30/11/2010

Những lễ hội mang mầu…máu

Hiệu Minh: 



Đấu bò tót Tây Ban Nha
Nhìn thấy chú trâu là thấy nền văn minh lúa nước, thấy làng quê, nơi yêu dấu của hàng triệu người Việt. Có nên mang biểu tượng Việt Nam ấy ra giết một cách man rợ và khoe với bạn bè quốc tế?
Bài viết này bắt đầu là của bác Trần Thiềm. HM đăng lên blog nhưng sau thấy nhiều phản hồi hay quá nên tác giả blog đã “Hiệu Minh hóa” thành bài báo và gửi cho KD đăng. Đây là bài báo có công lao chung của bạn đọc tờ Cua Times. HM chỉ là tay nhặt chữ và ghép lại với nhau. Bây giờ nhuận bút chia thế nào đây.
Cảm ơn bác Trần Thiềm và các bạn đã phản hồi.

Mùa hè vừa qua, người bạn đưa hai đứa con (7 và 9 tuổi) về thăm Hà Nội sau 5 năm sống xa Tổ quốc. Chiều chiều, cả nhà dạo chơi phía hồ Tây. Có một gia đình bán gà chân chì Phú Thọ, anh nghe nói thịt rất ngon. Sau khi chọn được 1 con vừa ý, anh bảo người bán hàng làm thịt hộ.
Trước mặt hai cu cậu, người giúp việc thản nhiên cứa cổ con gà, máu phun phè phè. Nhìn cảnh đó, 2 đứa bé nhắm mắt, hét toáng lên. Ông bố đứng cười vì thuở nhỏ vẫn xem người lớn “hóa kiếp này sang kiếp khác” các loại gia súc ở quê. Người ta còn cho chú gà vào nồi nước sôi. Chú gà giãy đành đạch mãi mới chết hẳn.
Tới bữa cơm, hai đứa nhất định không ăn trong khi món thịt gà là món ưa thích của chúng khi ở nước ngoài.
Sự xung đột “văn hóa giết gà” xảy giữa ngay tại gia đình nhỏ bé ấy.
Lễ hội đẫm máu xứ người
Có lần, một người bạn gửi email cho xem một loạt ảnh về lễ hội thảm sát cá heo ở hòn đảo Faroe của Đan Mạch, tôi xem mà không khỏi rùng mình. Cả một vùng biển đỏ ngầu máu. Hàng trăm con cá heo bị tàn sát bằng các kiểu khác nhau. Đây vẫn coi là lễ hội truyền thống giết cá voi và cá heo của đảo Faroe và được coi là nét văn hóa của người dân nơi này.

Cá voi bị giết ở Faroe 8-2010
Hình ảnh man rợ đó được truyền trên email khắp thế giới và gây phẫn nộ trong dân chúng yêu động vật. Hàng triệu người kêu gọi xứ đảo Faroe xóa bỏ hủ tục.
Nếu ai từng đi du lịch Tây Ban Nha vào dịp có đấu bò tót thì chắc sẽ cố tìm cái vé, dù đắt mấy, để cùng với hàng trăm ngàn người hò reo, cổ vũ, rồi thán phục và cả khóc nức nở khi chú bò bị đấu sỹ đâm nhát kiếm cuối cùng, khiến bò đổ gục xuống.
Bò tót hung hãn được thả rông ra trường đấu, rồi đấu sĩ xuất hiện trong bộ trang phục cổ xưa với kiếm và miếng vải đỏ. Để gây hồi hộp, đấu sỹ phải lừa cho bò tót lao vào mình, rồi uyển chuyển uốn lưng tránh cú húc chết người. Thỉnh thoảng, anh lại đâm nhử chú bò để cho nó thêm hăng máu. Nhát kiếm cuối cùng sẽ kết liễu chú bò và màn tiệc đầy máu mới kết thúc.
Đôi lúc, đấu sỹ nhầm hay trượt chân thì cú húc của chú bò tót nặng hàng tấn sẽ đưa matador về thế giới bên kia, trước sự chứng kiến của hàng vạn người.
Giống như chuyện tàn sát cá heo của người Đan Mạch, nhiều người đã kêu gọi nên hủy bỏ những trận đấu bò tót bởi sự nguy hiểm và sự tàn nhẫn đối với súc vật. Nhưng với nguời Tây Ban Nha, đấu bò tót không chỉ là một truyền thống, lòng tự hào dân tộc mà là còn được coi như một “tín ngưỡng”.
Thật lạ lùng, xứ yêu cây đàn ghi ta, thích rượu vang, yêu đương lãng mạn, nhưng lễ hội đấu bò tót lại có máu đổ. Máu của đấu sỹ, máu của bò và sự man rợ của những người chứng kiến đan xen nhau, tạo nên một lễ hội khác mang sắc mầu đỏ. Nhưng ai dám bảo người Tây Ban Nha không văn minh và hiện đại.
Còn biết bao lễ hội đẫm máu khác đã, đang và sẽ còn trên thế gian này, khó mà kể hết. Ngay cả xứ ta vẫn còn rất nhiều và ngày càng biến tướng khác thường.
Lễ hội đâm trâu Tây Nguyên
Một người Việt sống ở nước ngoài lâu năm bức xúc viết trên một blog về lễ hội đâm trâu của đồng bào dân tộc Tây Nguyên. Gia đình bác từng xem trên kênh truyền hình VTV4 gửi đi khắp thế giới.
Người ta buộc con trâu vào một cây cột giữa bãi đất trống. Những người đàn ông khỏe mạnh, đóng khố, cầm một đoạn tre chừng vài mét, đầu có buộc một con dao nhọn. Họ xếp hàng, nhảy múa, lần lượt đâm con trâu cho máu phun  ra.
Trong lúc đó, xung quanh rất đông người xem, già trẻ, gái trai, lớn bé, nét mặt hân hoan vui sướng, miệng hò reo lẫn trong tiếng cồng chiêng vang dội.
Xem video đâm trâu Tây Nguyên trên YouTube  http://www.youtube.com/watch?v=RkdGH-JlqSo
Con trâu lúc đầu còn sung sức, nhảy lồng lên, máu túa ra. Dần dần bị đâm nhiều nhát, mất máu, kiệt sức, con trâu từ từ khuỵu xuống lăn ra đất. Nào nó đã được tha đâu. Người ta vẫn tiếp tục đâm cho tới khi chết hẳn. Nếu khôn như loài khỉ, chắc con trâu tội nghiệp sẽ chắp hai chân trước lạy van xin tha mạng.
Hôm ấy trong nhà bác có đông người ngồi xem. Nhìn cảnh ấy không ai chịu nổi. Nhất là các bà, các chị và trẻ em, người nhắm mắt, kẻ quay đi.
Phóng sự được phát trên VTV4, chủ yếu để giới thiệu với bà con người Việt mình ở nước ngoài. Bạn thử tưởng tượng, dâu Tây, rể Tây hoặc con cái họ ngồi xem, có lẽ với những người này, nỗi khiếp sợ tăng lên gấp bội.
Hai cậu bé của người bạn chắc phải nhắm mắt như đã xem cắt tiết gà ở Hồ Tây (Hà Nội). Nhưng các chú không biết, ở bên Mỹ, người ta treo các chú gà công nghiệp đang còn sống và cho qua phòng hơi nước nóng hàng trăm độ. Các chú cũng dãy đành đạch và thành “khỏa thân” khi đến cuối dây chuyền của lò sát sinh.
Rất nhiều dân tộc ở Tây Nguyên đều tổ chức lễ hội đâm trâu. Mỗi nơi có cách làm khác nhau. Nhưng tựu trung, nghi lễ đâm trâu là phần quan trọng bậc nhất của lễ hội. Các tráng sĩ được trang bị lao dài sẽ giết trâu, vừa phóng lao vừa biểu diễn các bài võ thuật. Con trâu bị giết được đem xẻ thịt nhỏ chia cho các nhà trong buôn làng cùng liên hoan.
Kể ra thì còn nhiều lễ hội khác không kém phần man rợ theo cách nhìn của những người chưa hiểu hết ý nghĩa sâu xa của lễ hội. Nhưng với người trong cuộc và hiểu biết về phong tục thì quan niệm lại khác.
Xung đột văn hóa
Nhiều người cho rằng, lễ hội đâm trâu như trên là một nét văn hóa, là truyền thống, cần được bảo tồn. Tìm hiểu kỹ thì biết được, đêm trước cả làng đã khóc con trâu trước khi bị đâm. Lễ hội đâm trâu để tỏ rõ sức mạnh của con người, cầu mùa màng. Lễ nghi đó có từ lâu đời và chỉ người trong cuộc mới hiểu.
Tổ chức những lễ hội có máu chảy đầu rơi dù của loài vật, cần phải nhìn nhận lại và tổ chức một cách chừng mực. Sự xung đột văn hóa dễ xảy ra giữa các quốc gia, các miền đất và các dân tộc  trong thế giới hội nhập, nhất là trong bối cảnh các phương tiện thông tin đại chúng và internet bùng nổ. Nếu không biết lựa chọn thì đôi khi lễ hội trên trở thành con dao 2 lưỡi.
Nhưng không ít người cho rằng, đó là sự man rợ. Việc trói một con vật để cho nhiều người dùng giáo mác đâm nó, dân chúng xung quanh reo hò trước cái chết từ từ và hết sức đau đớn của con vật là một cảnh phi nhân và không thể biện minh.
Người ta còn kết luận, khi con người đã độc ác với súc vật, quen với máu đổ thì sẵn sàng xin “tí tiết” đồng loại mà không thấy ghê tay, những trẻ nhỏ lớn lên trong môi trường lễ hội đầy máu ấy dễ thành những người vô cảm trước sự đau đớn của giống nòi.
Với lễ hội đâm trâu cần xét thấu đáo. Con trâu là biểu tượng muôn đời của nước Việt. Nhìn thấy chú trâu là thấy nền văn minh lúa nước, làng quê dưới lũy tre xanh, đồng lúa thanh bình, nơi yêu dấu của hàng triệu ngượi Việt, dù có đi góc biển chân trời.
Chúng ta có nên mang biểu tượng Việt Nam ấy ra giết một cách man rợ và khoe với bạn bè quốc tế về món thịt của “đầu cơ nghiệp”?
Giải quyết như thế nào đây?
Những lễ hội mang màu máu kể trên là truyền thống, là nét văn hóa hay là hủ tục cần phải loại bỏ? Một bạn đã viết rằng, về mặt nghi thức, nó là những phong tục của đồng bào mỗi vùng miền, dân tộc khác nhau. Mà đã là phong tục thì rất khó mang các “chuẩn mực” quốc tế vào để đánh giá.
Nếu khen – ta nói đó là mỹ tục, nếu chê – gọi là hủ tục. Đó là câu hỏi luôn làm nhức nhối những nhà văn hóa có tâm huyết và hiểu biết.
Nhìn ra thế giới sẽ còn nhiều lễ hội “điên khùng” hơn. Nhiều người xem, do thiếu hiểu biết về văn hóa của chủ nhà, đã “lắc đầu, lè lưỡi” và thốt lên “dã man”.

