sáng tạo” để quyết trung thành với nguyên tắc dân chủ pháp quyền. Khi ấy mới mong “dân giàu, nước mạnh” để không ai có thể “thỏa hiệp trên lưng mình”.
Bauxite Việt Nam

Một vị tướng (vừa trở thành Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam) trả lời phỏng vấn rất mạnh, hợp lòng dân, bộc lộ ý chí của một dân tộc tự quyết định vận mệnh của đất nước: Không để nước khác thỏa hiệp trên lưng mình. Trăm năm qua, đã mấy lần Việt Nam trơ mắt nhìn người ta bắt tay thỏa hiệp trên lưng? Đã phản ứng thế nào? Nếu người ta lại thỏa hiệp lần nữa thì Việt Nam hành xử ra sao? Thử xem bằng cách nào Đảng biến lời nói thành sức mạnh chặn đứng những bàn tay bẩn thỉu âm mưu “đẩy tốt qua sông” lần nữa (thỏa hiệp trên lưng hay bắt tay qua đầu khi có cùng một điều kiện: kẻ có lưng sẵn sàng khòm, có đầu sẵn sàng cúi).
Có thể khẳng định, một nhà nước tồi với một dân tộc hèn thì tránh sao được việc người ta “múa gậy vườn hoang” trên vận mệnh dân tộc mình.
Nói về nhà nước, trước hết phải xem xét từ kiểu nhà nước (quốc gia, chính quyền).
Đặc điểm của nhà nước hình thành sau mỗi cuộc khởi nghĩa nông dân thành công là:
-Bộ máy cai trị cha truyền con nối (phụ thừa tử kế, con thầy chùa lại quét lá đa)
-Công hữu tài sản (chủ yếu là đất đai, dạng của cải quan yếu nhất của nền kinh tế nông nghiệp tuy đã phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại, “đất đai” là nhân tố quyết định nổ ra khởi nghĩa nông dân).
-Nhà nước vô chính phủ (cai trị bằng ý chí của giai cấp thống trị đại diện bởi vị hoàng đế danh nghĩa – tập trung dân chủ hay dân chủ tập trung gì đấy). Nhà nước ấy tất yếu là duy ý chí, điều hành bởi lợi ích phe nhóm, thỏa hiệp phe nhóm, coi nhà nước pháp quyền là thứ yếu, thậm chí là thù địch, là âm mưu diễn biến hòa bình. Luật pháp chỉ áp dụng cho thứ dân.
-Quan hệ xã hội là quan hệ trên-dưới, lớn-nhỏ, chủ-tớ.
-Quyền lực cai trị là tập hợp các thế lực, các thủ lĩnh của mỗi thế lực tạo địa bàn cát cứ khi mạnh lên sẽ tiêu diệt các thế lực khác, chưa mạnh hẳn thì thỏa hiệp phân chia quyền lực. Ông vua chỉ còn là “nhân danh”.
-Ngay khi cuộc khởi nghĩa nông dân toàn thắng thì đã manh nha trong lòng nó một cuộc khởi nghĩa nông dân khác.
Mô hình cai trị sau khởi nghĩa nông dân thành công từng bị những nhà lý luận Mác-xít kết án là phản bội giai cấp.
Xét khái quát tình hình chính trị xã hội Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thì thấy đúng như vậy. Bộ máy cai trị ở Trung Quốc là Đảng Cộng sản Trung Quốc. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khởi nghĩa nông dân thành công, đi lên từ hai thế lực: thái tử đảng (cha truyền con nối) và đoàn phái (còn gọi là đội hậu bị của Đảng – cũng là thành phần cốt cán – con ông cháu cha, phần còn lại không phải là con ông cháu cha thì chỉ là thành phần “giơ tay nhất trí”), đất đai vẫn được coi là tài sản chủ yếu thuộc quyền quản lý của tầng lớp thống trị (công hữu), ý chí của tầng lớp thống trị là vô đối, trái với ý chí đó đều bị buộc tội là phản động (vụ Lưu Hiểu Ba và Hiến chương 08 là một dẫn chứng. Do đó, giải Nobel Hòa bình cho ông được coi là một cú đánh vào thành trì thống trị của Đảng, là chống phá nhà nước Trung Quốc, thứ nhà nước “khởi nghĩa nông dân”).
Việt Nam giống Trung Quốc đến mức nào?