Bác Chủ tịch Triết đi cày.
Rất nhiều lễ hội mang màu máu không xấu như người ta vẫn tưởng. Vấn đề là phải truyền tải được tính nhân văn, tính nghi lễ và tính giáo dục thông qua lễ hội và thông qua chính việc quảng bá lễ hội ấy.
Tuy nhiên, việc truyền hình trực tiếp, đưa tin với các hình ảnh máu đỏ lòm trên các phương tiện thông tin đại chúng, thì quả thật, nhiều hội hè kiểu đó đã đi quá xa.
Nhớ chuyện 2 đứa con của người bạn không ăn thịt gà vì chứng kiến máu đổ của con vật, anh bạn thú nhận, đó là hoàn cảnh sống tạo nên cách nhìn khác nhau về cùng một sự việc. Con khóc, bố cười mà không phải vì thế mà kết luận bố mất nhân cách hay đứa con văn minh.
Tổ chức những lễ hội có máu chảy đầu rơi dù của loài vật, cần phải nhìn nhận lại và tổ chức một cách chừng mực. Sự xung đột văn hóa dễ xảy ra giữa các quốc gia, các miền đất và các dân tộc  trong thế giới hội nhập, nhất là trong bối cảnh các phương tiện thông tin đại chúng và internet bùng nổ. Nếu không biết lựa chọn thì đôi khi lễ hội trên trở thành con dao 2 lưỡi.
Đi tìm câu trả lời thỏa đáng, không phải là từ phía người xem, mà chính là từ những người làm văn hóa và tổ chức lễ hội. Nếu không, ngay trong một gia đình vẫn có thể cãi cọ với nhau về cách làm thế nào để giết một con gà như nhà người bạn trên kia.

Trần Thiềm và Hiệu Minh. 24-11-2010.

---------------------

Bạc !

Tui không phải là người bảo thủ và hoài cổ, nhưng không hiểu sao nghĩ đi nghĩ lại, cứ thấy các thế hệ trước sản sinh ra những con người thật đáng ngưỡng mộ.  
Không tính các vị trí cao hơn, thì hàm phó thủ tướng, bộ trưởng trở xuống, nhắc đến cái tên nào cũng thấy lẫy lừng. Không nói đâu xa, gần đây thôi, từ bác Nguyễn Khánh, bác Vũ Khoan, bác Lê Huy Ngọ, bác Trương Đình Tuyển...Rồi bên đoàn thể, mặt trận cũng có những cái tên ngất trời như bác Lê Quang Đạo...
Các bác đó lẩy lừng là vì, trước hết, họ là những trí thức thực thụ. Tiếng Anh, tiếng Pháp họ nói ào ào, đón khách, đi nước ngoài...mặt không ngây ra như bây giờ. Chính vì họ là trí thức nên có lòng tự trọng, vụ án Lã Thị Kim Oanh xẩy ra từ thời bộ trưởng tiền nhiệm nhưng bác Ngọ vẫn dứng dậy xin thôi chức. Tiếc vô cùng!
Xuống nữa, ở các tỉnh thành, cũng có những bác cực kỳ. Ví như tỉnh Quảng bọ nhà tui, tuy là tỉnh lẻ, nhưng cái tên Nguyễn Tư Thoan, Trần Sự nghe oai phong lẫm liệt...Bây chừ về quê, thấy mấy cha rốn lồi, mắt toét làm chức này chức nọ, nói bá túng bá phát, chán ngoét.
Ở Vĩnh Phú có bác Bí thư Kim Ngọc, siêu!
Thầy dạy cũng thế. Hổi trước, tỉnh tui mà nhắc đến tên thầy Hoàng Thái, Trương Tán...không ai không biết. Thầy dạy hay đến nỗi ngồi nghe chảy cả nước dãi không nhớ mà lau. Thầy dạy lớp nào tụi học sinh cũng bu cửa sổ để nghe. Thầy Nguyễn Văn Dược dạy toán khiến học sinh mê toán như điếu đỗ, thầy Mạnh Khoát dạy địa thì học sinh chỉ muốn học môn địa...Nay không thấy (hay hiếm thấy?).
Đi học đại học, vào trường, gặp được những tên tuổi như Hồ Tấn Trai, Vương Ngọc Lễ, Nguyễn Thị Hoàng...đã sướng rơn cái con người. Nay trò không có thầy để ngưỡng mộ, vì thế suốt ngày thầy nghĩ chuyện điểm danh, trò nghĩ đến chuyện thuê người học thay. Đến nỗi Bộ GD-ĐT cũng phải ban hành quy chế đi học chuyên cần là có trong tay 3/10 điểm (chỉ cần thi được điểm 4 (4 x 7= 28 (tức 2,8 điểm), cộng lại đã thành 5,8 điểm, lạ đời.
Làm báo cũng y, không có cây bút để tìm đọc như xưa. Làm báo bây giờ hơn nhau chỉ là sự kiện.
Rồi văn chương, thơ phú cũng thế.
Mà lạ, hình như trời đất tụ khí vào từng thế hệ. Ví như thế hệ chống Mỹ, nhiều sinh viên học sinh miền Bắc đi bộ đội hay anh chị em trong đấu phong trào sinh viên học sinh đô thị miền Nam, thế hệ sinh đó ra những con người trứ danh cho đến nay, trong cơ chế thị trường, làm kinh tế, họ vẫn trứ danh!
Người ta bảo vận nước vượng thì sinh ra nhiều người tài. Không biết đúng không?
*
Tin vui: Đoàn thể thao VN có một Huy chương Vàng! (Vui là vì mấy hôm nay thấy bạc phếch).


---------------------

Wikileaks là gì, có tài liệu liên quan đến Việt Nam không?

Thời gian gần đây, hàng loạt các bài báo nói về việc Wikileaks chuẩn bị công bố tài liệu mật lớn nhất từ trước tới nay liên quan đến nhiều quốc gia trên thế giới. Liệu Việt Nam chúng ta có ảnh hưởng hay liên quan gì đến việc này không, và ta luôn tự hỏi  Wikileaks là gì, hoạt động như thế nào, qui mô ra sao? Dưới đây sẽ là lời giải đáp cho những câu hỏi này
 Jonathan Fildes