Nhà nước linh hoạt, sáng tạo hay nhà nước vô chính phủ và cơ chế thủ lĩnh?
Do thói quen hay cố ý, khái niệm nhà nước và chính quyền thường dùng thay thế nhau gây nhầm lẫn. TS Cù Huy Hà Vũ bị cáo buộc tội chống nhà nước (Xhcnvn) nhưng xét việc làm của ông thì “nhà nước” ở đây là “chính quyền”, không phải là “quốc gia”. Phản đối chính quyền, phê phán chính quyền, buộc tội chính quyền không coi trọng lợi ích quốc gia, dân tộc, chỉ chú ý vun vén lợi ích phe nhóm, xâm hại lợi ích quốc gia thì không phải là chống nhà nước. Việc ấy, trong các xã hội trọng pháp, người công dân có quyền làm dựa trên luật pháp. Cũng không chừng, việc bắt vị tiến sĩ luật là theo phương thức “thần thiêng nhờ bộ hạ”, bộ hạ thực hiện mà thần muốn còn thiêng nên cũng phải gật đầu (tức là thực quyền nằm ở bên dưới). Xét rộng ra, theo tôi, những việc làm rất có trách nhiệm của TS Cù Huy Hà Vũ là để bảo vệ, kiện toàn nhà nước ở cả hai nghĩa: quốc gia, chính quyền.
Tại một địa phương, vị Chủ tịch UBND bị “đấu tố”: làm gì cũng luật và luật, không có năng lực sáng tạo, linh hoạt. Vị Chủ tịch bị mất chức, bị thuyên chuyển. Ở một địa phương kế cận, vị Chủ tịch UBND lại được khen biết làm việc, rất linh hoạt. Vị này được cho đi tham quan, học hỏi nước anh em, tương lai còn lên. Sáng tạo, linh hoạt chính là mị dân, tùy tiện, vô chính phủ, bất chấp luật lệ, lợi ích nhân dân, quốc gia (một thứ chủ nghĩa dân túy kiểu châu Á?). Nhưng tại sao đảng cầm quyền đánh giá cao những đảng viên “sáng tạo, linh hoạt”, lên án những đảng viên nào có ý thức về kỷ cương, luật pháp là chống Đảng? Phương thức điều hành việc nước của đảng cai trị nói lên điều đó. Đó là phương thức “kiên định, sáng tạo” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong dự thảo nghị quyết đại hội Đảng lần thứ XI. “Kiên định, sáng tạo” phải chăng là tùy tiện, duy ý chí, coi nhẹ lợi ích của nhân dân, đất nước?
Vụ khai thác bauxite ở Tây Nguyên, vụ phá sản tập đoàn Vinashin, đại dự án đường sắt cao tốc, bán đất rừng… cũng nằm trong “phạm trù” nhà nước (chính quyền) linh hoạt, tùy tiện, nhân danh nhà nước (quốc gia) làm những việc xâm hại an ninh quốc gia. Chứng minh ai đó nhân danh Đảng chấp chính hay nhà nước, làm trái luật có hại cho dân tộc là không khó. Nhà nước linh hoạt, tùy tiện thực chất là nhà nước vô chính phủ. Một nhà nước vô chính phủ lại buộc tội người khác chống phá nhà nước, vi phạm pháp luật thì có hợp lý, hợp lẽ? Không hợp lý lẽ nhưng phải chăng hợp với quyền lợi của từng phe nhóm, từng vùng ảnh hưởng của các thủ lĩnh trong đảng cai trị?
Một vài dẫn chứng cho thấy cai trị kiểu “vô chính phủ” đã đưa đất nước lâm vào tình trạng tệ hại hiện nay:
-Về nội trị
1/Tấm bản đồ lốm đốm
Trong Hội thảo góp ý cho văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI do Hội Khoa học Kinh tế và Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội Quốc gia (Bộ Kế hoạch – Đầu tư) tổ chức, với sự tham dự của 22 trí thức – đảng viên cao cấp, đại diện Văn phòng Trung ương Đảng, Hội đồng Lý luận Trung ương, có một vị yêu cầu Đảng, Nhà nước công khai bản đồ Việt Nam ghi rõ các nơi có sự đứng chân của Trung Quốc. Nếu Đảng, nhà nước làm việc đó thì bản đồ Việt Nam là một thứ lốm đốm, da báo, xôi đậu (một thứ dư đồ rách của Tản Đà).