Ông Assange là người sáng lập ra Wikileaks
Wikileaks là gì?
Trang mạng chuyên tung tin nội gián, Wikileaks, một lần nữa lại trở thành tâm điểm chú ý.
Wikileaks mới tung ra một loạt các tài liệu mật của Mỹ, mà lần tung tin này, họ nói, lớn hơn rất nhiều so với các đợt tung tài liệu về Afghanistan và Iraq.
Tháng trước, Wikileaks đưa lên mạng gần 400 ngàn tài liệu cho biết chi tiết về các sự kiện tại Iraq sau cuộc chiến của Mỹ năm 2003 – chỉ vài tháng sau khi đã tung ra 90 ngàn tài liệu mật gồm các phúc trình về tình báo và các biến cố quân sự Mỹ tại cuộc chiến ở Afghanistan.
Đây là vụ mới nhất trong một loạt các vụ “rò rỉ thông tin” của trang mạng vốn nổi tiếng vì ấn hành các tài liệu nhạy cảm của các chính phủ và các tổ chức được nhiều người biết đến.
Chẳng hạn vào tháng 4/2010, Wikileaks đưa lên trang mạng của họ video cho thấy một chiếc trực thăng Apache của Mỹ giết chết 12 người, trong đó có hai phóng viên Reuters, trong một trận tấn công ở Baghdad năm 2007. Một phân tích gia quân sự của Mỹ hiện đang đợi bị đưa ra xét xử vì tội để lộ video này, cùng các tài liệu nhạy cảm về quân sự và ngoại giao khác.
Vào tháng 9/2009, Wikileaks đưa ra một loạt danh sách và địa chỉ của những người mà họ nói là thuộc về đảng cực hữu BNP của Anh. BNP sau đó nói danh sách này là “sự giả mạo ác ý”.
Và trong cuộc bầu cử Mỹ năm 2008, Wikileaks còn cho ra các bức ảnh chụp lại màn hình chứa hộp thư email, ảnh và sổ địa chỉ của ứng viên cho chức phó Tổng thống Mỹ là bà Sarah Palin.
Các tài liệu gây tranh cãi khác được trang mạng này đưa ra bao gồm một bản Quy trình Hoạt động chuẩn tại Trại Delta, là tài liệu đưa ra chi tiết những hạn chế đối với tù nhân tại vịnh Guantanamo.
Tranh chấp pháp lý
Wikileaks gây ra nhiều tranh cãi khi xuất hiện lần đầu tiên trên mạng vào tháng 12/2006 và hiện vẫn gây nhiều ý kiến chia rẽ. Một số người coi đây là tương lai của báo chí điều tra. Một số khác lại coi đây là hiểm họa.
Vào giữa tháng 3/2010, giám đốc mạng này là Julian Assange đưa ra một tài liệu được cho là của tình báo Mỹ, nói rằng Wikileaks là “mối đe dọa tới quân đội Hoa Kỳ”.
Chính phủ Mỹ sau đó khẳng định với BBC tài liệu đó là thực.
Một người phát ngôn cho quân đội Mỹ nói với BBC: “Việc ấn hành không được phép các tài liệu nhạy cảm của Bộ Quốc phòng trên Wikileaks sẽ cung cấp cho các dịch vụ tình báo nước ngoài những thông tin mà họ có thể sử dụng để gây hại cho quân đội và các lợi ích của Bộ Quốc phòng”.
Wikileaks giờ đây tuyên bố họ đã có trong tay hơn một triệu tài liệu.
Bất cứ ai cũng có thể cung cấp thông tin cho Wikileaks mà không cần nêu danh, nhưng một nhóm các chuyên gia đánh giá – là những người tình nguyện từ truyền thông chính thống, các phóng viên và nhân viên của Wikileaks – sẽ quyết định đăng tải những gì.
Ông Assange nói với BBC: “Chúng tôi sử dụng công nghệ mã hóa tiên tiến và kỹ thuật hợp pháp để bảo vệ các nguồn tin của chúng tôi”.
Trang mạng này nói họ nhận các “tài liệu mật, bị kiểm duyệt hoặc bị hạn chế mà có tầm quan trọng về chính trị, ngoại giao hay đạo đức”, nhưng họ không lấy các “thông tin hay tài liệu mang tính đồn đoán, phát biểu ý kiến hay tường thuật trực tiếp vốn sẵn có đối với công chúng”.
“Chúng tôi chuyên chú vào việc cho phép những người nội gián muốn nêu ra những sai trái hay các phóng viên bị kiểm duyệt đưa thông tin ra cho công chúng”.
Trang này được một tổ chức mang tên Sunshine Press điều hành và nói là họ được “cấp ngân sách nhờ các nhà hoạt động nhân quyền, phóng viên điều tra, kỹ thuật viên và công chúng”.
Kể từ lần đầu xuất hiện trên mạng, Wikileaks đã phải đối mặt với rất nhiều thách thức về pháp lý, muốn họ phải bị đưa ra khỏi mạng.
Chẳng hạn vào năm 2008, ngân hàng Thụy Sỹ Julius Baer đã thắng kiện, được phép ngăn chặn trang mạng sau khi Wikileaks tung ra “vài trăm tài liệu” về các hoạt động ở nước ngoài của ngân hàng này.
Tuy nhiên, rất nhiều trang mạng anh em khác của Wikileaks – với các máy chủ khác nhau đặt tại nhiều nơi trên thế giới – vẫn tiếp tục hoạt động.
Lệnh của tòa sau đó đã bị bỏ đi.
Vai trò tương lai
Wikileaks tuyên bố cho tới nay, họ đã phải đương đầu với hơn “100 vụ tấn công bằng pháp lý”, một phần là do cái mà họ mô tả là “hệ thống máy chủ chống nổi đạn” của họ.
Ban đầu, trang Wikileaks phần lớn nằm trong hệ thống máy chủ của nhà cung cấp Thụy Điển PeRiQuito (PRQ), vốn nổi tiếng vì còn là máy chủ cho trang mạng chia sẻ dữ liệu The Pirate Bay.
Wikileaks còn có các tài liệu thuộc các ngành tư pháp, trong đó có của Bỉ.
Nhờ có kinh nghiệm xử lý với các đạo luật khác nhau trên thế giới, Wikileaks đã được các dân biểu Iceland nhờ tới để giúp thảo ra kế hoạch cho chương trình Sáng kiến Truyền thông Hiện đại Iceland (IMMI).
Kế hoạch này kêu gọi chính phủ chấp thuận các đạo luật bảo vệ phóng viên và nguồn cung cấp tin cho phóng viên.
Khi đó, ông Assange nói: “Để bảo vệ an toàn cho các nguồn tin của mình, chúng tôi phải phân bố các tài sản, mã hóa mọi thứ, và di chuyển nhân sự cũng như hệ thống viễn thông khắp thế giới để tận dụng các đạo luật bảo vệ tại các hệ thống tư pháp khác nhau”.
“Chúng tôi đã trở nên sành sỏi về chuyện này, và chưa bao giờ bị thua trong vụ kiện nào, hay để mất nguồn cung cấp tin nào, nhưng chúng tôi cũng không mong đợi tất cả mọi người sẽ phải trải qua những nỗ lực phi thường mà chúng tôi phải thực hiện”.
Mặc dù có tiếng tăm, trang mạng này đã phải đối diện với những vấn đề về tài chính. Vào tháng 2/2010, họ ngừng các hoạt động vì không thể trang trải chi phí.
Đóng góp từ các cá nhân và tổ chức đã giúp cứu Wikileaks.
Ông Assange nói với đài BBC rằng trang Wikileaks đã tăng trưởng mạnh mẽ và đã nhận được “rất nhiều tài liệu đặc biệt”.

Wikileaks có nhiều tài liệu về Việt Nam
Tổ chức Wikileaks nói họ có nhiều thông tin từ các cuộc trao đổi giữa các nhà ngoại giao Hoa Kỳ ở Việt Nam và chính phủ Mỹ.
Hiện tổ chức này chưa công bố nội dung của bất kỳ cuộc trao đổi nào.
Số đầu tài liệu mà Wikileaks có được liên quan tới Việt Nam ở mức trung bình cao, đứng thứ 37 so với vị trí thứ 35 của Miến Điện, 33 của Indonesia, 32 của Thái Lan và 5 của Trung Quốc.
Các tài liệu mà trang chuyên tiết lộ thông tin này có được là trao đổi giữa 250 đại sứ quán và lãnh sự quán Hoa Kỳ tại hơn 90 nước trên thế giới với Washington.
Wikileaks cho biết họ có hơn 2.300 bức điện tín gửi đi từ Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Hà Nội và gần 800 từ Lãnh sự quán ở thành phố Hồ Chí Minh.
Trong số hơn 3100 điện tín này có cả những loại thuộc diện ‘mật’.
Hoan nghênh
Cho tới nay Wikileaks mới công bố nội dung của hơn 200 bức điện tín trong số hơn 250.000 bức mà họ có.
Trong số những bức được công bố chưa có bức nào được đánh đi từ Hà Nội hoặc thành phố Hồ Chí Minh.
Các điện tín này là những cuộc trao đổi giữa các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ ở trên khắp thế giới với Bộ Ngoại giao và các cơ quan khác của Mỹ.
Các quan chức Hoa Kỳ lên án việc công bố các tài liệu này và nói rằng nó đe dọa tính mạng của các nhân viên ngoại giao Hoa Kỳ và những người có liên quan.
Tuy nhiên ông Dan Esllberg, người đã công bố 7000 trang tài liệu của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ về cuộc chiến Việt Nam, từng lên tiếng bảo vệ việc công bố các tài liệu của Wikileaks.
Ông hoan nghênh những người đã rò rỉ thông tin quân sự cho Wikileaks trong lần trước đây và nói:
“Tôi từng đối mặt với rủi ro cách đây 40 năm và tôi thấy hoàn toàn đáng đối mặt với khả năng phải đi tù để giúp rút ngắn cuộc chiến… mà cuộc chiến khi đó chúng ta đối mặt là cuộc chiến Việt Nam.”
Theo BBC

Haydanhthoigian tổng hợp

Cách tìm kiếm thông tin trên Internet bằng Google

Một trong các ứng dụng nổi tiếng của Google là công cụ tìm kiếm, công cụ này giúp người dùng Internet có thể dễ dàng tìm được trang Web có các thông tin cần thiết. Google hỗ trợ sử dụng nhiều ngôn ngữ, trong đó có ngôn ngữ tiếng Việt.