(Nguyễn Trung: “Tôi chỉ xin đề nghị thế này, nếu Đại hội chưa làm được cái việc này xin làm ơn vẽ cho một cái bản đồ của nước ta ở những địa điểm nào Trung Quốc có những xí nghiệp gì. Các anh chỉ cần nhìn vào cái bản đồ này thôi các anh sẽ thấy vấn đề nó ra làm sao.”). (Toàn văn hội thảo nghe, xem tại đây).
Vậy TS Cù Huy Hà Vũ chống nhà nước nói chung – là quốc gia (thực chất, chống như vậy cũng là vô chính phủ) – hay chống loại nhà nước (chính quyền) rước người ngoài vào “chiếm đóng”, “khai thác”, khuynh loát đất nước? Xét các cáo buộc của vị tiến sĩ luật thì thấy ông không chống nhà nước, ông chỉ chống những người nhân danh lợi ích đảng cai trị, nhà nước làm khốn quốc gia.
Tấm bản đồ lốm đốm, xôi đậu còn cho thấy tư tưởng nước lớn nước nhỏ, dưới trên, chủ tớ của văn hóa Khổng Nho được Đảng Trung Quốc hiện đại hóa về ngôn từ (anh em đồng chí “4, 16” gì đấy).
2/ Hành tinh Oxy
Là nhan đề cuốn truyện khoa học giả tưởng của một nước Đông Âu ("Hành tinh Oxy" của Klara Seher, nữ văn sĩ người Hungary (?), đã được dịch và nhà xuất bản Kim Đồng phát hành 30 năm trước). Trên hành tinh này có một thiên đường của tầng lớp cai trị thừa mứa oxy và một địa ngục mà oxy được bọn thống trị cấp phát hàng ngày như một thứ ân huệ hoặc trừng phạt.
Ở Việt Nam, thỉnh thoảng nghe nói ông này, bà kia chỉ dùng rau trái sạch trong nhà kính, có bệnh viện riêng rất hiện đại, ăn uống hàng ngày cũng khác dân thường (BBC: Phở cộng sản)… Trung Quốc và Việt Nam có những đặc điểm của hành tinh “thiên đường oxy”? Việt Nam hiện nay có không một tầng lớp ngồi ở trên và đại bộ phận sống lay lắt ở dưới? Ai đụng đến “thiên đường oxy” đều bị khoác tội “chống phá nhà nước XHCN”?
3/”Kẻ ăn không hết, người lần không ra”
Vinashin mất khả năng chi trả nợ đến hạn, Evn thì tự thú đang đứng ở chân tường và kiên quyết tăng giá điện trong năm 2011 (xem tại đây )… Nhiều ý kiến chuyên môn nói nợ quốc gia ở mức báo động nhưng chưa nghe Đảng khẳng định nợ nhà nước đang ở mức an toàn. Trong khi đó các đại gia ngày càng giàu, các nhà văn, nhà báo có tâm huyết gọi họ là “trọc phú” do cách xài tiền “kiểu Mỹ”. Trong một xã hội phần nhỏ “ăn không hết”, phần lớn “lần không ra”, của cải xã hội nhiều lên do đổi mới chủ yếu nằm trong tay ai? Sự sụp đổ, nợ nần, thua lỗ của các tập đoàn nhà nước làm ai giàu lên, ai nghèo đi, thành phần nào trong xã hội dễ bị tổn thương do các cuộc khủng hoảng sinh ra từ đường lối, chính sách “vô chính phủ”?
Về ngoại giao
4/ Bán và mất
Phải bán gì và phải mất gì để Việt Nam trở thành “hành tinh Oxy”? Một quyền lực cai trị không thể không linh hoạt, không thể không vô chính phủ là vì lẽ gì? TS Cù Huy Hà Vũ và những vị đang ngồi tù vì tội “chống phá nhà nước” có lẽ tin rằng có thể chuyển hóa một nhà nước (chính quyền) lạc hậu, vô chính phủ, chia năm xẻ bảy thành một nhà nước thống nhất, văn minh, hiện đại, thượng tôn pháp luật? Có thể chặn đứng việc “bán” và “mất” những thứ quý giá nhất của Tổ quốc? Theo tôi, sau Đại hội, Đảng nên mở một đợt sinh hoạt chính trị nội bộ, cung cấp đủ thông tin về “bán” và do đó bị “mất” những gì cho 3,5 triệu đảng viên và người dân biết. Có làm được không? Ít ra là nên cho đảng viên và người dân biết về “tấm bản đồ lốm đốm” và “tình hình biển Đông không có gì mới”.