Truy cập vào trang Web của Google http://www.google.com/ (tiếng Anh) hoặc http://www.google.com.vn/  (tiếng Việt).
google_search.png 

Để tìm kiếm thông tin, trước tiên cần phải xác định Từ khóa (Key Word) của thông tin muốn tìm kiếm, đây là phần rất quan trọng, từ khóa là từ đại diện cho thông tin cần tìm. Nếu từ khóa không rõ ràng và chính xác thì sẽ cho ra kết quả tìm kiếm rất nhiều, rất khó phân biệt và chọn được thông tin như mong muốn. Còn nếu từ khóa quá dài thì kết quả tìm kiếm có thể không có.
Thông thường chỉ cần nhập từ khóa muốn tìm và nhấn Tìm với Google (Search) hoặc nhấn phím Enter thì Google sẽ cho ra nhiều kết quả tìm kiếm bao gồm địa chỉ liên kết đến trang Web có từ khóa và vài dòng mô tả bên dưới, chỉ cần nhấn trái chuột vào địa chỉ liên kết sẽ mở được trang Web có thông tin muốn tìm.
Nhấn vào nút Xem trang đầu tiên tìm được thì Google sẽ tìm và tự động mở trang Web đầu tiên trong kết quả tìm kiếm.
Các lựa chọn tìm kiếm trên:
  • Web: Tìm trên cả các Web Site.
  • Những trang viết bằng tiếng Việt: Chỉ tìm những trang hiển thị tiếng Việt.
  • Những trang từ Việt Nam: Chỉ tìm những trang từ Việt Nam.
Ngoài ra để cho kết quả tìm kiếm được chính xác hơn Google còn cho phép sử dụng các thông số và điều kiện chọn lọc kèm theo từ khóa. Sau đây là các thông số và điều kiện lọc thông dụng:
  • Loại bỏ một từ nào đó ra khỏi kết quả tìm kiếm
Google sẽ tìm tất cả các trang Web có chứa từ khóa cần tìm nhưng không có từ bị loại bỏ.
Cú pháp: từ khóa -từ loại bỏ 
Thí dụ nhập vào ô tìm kiếm của Google vi tính -máy Google sẽ tìm các trang có từ khóa vi tính nhưng không có từ máy trong đó.
  • Bắt buộc phải có một từ nào đó ra trong kết quả tìm kiếm
Google sẽ tìm tất cả các trang Web có chứa từ khóa cần tìm và bắt buộc phải có thêm từ bắt buộc.
Cú pháp: từ khóa +từ bắt buộc
Thí dụ nhập vào ô tìm kiếm của Google vi tính +máy Google sẽ tìm các trang có từ khóa vi tính và có từ máy trong đó.
  • Rút gọn từ khóa cần tìm
Dùng để đại diện cho một, nhiều ký tự hoặc nhiều từ khóa quá dài.
Cú pháp: Từ khóa * từ khóa
Thí dụ nhập vào ô tìm kiếm của Google máy * tính Google sẽ tìm các trang có từ khóa máy vi tính.
  • Tìm chính xác từ khóa
Google sẽ cho ra các kết quả có chính xác từ khóa được chỉ định.
Cú pháp: "từ khóa"
Thí dụ nhập vào ô tìm kiếm của Google "máy tính" Google sẽ cho ra kết quả là máy tính, nhưng nếu dùng từ khóa máy tính thì kết quả có thể là máy vi tính.
Các điều kiện lọc và thông số kèm theo từ khóa (từ muốn tìm) để giúp cho kết quả tìm kiếm chính xác như mong muốn, các điều kiện lọc này được kết thúc bằng dấu hai chấm (:) và tiếp liền theo sau (không có khoảng cách) là thông số hay từ khóa cần tìm.
  • Tìm từ khóa theo tiêu đề trang web
Google sẽ tìm tất cả các trang Web có tiêu đề chứa từ khóa cần tìm.
Cú pháp: intitle:từ khóa
Thí dụ nhập vào ô tìm kiếm của Google intitle:buaxua Google sẽ tìm các trang có từ buaxua trong tiêu đề.
  • Tìm từ khóa trong một Web Site
Google chỉ tìm các trang có từ khóa trong một web site được chọn đó thôi. Không cần chú ý đến các Web Site khác.
Cú pháp: từ khóa site:website
Thí dụ nhập vào ô tìm kiếm của Google vi tính site:buaxua.vn Google sẽ tìm các bài viết có từ khóa vi tính trong Web Site buaxua.vn.
  • Tìm từ khóa trong địa chỉ trang Web
Google sẽ tìm những địa chỉ liên kết có từ khóa cần tìm.
Cú pháp: inurl:từ khóa
Thí dụ nhập vào ô tìm kiếm của Google inurl:buaxua Google sẽ liệt kê những trang có từ buaxua trong địa chỉ liên kết của nó.
  • Tìm File (tập tin) có cùng loại
Google sẽ tìm những trang có File (tập tin) có cùng loại (ext) và có tên giống từ khóa cần tìm.
Cú pháp: từ khóa filetype:ext
Thí dụ nhập vào ô tìm kiếm của Google vi tính filetype:html Google sẽ liệt kê những File html có từ vi tính.
  • Tìm Web Site có từ khóa liên quan với nhau
Google sẽ tìm những Web Site có từ khóa giống nhau.
Cú pháp: related:từ khóa
Thí dụ nhập vào ô tìm kiếm của Google related:joomla Google sẽ liệt kê những Web Site có từ khóa liên quan với joomla.
  • Tìm lại Web Site không còn hoạt động
Google sẽ tìm những Web Site đã ngưng hoạt động nhưng vần còn lưu trữ trong kho dữ liệu của Google.
Cú pháp: cache:website
Thí dụ: Thí dụ nhập vào ô tìm kiếm của Google cache:www.buaxua.vn Google sẽ liệt kê những trang của Web Site buaxua.vn đã được lưu trữ trong kho dữ liệu của Google.
Có thể sử dụng một trong các điều kiện và thông số trên hoặc ghép chúng lại với nhau.
Thí du nhập vào ô tìm kiếm của Google: vi tính filetype:html site:buaxua.vn sẽ cho kết quả là tất cả các File html có nội dung vi tính trên Web Site buaxua.vn


---------------------

Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang 1981-1988: trận Stalingrad của Việt Nam (PI)

Phamvietdao:


                                                       
 Phạm Viết Đào.

Một số cựu chiến binh ở chiến trường Hà Giang, những người thường theo dõi và yêu mến Blog Phamvietdaonv như Trần Anh Tuấn, Nguyễn Xung Kích, Nguyễn Tiến Viên, Tô Văn Hùng, Bùi Quốc Hải, Đinh Xuân Thu, Nguyễn Quang Bài…đã nhiều lần gọi điện, viết thư mời Phamvietdaonv lên Hà Giang, để chứng kiến, có thêm tư liệu viết về cuộc chiến tranh biên giới đẫm máu, khốc liệt và hình như đang bị chôn vùi vào quên lãng.
Các cựu chiến binh Hà Giang đã rất chăm chú theo dõi kỹ các bài viết về cuộc chiến tại mặt trận Hà Giang trên blog của phamvietdaonv, nhưng đều lấy từ các nguồn khác mà chưa được lấy từ chính mặt trận Hà Giang.
Do vậy, trong 2 ngày nghỉ cuối tuần vừa qua, ngày 23 và ngày 24/10, chủ blog đã lên ôtô khách làm một cuộc dã ngoại lên Hà Giang để thăm lại chiến trường này.
Sau chuyến đi 2 ngày, chủ blog đã thu thập được nhiều thông tin quý giá và khá phong phú về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới khốc liệt và anh hùng của quân dân Hà Giang. Hiện nay chủ blog đang tập hợp và sẽ công bố dần trong ít giờ tới.
Dự kiến, Phamvietdaonv sẽ có loạt bài về mặt trận Hà Giang từ 1981-1988 với tiêu đề chung: MẶT TRẬN VỊ XUYÊN HÀ GIANG 1981-1988: TRẬN STALINGRAD CỦA VIỆT NAM…
Sau khi đã đưa lên mạng theo thứ tự trong loạt bài là bài thứ 2 nhưng cho lên trước nhằm mục đích “ chào hàng “, đó là bài: Bài 2: Nà Cáy trạm tiễu phẫu tiền phương, một Di tích chiến tranh quý…đang được sử dụng làm chuồng dê… Kể từ bài đó đến nay đã gần 1 tháng trôi qua, chủ blog Phamvietdaonv đã gõ cửa nhiều tờ báo “ lề phải “ thuyết phục họ đăng bài về mặt trận Hà Giang giai đoạn 1984-1988; thế nhưng đều không được mặn mà và chỉ nhận được nhứng cái lắc đầu tế nhị…
Chiều qua, chiều 26/11 blog Phamvietdaonv đã kiên nhẫn đến gõ cửa tờ báo thứ 5 nhưng cũng lại thất bại…
Vào quãng độ 2 giờ sáng nay, ngày 27/11 mình đột nhiên thức giấc, người lạnh toát vì vừa thoát khỏi một cuộc rượt đuổi trong một cơn ác mộng. Điểm cuối cùng mà mình bị dồn đến, đến đó thì mình tỉnh giấc đó là đến bên ngôi mộ của chú em; Liệt sĩ Phạm Hữu Tạo, hy sinh tại cao điểm 772 trong trận đánh ngày 14/7/1984; trong thực tế chú em mình không có mộ …Rất nhiều chuyện khủng khiếp mình đã bắt gặp trong cơn ác mộng và không muốn kể lại. Tỉnh giấc mình ngộ ra: Có lẽ những gì con người ta đã hứa với người của cõi âm thì cố gắng mà giữ lời hứa.
Khi lên thăm Vị Xuyên Hà Giang, đi qua những nơi còn ghi dấu những chiến tích ác liệt mình đều thầm hứa với các liệt sĩ khi về sẽ bằng ngòi bút của mình viết lên để mọi người không được quên vong linh và xương máu của các liệt sĩ…Thế nhưng một tháng đã trôi qua mà mình vẫn chưa hòan thành được tâm nguyện và lời hứa đó. Phải chăng vì thế mà mình gặp ác mộng chăng?
Từ hôm nay, mình sắp xếp thời gian để lần lượt công bố những hình ảnh thông tin mà mình thu thập được trong chuyến lên Hà Giang trong tháng mười vừa qua trên blog của mình.
Vào buổi sáng nay, mình đã thắp hương khấn với linh hồn chú em, nhờ chuyển lời xin lỗi tới các liệt sĩ về sự chậm trễ của mình.Rất mong các liệt sĩ đã hy sinh trong các cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới phía bắc nói chung và mặt trận Vị Xuyên Hà Giang tha thứ cho sự chậm trễ của mình…
        Ảnh:  Từ trái sang phải Tô Việt Hùng, Thượng tá, Chủ nhiệm Tổng Hậu cần Trung đoàn T 77; Cựu chiến binh Trần Tuấn Anh và Phạm Viết Đào...

Bài 1: Cuộc tao ngộ ở chốn Bồng Lai
Sáng 23/10 Nguyễn Xung Kích-Chánh văn phòng Mặt trận Tổ quốc tỉnh Hà Giang đã bố trí để mình gặp một số nhân chứng đã từng có mặt trong giai đoạn 1979-1989 tại địa bàn Vị Xuyên Hà Giang tại trang trại của anh; trang trại có tên Bồng Lai khá yên tĩnh và phù hợp với việc kể lại những câu chuyện về chiến tranh năm xưa. Nguyễn Xung Kích nguyên là lính của trung đoàn pháo 411, chiến đấu ở mặt trận Lai Châu, anh đẫ bố trí để tôi trực tiếp gặp các cựu chiến binh Trần Anh Tuấn, người đã điều hành một cơ sở sản xuất 60 vạn mũi tên sắt để rào biên giới từ Hà Giang sang tới Quảng Ninh, Tô Việt Hùng, Thượng tá, Chủ nhiệm Tổng Hậu cần Trung đoàn T 77; Nguyễn Tiến Viên, nguyên pháo thủ của E (Trung đoàn ) 457, Sư 313, Bùi Quốc Hải, Đinh Xuân Thu, Trợ lý hậu cần-Trung đoàn bộ binh 457, Nguyễn Quang Bài, lái xe mặt trận…
Trước khi đưa lên mạng những câu chuyện do những nhân chứng kể lại với mình, xin trích đưa một phần tư liệu về cuộc chiến tại Vị Xuyên-Hà Giang được đăng trên mạng Quân Sử Việt Nam.

Ảnh từ phải sang trái: Tô Văn Hùng, Bùi Quốc Hải, Đinh Xuân Thu, Nguyễn Quang Bài và Nguyễn Tiến Viên

MỘT SỐ DIỄN BIẾN ĐÁNG CHÚ Ý CỦA MẶT TRẬN VỊ XUYÊN-HÀ GIANG

Mặt trận biên giới Vị Xuyên - Yên Minh diễn ra từ tháng 4-1984 đến tháng 4-1989, chia thành 4 thời kỳ :
- Từ 2-4-1984 đến 16-5-1984: địch tiến công lớn, ta phòng ngự.
- Từ 16-5-1984 đến 7-1-1987: ta củng cố phòng ngự, tổ chức tiến công một số điểm bị chiếm đóng, địch tiếp tục tiến công lấn chiếm.
- Từ tháng 2-1987 đến tháng 12-1988: ta và địch đều ngừng tiến công lớn, chủ yếu củng cố phòng ngự và bắn pháo.
- Từ tháng 12-1988 đến tháng 4-1989 : địch ngừng bắn phá và bắt đầu rút dần các điểm lấn chiếm.
Phía ta 7 lần thay phiên các sư đoàn chủ lực lên chiến đấu:
-QK1 có eBB981, 982, 983.
-QK2 có fBB313, 314, 316, 356; lữ CB 543, lữ PB 168, lữ PK 297, eXT406, eTT604, eVT652, các d đặc công, trinh sát, các đơn vị địa phương của BCHQS tỉnh Hà Tuyên và eBB754 của BCHQS tỉnh Sơn La.
-Đặc khu Quảng Ninh có eBB568/fBB328.
-Các đơn vị chủ lực Bộ có fBB312/QĐ1, fBB325/QĐ2, fBB31/QĐ3, lữ PB 368/BTL Pháo binh...
-Ngoài ra còn nhiều đơn vị cấp tiểu đoàn, đại đội bộ binh và pháo binh cũng được điều lên tham gia chiến đấu.
Khu vực Tây sông Lô :
- Từ đầu năm 84 đến 12-85 : fBB313/QK2 + fBB356/QK2.
- Tháng 5/85 : fBB313/QK2 + eBB2/fBB3/QK1.
- Tháng 12/85 : fBB31/QĐ3.
- Tháng 6/86 : fBB313/QK2.
- Tháng 2/87 : fBB356/QK2.
- Tháng 8/87 : fBB312 (-eBB209)/QĐ1 + e48BB/fBB390/QĐ1 + 2d/fBB308/QĐ1.
- Tháng 1/88 : fBB325/QĐ2.
- Tháng 9/88 : fBB316(-eBB98)/QK2.
- Tháng 5/89 : fBB313/QK2.
Ở hướng này khoảng 6 tháng ta thay quân một lần. Riêng fBB313/QK2có đợt chiến đấu kéo dài liên tục gần 1 năm, gặp rất nhiều khó khăn.
Khu vực Đông sông Lô :
- Từ đầu năm 84 : eBB266/fBB313/QK2.
- Tháng 7/84 : eBB141/fBB312/QĐ1.
- Tháng 4/85 : eBB568/fBB328/ĐKQN.
- Tháng 11/85 : eBB818/fBB314/QK2.
- Tháng 2/87 : eBB881/fBB314/QK2.
- Tháng 9/87 : eBB818/fBB314/QK2 + 1d/eBB754 Sơn La.
- Tháng 6/88 : eBB728/fBB314/QK2.
- Tháng 10/88 : eBB247 Hà Tuyên.
Hướng phòng ngự Đông sông Lô gặp nhiều khó khăn hơn phía Tây, nhiều đơn vị phải chiến đấu những đợt kéo dài 7-10 tháng.
Phía địch, đã dùng 20 lượt sư đoàn, 171 lượt trung đoàn đến đại đội tấn công lấn chiếm vào đất ta 1-2km trên chính diện 11km. Cũng giống như ta, TQ cũng thay phiên nhiều lượt quân đoàn, sư đoàn :
4/84 – 4/85 : fBB31/QĐ11, fBB32/QĐ11, fBB40/QĐ14, fBB41/QĐ14 ĐQK Côn Minh; fPB4 ĐQK Côn Minh.
12/84 – 5/85 : fBB1/QĐ1, fBB36/QĐ12 ĐQK Nam Kinh; fPB3 ĐQK Phúc Châu, fPB9 ĐQK Nam Kinh.
5/85 – 6/86 : fBB138/QĐ46, fBB199/QĐ67 + 1e/fBB200/QĐ67 ĐQK Tế Nam; fPB12 ĐQK Tế Nam.
4/86 – 5/87 : fBB61/QĐ21, fBB139/QĐ47 + 1e/fBB141/QĐ47 ĐQK Lan Châu, lữ PB1 ĐQK Lan Châu.
4/87 – 4/88 : fBB79/QĐ27 + 1e/fBB81/QĐ27, fBB80/QĐ27 ĐQK Bắc Kinh; fPB14 ĐQK Bắc Kinh.
4/88 – 10/89 : fBB37/QĐ13, fBB38/QĐ13 ĐQK Thành Đô.