5/ Ý bạn là ý trời?
Vụ hai lãnh đạo cũ kết tội ông Nguyễn Văn An, nguyên Chủ tịch Quốc hội tội chống Đảng do ông ấy đề nghị sửa hiến pháp (xem tại đây), vụ bauxite Tây Nguyên được nói là “chủ trương lớn” của Đảng, đường sắt cao tốc được khẳng định không thể không làm,… những việc lớn đó là theo ý muốn của ai? Dư luận trong, ngoài nước nói Việt Nam không thoát ra được cái bóng của Trung Quốc, không thể có độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ? Ai đã đưa đẩy đất nước vốn “ra đường gặp anh hùng” đến tình trạng tồi tệ đó?
6/ Kim chỉ nam hay kim chỉ bắc?
Một nhà nước sinh ra từ cuộc khởi nghĩa nông dân thì luôn là một nhà nước vô chính phủ, mất định hướng, phát triển tùy tiện dù cho nó tự nói về kim chỉ nam, ánh sáng của chủ nghĩa này, tư tưởng nọ nếu nhà nước ấy không bước ra khỏi truyền thống, tập quán vô chính phủ của các cuộc khởi nghĩa nông dân có trong lịch sử Trung Quốc, Việt Nam. Dù nói gì thì kim chỉ nam của cuộc cách mạng vẫn là “sáng tạo”, “linh hoạt”, “vô chính phủ” để Đảng tiếp tục lãnh đạo đất nước đi tới chủ nghĩa xã hội. “Kim chỉ nam” nào chỉ ra con đường chuyển cuộc khởi nghĩa nông dân thành ra cuộc cách mạng dân chủ, nhà nước pháp quyền như Đảng Cộng sản Việt Nam tuyên truyền ở những ngày đầu của cuộc khởi nghĩa?
Không thấy có con đường nào, không có con người nào, không có kế sách nào vì chính trị thì cấm đa đảng, kinh tế thì công hữu về thực chất và nước ngoài đang đứng chân trên nhiều địa bàn trọng yếu của tổ quốc Việt Nam. Trong tình hình đó muốn giữ vững ổn định chính trị thì chỉ có một cách: xây thêm nhà tù, tăng cường lực lượng trấn áp… Có người nói, định hướng thế nào được khi “kim chỉ nam” lại là “kim chỉ bắc”?
Tùy tiện, tùy hứng vẫn là cách làm việc nước phổ quát với khẩu hiệu “kiên định” và “sáng tạo” làm cho xã hội lúng túng như gà mắc tóc.
Chưa rõ đảng cai trị giải quyết hình thái chiếm hữu và quan hệ xã hội chủ-tớ thế nào để đến năm 2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp văn minh tiến bộ, giữ được độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phát triển bền vững. Cũng chưa thấy đảng cai trị làm gì để cải tạo chế độ chính trị dựa trên thành tích “khởi nghĩa nông dân” khi vẫn cứ coi “quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (tức là lãnh đạo cho đến khi nào có chủ nghĩa xã hội) là lý tưởng chính trị của Đảng. Có thứ chủ nghĩa xã hội nào không coi công hữu của cải xã hội là mục đích? Lịch sử nhân loại chưa có bằng chứng về công hữu tài sản có tên chủ nghĩa xã hội mà chỉ có tên gọi cho kiểu chiếm hữu ấy là quân chủ phong kiến – coi của cải nói chung là của nhà vua, nhân dân là tôi tớ của nhà vua.
Cuối cùng là chưa thấy đảng cai trị làm gì để không bị nước lớn bắt tay nhau trên đầu (trên lưng?) khi phương thức cai trị đã làm suy đồi mọi thứ kể cả lòng tin của người dân vào chế độ, vào bộ máy cai trị và các giá trị nhân văn khác.
Vị tướng trả lời phỏng vấn (thể hiện ý Đảng) có chí khí nhưng cũng “lực bất tòng tâm”, chỉ tại cái “la bàn chỉ bắc” làm cho “lòng dân đổi khác”.
T. M. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

--------------------------
Đăng bỡi: Tranhung09
*****

Gài độ