Din biến chính :
Trên hướng đối diện QK2, từ tháng 1 đến tháng 3/84, địch điều 5 sư đoàn bộ binh và 5 trung đoàn pháo binh chủ lực gồm 3 sư đoàn của QĐ14 đối diện Quản Bạ, Vị Xuyên (Hà Tuyên) và 1 sư đoàn của QĐ11 đối diện Yên Minh (Hà Tuyên) cùng các đơn vị biên phòng áp sát biên giới ta. Đến trước ngày 28/4/84, lực lượng địch tập trung cho chiến dịch “Kỵ tuyến bạt điểm” lấn chiếm biên giới khoảng 6 sư đoàn, trong đó 4 sư đoàn triển khai trên thê đội 1, tiến công hướng chính diện Vị Xuyên – Yên Minh.
Trên hướng đối diện QK1, ĐK Quảng Ninh và hướng biển, địch tập trung 37 sư đoàn bộ binh chủ lực và biên phòng, 8 sư đoàn không quân, hạm đội Nam Hải tiến hành tập trận quy mô lớn để nghi binh, thu hút, phối hợp chiến trường.
Từ ngày 2-4 đến 27-4-1984, địch mở đợt pháo kích lớn trên toàn tuyến biên giới (1 tuần sau khi ta tiến công lớn ở CPC ngày 26/3/84) với 28.300 viên đạn pháo cối vào 205 mục tiêu, 20 khu vực của 6 tỉnh biên giới. Trong đó hướng Hà Tuyên 11.300 viên, Lạng Sơn 10.900 viên, Quảng Ninh 3.000 viên, Cao Bằng 2.150 viên, Hoàng Liên Sơn 370 viên, Lai Châu 340 viên. Mật độ bắn phá cao nhất 6.000 viên/ngày, các mục tiêu trọng điểm chịu 1.000-3.000 viên/ngày. Mục tiêu nằm sâu nhất bị bắn phá là thị xã Hà Giang (18km).
Riêng từ ngày 28-4 đến 30-4-1984, địch bắn 12.000 quả đạn pháo vào 6 điểm tựa của ta để chi viện cho bộ binh của chúng tấn công đánh chiếm các điểm cao 226, 233, bình độ 300 - 400, 1509, 772, 685. Trong 2 ngày địch đã đánh chiếm được 226, 233, 772, 1509, bình độ 300 - 400, E1, 685 do eBB122/fBB313/QK2 của ta phòng ngự.
Ngày 15-5-1984, địch mở đợt tiến công Đông sông Lô (từ điểm cao Si Cà Lá đến M13) với lực lượng 1 trung đoàn tăng cường. Sau 1 ngày chiến đấu, địch đã chiếm được các điểm cao 1030, Si Cà Lá, 1250, đài 2, M13 do eBB266/fBB313/QK2 và dBB3 Yên Minh của ta phòng ngự.
Như vậy, từ 28-4 đến 16-5-1984, địch đã chiếm và triển khai phòng ngự chốt giữ 29 điểm trên lãnh thổ VN. Trong đó có khu 1545, 1509, 772, 226, 233, 685/Vị Xuyên (địch gọi là Lão Sơn), điểm cao 1030/Vị Xuyên (địch gọi là Đông Sơn), khu 1250, Si Cà Lá tức Núi Bạc/Yên Minh (địch gọi là Giả Âm Sơn). Chúng bố trí trên hướng Vị Xuyên 1 sư đoàn phía trước, 2 sư đoàn phía sau; trên hướng Yên Minh 1 trung đoàn phía trước, 2 trung đoàn phía sau.
Trên toàn tuyến địch tiếp tục tiến hành các vụ pháo kích, tập kích, phục kích… Từ 28/4/84 đến 26/5/84 đã bắn 43.670 viên đạn pháo cối, riêng Hà Tuyên 27.380 viên, Lạng Sơn 13.300 viên, Quảng Ninh 1.625 viên, Cao Bằng 960 viên, Lai Châu 340 viên, Hoàng Liên Sơn 170 viên.
Ngày 11/6/84, ta tiến công hiệp đồng bộ - pháo với quy mô trung đoàn, do eBB876/fBB356/QK2 đánh 233, 685 không thành công.
Cuối tháng 6-1984, Bộ Tư lệnh mặt trận quyết định tổ chức tiến công lớn để giành lại các chốt bị chiếm đóng. Lực lượng tham gia đợt tiến công này gồm 3 trung đoàn : eBB141/fBB312/QĐ1 đánh 1030, Si Cà Lá; eBB174/fBB316/QK2 đánh 233, bình độ 300 – 400; eBB876/fBB356/QK2 đánh 772, 685.
Ngày 12-7-1984, trên cả 3 hướng ta đồng loạt nổ súng tiến công địch. Tuy nhiên, do công tác chuẩn bị chưa chu đáo, đánh giá địch không chính xác, quyết tâm và cách đánh không phù hợp, nóng vội… nên trận tiến công thất bại, các đơn vị bị tổn thất lớn.
Đến tháng 11-1984, Bộ Tư lệnh mặt trận hạ quyết tâm mở tiếp một đợt tiến công vây lấn. Lần này các đơn vị có 4 tháng chuẩn bị.
Ngày 18/11/84, pháo binh ta bắt đầu bắn phá hoại các mục tiêu ở 300 – 400, 685. Sau 5 ngày đêm, eBB14/fBB313/QK2 thực hành vây lấn ở 300-400, eBB153/fBB356/QK2, tăng cường 1d đặc công thực hành vây lấn ở 685.
Đợt chiến đấu kéo dài từ 18-11-1984 đến 18-1-1985 (ta ngừng tiến công vào dịp Tết Nguyên đán). Ta không chiếm được A5, không khôi phục được hoàn toàn 300 - 400, 685 nhưng đã giành lại được một số chốt, hình thành thế phòng ngự xen kẽ, bám sát địch ở  đồi Chuối, đồi Cô X, đồi Đài, A4, A21, khu Cót Ép, khu C và mỏm E2, E3, E5 của 685, có nơi chỉ cách địch 15-20m. Cá biệt ở Bốn hầm, chốt của ta và địch chỉ cách nhau 6-8m. Ở khu vực này cả 2 bên thay nhau phản kích, giành giật chốt liên tục như ở Bốn hầm 38 lần, 685 41 lần, đồi Cô X 45 lần… Tuy nhiên do địa hình hiểm trở, tiếp tế khó khăn, đến tháng 3/85 địch chiếm lại được E2, E3, E5 ở 685.
Từ 27/5 đến 30/5/85, sau khi thay quân địch mở đợt tiến công lớn vào các điểm tựa của ta ở đồi Đài, Cô X, bình độ 1100 (tây sông Lô) bị ta đánh bại.
Ta cũng mở một số trận tiến công hoặc tập kích bằng bộ binh và đặc công, trong đó đáng chú ý nhất là trận tiến công chiếm lại A6B (31/5/85) và chốt giữ, đánh bại 21 đợt phản kích của địch từ 1/6-13/6/85, trận tái chiếm điểm cao 400 (19/7/85)…
Từ 23/9 đến 25/9, địch mở đợt tiến công lớn vào các điểm tựa của ta ở đồi Tròn, lũng 840, Pha Hán (đông sông Lô) đến đồi Cô X, 1100 (tây sông Lô) bị ta đánh bại. Riêng ở Pha Hán ta mất chốt  nhưng sau 1 ngày đêm đã tổ chức phản kích khôi phục được trận địa.
Tháng 10 và 11/86, địch mở nhiều đợt tiến công vào khu vực bắc suối Thanh Thuỷ, Pha Hán, Minh Tân đều bị ta đánh bại.
Từ 5 đến 7/1/87, địch mở đợt tiến công lớn với quy mô sư đoàn, trong 3 ngày bắn hơn 100.000 viên đạn pháo cối để chi viện bộ binh tiến công các điểm tựa của ta mà chủ yếu là đồi Đài và Cô X. Đợt tiến công này cũng bị ta đánh bại.
Từ sau đợt tiến công này, địch bắt đầu giảm dần các hoạt động lấn chiếm và bắn phá. Chiến sự ở mặt trận biên giới Vị Xuyên dần dần lắng xuống. Ngày 21-12-1988, lần đầu tiên địch ngừng bắn pháo vào Vị Xuyên, nơi chưa hề có một ngày im tiếng pháo kể từ năm 1984. Từ năm 1989, địch giảm bắn pháo và rút khỏi một số điểm ở phía Bắc suối Thanh Thủy.
Ngày 13-3-1989, địch rút khỏi 20 điểm chiếm đóng và đến tháng 9-1989, địch rút khỏi 9 điểm còn lại.
Trong 5 năm tác chiến, ta đã loại khỏi vòng chiến đấu 15.000 tên địch, bắt 325 tù binh (bắt 6 tên trong chiến đấu và 319 tên thám báo, trinh sát đột nhập).
Đánh thiệt hại nặng 4 trung đoàn, 43 tiểu đoàn, 18 đại đội, 10 trung đội; đánh thiệt hại vừa 4 tiểu đoàn, 5 đại đội, 4 trung đội; đánh thiệt hại nhẹ 4 tiểu đoàn, 7 đại đội, 10 trung đội.
Phá hủy 100 khẩu pháo các cỡ, 100 khẩu súng cối các cỡ, tiêu diệt 13 trận địa pháo cối, 170 xe vận tải, 130 kho tàng, 1.550 ụ súng, lô cốt, hoả điểm, đài quan sát của địch...
Thu được 50 khẩu súng bộ binh, 50 máy thông tin cùng một số khí tài khác.
Địch bắn vào biên giới Hà Tuyên (chủ yếu là Vị Xuyên - Yên Minh) tổng cộng 1.858.613 quả đạn pháo cối, giai đoạn khốc liệt nhất là từ 1984-1987, ngày cao nhất 61.115 quả.
( Nguồn: Quân Sử Việt Nam )
----------------------------------------------------------------
BĂNG GHI ÂM DO THƯỢNG TÁ TÔ VIETJ HÙNG THỰC HIỆN; NGƯỜI KỂ Ở TRONG BĂNG VỀ CUỘC CHIẾN  TẠI VỊ XUYÊN HÀ GIANG LÀ CỰU CHIẾN BINH NGUYỄN TIẾN VIÊN:


Nhận xét:

blackwiki wrote on Nov 27
Như vậy ta không mất đất, chúng rút hết.
Nhưng nhiều trang mạng nói Lão Sơn hiện vẫn bị TQ chiếm, sự thực là sao?

  • Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang 1981-1988: trận Stalingrad của Việt Nam (PI)

  • Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang 1981-1988: trận Stalingrad của Việt Nam (PII)

  • Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang 1981-1988: trận Stalingrad của Việt Nam (PIII)





  • ---------------------


    *****

    Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang 1981-1988: trận Stalingrad của Việt Nam (PIII)

    Phamvietdao:



    GẶP NV ĐÀO THẮNG, NGƯỜI LÀM 4 BỘ PHIM VỀ NHỮNG TRẬN ÁC CHIẾN NĂM 1984 Ở HÀ GIANG

    -Tại Hà Giang vào cuối những năm 80:Không rõ bên nào chủ động trước nhưng 2 đơn vị lính của phía Trung Quốc và Việt Nam tại điểm chốt tiền tiêu đã thỏa thuận ngầm với nhau là thôi không bắn nhau nữa. Hai bên đã chán cảnh bắn nhau, chém giết nhau…
    - Một nhịp cầu hữu nghị tình cờ được xây lên:Từ chỗ hai bên căng thẳng rình bắn nhau từng giây từng phút, lính 2 trạm chốt này đêm đêm đã bí mặt gặp nhau, giao lưu nhảy múa, hát hò và tặng thuốc lá, thuốc lào và nhu yếu phẩm cho nhau ?
                                                                 Phạm Viết Đào.


    P.V.Đ:Thưa anh, được biết anh là một trong số ít những nhà văn có mặt tại Hà Giang giai đoạn 1984-1985; hồi đó anh có mặt ở Hà Giang với nhiệm vụ gì vậy?

    NV Đào Thắng: Hồi đó tôi tham gia đoàn làm phim tài liệu của Xưởng phim quân đội có mặt tại Hà Giang để ghi lại những ảnh của của mặt trận này. Tôi với tư cách là biên kịch, anh Nguyễn Đức Giảng là đạo diễn, anh Lê Hợi là quay phim. Chúng tôi có mặt tại Hà Giang từ tháng 4/1984…
    P.V.Đ: Có nghĩa là anh có biết và quay được hình ảnh của trận đánh ác liệt xảy ra ngày 12/7/1984?
    NVĐT: Chúng tôi có biết và ghi lại được một số hình ảnh. Hình ảnh đó sau này được sử dụng trong các bộ phim như: Đồng Văn tháng 5/1984, phim được Giải nhất của Bộ Quốc phóng trong năm; Thị xã yên tĩnh-Bông sen Bạc tại Liên hoan phim Việt Nam; Giữ đất giải của Bộ Quốc phòng; Nhịp sống mặt trận…
    Tôi nhớ hồi đó khi Đoàn làm phim được điều động lên tham gia mặt trận này, có một vị Tùy viên văn hóa Liên Xô lúc đó đề nghị theo Đoàn làm phim và ông ta đã cùng chúng tôi lên tận Hà Giang để chứng kiến những gì xảy ra tại chiến tuyến này. Hồi đó có chuyên gia quân sự Liên Xô tham gia chiến tuyến này. Phiên dịch cho vị Tùy viên văn hóa này là dịch giả Thái  Hà, người dịch Những người thích đùa và một thời gian phụ trách Tạp chí Văn học nước ngoài.
    Vị Tùy viên văn hóa này còn đòi theo chúng tôi lên tận chốt nhưng chúng tôi không đồng ý vì nguy hiểm; ông ta đã sửng cồ lên với chúng tôi, chán không được đi theo Đoàn làm phim, ông ta đã mượn rượu để mắng chúng tôi.Còn chúng tôi, Đoàn làm phim thì theo các chiến sĩ lên tận chốt để quay lại những hình ảnh sinh hoạt, chiến đấu của bộ đội ta, có những cảnh chúng tôi đặt máy quay chỉ cách vị trí H1 của địch có mấy chục mét…
    PVĐ: Từng chứng kiến những trận đánh ác liệt chiến tuyến Thanh Thủy Hà Giang, hiện anh còn lưu giữ được những ký ức gì về những trận đánh ác liệt ở đây?
    NVĐT: Cách đây 2 năm, tôi và Nhà thơ Hữu Thỉnh có đến thăm Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười, ông có nhắc chúng tôi là Hội Nhà văn nên tổ chức viết về cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung, nếu không viết, hậu thế sẽ không nhớ tới các sự kiện lịch sử này. Ông cho biết, phía Trung Quốc người ta đã viết và xuất bản nhiều, chính ông đã được đọc một số quyển sách do phía Trung Quốc viết theo cách nhìn nhận và đánh giá của họ.Ông đã đưa vấn đề này ra trao đổi với các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong các dịp làm việc với họ; họ đã thanh minh rằng những quyển sách này viết ra không do sự chỉ đạo của lãnh đạo trung ương; do các địa phương tự ý xuất bản…
    P.V.Đ: Thế Nhà văn có ý định sẽ một lúc nào đó viết lại những điều mắt thấy tai nghe về những trận đánh ác liệt tại chiến tuyến Hà Giang ?
    NVĐT: Tôi đang trăn trở điều này, trong cuốn tiểu thuyết Dòng sông mía, ( Giải nhất về tiểu thuyết của Hội Nhà văn ) tôi đã đưa một số chi tiết của cuộc chiến ác liệt tại Hà Giang vào trong tác phẩm của mình. Đó là chi tiết, người mẹ tắm rửa cho thi hài của đứa con là liệt sĩ Các được đưa từ mặt trận trở về, thi thể của anh đã có dòi…Đó là chi tiết hoàn toàn có thật mà chính mắt tôi đã chứng kiến tại mặt trận Hà Giang…
    P.V.Đ: Anh có thể kể thêm về các chi tiết về cuộc chiến ở mặt trận này mà anh còn bị ám ảnh nhất?
    NVĐT: Điều tôi ám ảnh nhất đó là hình ảnh và những kỷ niệm về Đại tá Trần Tất Thanh, vị Sư trưởng của Sư đoàn 31 bộ binh, Sư đoàn có tên là Tà Xanh; ông là người đã trực tiếp chỉ huy những trận đánh làm thay đổi cục diện chiến trường tại chiến tuyến Vị Xuyên Hà Giang…
    Như anh biết, sau chiến dịch phản công đánh chiếm lại cao điểm 1509 ngày 12/7/1985 , bên ta tung ra 6 trung đoàn của các 4 sư đoàn thiện chiến, áp dụng chiến thuật biển người của Trung Quốc bị thất bại và thương vong lớn. Tướng Hoàng Đan trước khi xuất binh đã đến tận các trung đoàn úy lạo quân sĩ: Các đồng chí chuẩn bị thật nhiều giây thừng để tóm bắt thật nhiều bọn bành trướng mang về đây lĩnh thưởng ? Phải làm cho Trung Quốc biết thế nào là sức mạnh Việt Nam.
    Cuộc phản công thất bại và chúng ta không những không giành lại được 1509 mà còn mất thêm một số cao điểm. Trước tình thế đó, Bộ Quốc phòng đã thay tướng, điều Tướng Nguyễn Hữu An, một chiến tướng tài danh, từng chỉ huy một trung đoàn đánh Điện Biên Phủ năm xưa lên chỉ huy mặt trận. Sư đoàn 31 là sư đoàn bộ bộ binh của Đại tá Trần Tất Thanh đang đóng quân bên Lào được điều về để nhận nhiệm vụ tại chiến trường khốc liệt này ? Đại tá Trần Tất Thanh có kể cho tôi một chi tiết cảm động: Khi Sư đoàn Tà Xanh rút khỏi Lào để bổ sung cho chiến tuyến Hà Giang, nhiều bà con Lào đã lưu luyến đi theo bộ đội Việt Nam 3 ngày để tiễn chân và bày tỏ tình cảm quý mến.
    Khi Sư đoàn 31 được điều lên Hà Giang, chính BBC đã đưa tin ngay: Con hổ Tà Xanh của đại tá Trần Tất Thanh sắp lến chiến trường Vị Xuyên; hãy coi sẽ bị gãy răng ở chiến trường toàn đá này...Kết cục Con hổ Tà Xanh không bị gãy răng mà đã làm cho quân Trung Quốc liểng xiểng.
    Khi Tướng Nguyễn Hữu An và Sư đoàn 31 Tà Xanh được điều động về Hà Giang đã tạo nên những thay đổi về cục diện chiến trường. Chúng ta đã đẩy lùi và chiếm lại một số cao điểm bị Trung Quốc chiếm giữ. Tôi không nhớ chi tiết các cao điểm nào nhưng Đoàn làm phim đã lên tới Cao điểm H2, H3, là cao điểm đối địch với cao điểm H1, là cao điểm bị Trung Quốc chiếm.
    Tướng Nguyễn Hữu An và Sư đoàn Tà Xanh dưới quyền chỉ huy của Đại tá Trần Tất Thanh đã thay đổi cách đánh, dùng bộ đội đặc công áp dụng chiến thuật đánh công kiên của trận Điện Biên Phủ khi xưa, đánh nhỏ đánh chắc để tránh thương vong do phi pháp của địch rất mạnh gây cho ta.
    Sư trưởng Trần Tất Thanh, một vị chỉ huy quả cảm và rất được lòng binh sĩ vì ông rất hiểu tâm lý binh sĩ. Việc đầu tiên của ông là bắt thay đổi toàn bộ tên gọi một số vị trí được bộ ta đặt tên trước đó tỷ như: Suối cô hồn, Cối xay thịt, Thung lũng tử thần, Cửa tử…yêu cầu bộ đội gọi tên thành những tên mới, ví như: Ngã ba kiên cường, Cao điểm anh hùng, Suối tương lai…
    Khi đưa bộ đội lên, ông bố trị bộ đội thành tổ 3 người lên đào phá đá thành những hàm ếch sâu trong lòng đá để làm nơi ẩn nấp, đào xây dựng các chiến hào trên vách đá để đi lại hạn chế phi pháo địch…Đồng thời ông lệnh cho quân sĩ giữ nghiêm quân kỷ, không để bộ đội để tóc dài. Vì ở ngoài mặt trận có 2 việc lính ta rất kiêng: cắt tóc và trả lời phóng vấn báo chí, đoàn làm phim; nhiều lính sau khi cắt tóc, hay gặp báo chi hay bị tử thương…Sư trưởng Trần Tất Thanh đã buộc lính thay đổi hủ tục đó.
    Bộ đội giữ chốt phải nói là vô cùng gian khổ vì phải phá đá ra để làm hầm không chỉ để trú ẩn trong đó mà cả nơi ăn nghỉ đã đành, phải chịu đựng biết bao thiếu thốn…Bộ đội nằm trong hầm đá ngủ nhiều ngày nên thường bị bệnh cứng khớp, vì ngủ trực tiếp trên sàn đá nên mất nhiệt. Trời Hà Giang mùa dông có khí xuống tới 4 độ. Nhiều bệnh binh được khiêng ra từ chốt người cứ bị co quắp không duối ra được kể cả khi khiêng tới bệnh viện. Sư trưởng đã tìm cách chuyển gỗ, ván lên để kể làm giường cho quân sĩ. Rồi thì đã lên chốt rồi, chuyện tắm rửa là một việc làm kỳ công vì trên cao làm gì có nước. Hôm đoàn làm phim lên chúng tôi đã chứng kiến một tiểu đoàn trưởng 3 tháng canh chốt được bố trí thay phiên trở về tuyến sau để được tắm. Anh biết bộ đội giữ chốt tắm như thế nào không? Lính chiến trường gọi là tắm khô, không tắm bằng nước mà tắm bằng cồn… Lấy cồn tẩm bông lau người, sĩ quan cấp tiểu đoàn phải 3 tháng mới tắm 1 lần, không biết lính thì được mấy lần.
    Sư trưởng Trần Tất Thanh kể cho tôi một trận chiến đấu vô cùng oai hùng và cảm động, một trận đánh mà ông đã mất quá nhiều nước mắt. Phía Trung Quốc đã sử dụng pháo giã ác liệt vào trận địa phòng ngự của ta suốt từ 6 giờ đến 10 giờ đêm; pháo, cối của chúng cứ giã liên tục đạn nố chớp chớp liên hồi y như trong các trận đánh của các trò chơi điện tử bây giờ. Đứng tuyến sau nhìn thấy cảnh quân mình oằn lưng chịu đòn pháo địch nước mắt ông tràn trề. Thế nhưng khi pháo giặc im. chùng xua bộ binh địch lao lên đánh chiếm trận địa phòng ngự của ta thì lại súng của quân ta chớp lóe rền vang từ trong các hầm cố thủ và quân địch lại bị đẩy lui. Nhìn cảnh đó ông lại nước mắt lưng tròng vì sung sướng: vừa thương quân sĩ vừa cảm phục tinh thần ngoan cường chịu đựng bảo vệ trận địa…
    Có thể nói sau trận 12/7/1984 quân ta và quân địch không tổ chức những trận đánh lớn cấp trung đoàn mà luôn giằng co nhau những trận đánh trên từng ngọn đồi điểm chốt. Chúng tôi đã vác máy quay lên tận cao điểm H2 để hướng ống kính máy quay lên cao điểm H1 là cao điểm lính Trung Quốc chiếm giữ. Bộ đội đã cản không cho chúng tôi lên vì rất nguy hiểm, chúng tôi vẫn lên vì chúng tôi cũng từng là lính chống Mỹ nên có đủ kinh nghiệm tránh đạn của địch.
    Tôi còn nhớ khi Đoàn làm phim tập kết vào cái hang lớn gọi là Hang Mán, phải qua một chiếc cầu bắc bằng cây; khi qua đoạn suối này phải chạy thật nhanh, nếu chạy không nhanh thì sẽ ăn đạn cối của Trung Quốc. Thành ra khi đi quan đoạn suối này giống như trẻ con chơi trò ú tim. Chuẩn bị từng người một từ bên này nhanh chóng lao qua bên kia. Khi chúng tôi lao qua được vào trong hang thì pháo cối dồn dập nổ, chỉ chậm vài giây là coi xong. Vào đến trong hang lính mới phổ biến kinh nghiệm cho chúng tôi: Các chú nếu muốn tránh bị phi pháo địch bắn thì phải mặc áo bỏ ngoài quần và đừng mặc áo sĩ quan. Nếu lính Trung Quốc nhìn thấy mặc áo quần sĩ quan thì chúng nổ súng ngay. Còn áo để ngoài quần là quy ước ngầm hiểu đó là lính hậu cần.Khi thấy lính để áo ngoài quần thì cả ta cũng không bắn lính Trung Quốc và lính Trung Quốc cũng không bắn ta. Tóm lại đó là một sự thỏa thuận ngầm kỳ ngôi ở nơi cửa tử.
    Còn lên đến điểm cao H2 thì có thể nghe rõ bước chân di chuyển của lính Trung Quốc ở điểm cao H1 bên này nghe rõ tiếng trò chuyện của phía bên kia…
    P.V.Đ: Thế lên đến H2, các anh có quan sát được gì không?
    NVĐT: Có một chuyện thú vị này bây giờ tôi tiết lộ với anh, chính từ điểm cao H2, này một nhịp cầu “ đình chiến “ được thiết lập, mà những nhịp cầu này lại do chính những người lính xây cất lên.
    Hồi đó cả một chiến trường dài trên chục km bộ đội ta mệnh danh là Lò Vôi thế kỷ vì núi toàn đá vôi. Do pháo cối của hai bên bắn nhiều nên lửa đạn đã biến cả những giải đá xanh dài trở nên trắng xóa vì đá bị biến thành vôi. Nghĩa là hai bên cứ đánh nhau ác liệt giằng co không ai chịu thua ai đến một thời điểm thì chính người lính Trung Quốc thấy chán và vô nghĩa. Không rõ bên nào chủ động trước nhưng 2 đơn vị lính của phía Trung Quốc và Việt Nam tại điểm chốt tiền tiêu đã thỏa thuận ngầm với nhau là thôi không bắn nhau nữa. Vì như thế vô nghĩa. Phía chúng ta vì bao vệ biên cương của tổ quốc nên chấp nhận hy sinh là có ỹ nghĩa còn phía Trung Quốc người lính ngộ ra họ là công cụ vô nghĩa và độc ác của nhà cầm quyền.
    Từ chỗ hai bên căng thẳng rình bắn nhau, lính 2 trạm chốt này đêm đêm đã bí mặt gặp nhau, giao lưu nhảy múa, hát hò và tặng thuốc lá, thuốc lào và nhu yếu phẩm cho nhau. Phía quân ta tặng quân Trung Quôc thuốc lào, còn lính Trung Quốc tặng ta thuốc lá Đại Thiền Môn, bánh kẹo thậm chí cả bia rượu. Việc này phía ta đã nhanh chóng báo cáo về cho Tổng cục chính trị những diến biến bất thường của chiến trường Hà Giang. Để có bằng chứng chắc chắn, Tổng Cục chính trị đã bố trí để anh Việt, sau này về công tác ở Bảo tàng quân đội mang máy ảnh, máy ghi âm để bí mật ghi lại cảnh gặp gỡ giao lưu giữa lính ta và lính Trung Quốc trên cao điểm H 1, H 2 để mang về báo cáo với Bộ Quốc phòng. Nghe nói sau vụ này, Tướng Võ Nguyên Giáp đã sang Trung Quốc để điều đình để 2 bên thôi không đánh nhau nữa vì lãnh đạo có muốn đánh quân cũng đã chán rồi ?
    Tóm lại những điều tôi đã chứng kiến tại Hà Giang còn nhiều chuyện bi tráng lắm?
    P.V.Đ: Thế từ sau khi 2 nước bình thường hóa quan hệ, anh có quay lại thăm Hà Giang lần nào không ?
    NVĐT: Có năm 2008, tôi có trở lại cao điểm H1, H 2 này, phía ta thì bỏ lại chiến trường xưa cỏ mọc um tùm, còn Cao điểm H1 Trung Quốc vẫn giữ, thậm chí còn gia cố chắc chắn thêm và có lính canh giữ.
    P.V.Đ: Thế còn những chiến binh năm xưa, về vị Sư trưởng Trần Tất Thanh, ông ta có được phong anh hùng không ?
    NVĐT: Sư trưởng Trần Tất Thanh sau được phong Trung tướng và đảm nhận trọng trách Tư lệnh Quân khu 2; đáng tiếc ông đã bị hy sinh trong một tại nạn máy thảm khốc tại Lào vào ngày 25/5/1998; cùng chịu tai nạn với ông là Đoàn tướng lĩnh cấp cao gồm 20 sĩ quan trong đó có Tổng tham mưu trưởng, Trung tướng Đào Trọng Lịch, 5 vị Đại tá cấp Cục, Vụ…Trong tại nạn này có một vị may mắn thoát nạn đó là Tư lệnh quân khu 4, ông có danh sách trong Đoàn nhưng ông ở lại không đi nên thoát. Ông này sau đó cũng lại bị tử nạn trong vụ tai nạn may bay ở Hòn Mê.
    Điều bí ẩn xót xa là: những người bị tử nạn trong đó nhiều sĩ quan từng là chiến binh chống bành trướng Trung Quốc ngoan cường, từ Tham mưu trưởng Đào Trọng Lịch, ông đang ngấp nghé vị trí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đến Tướng Trần Tất Thanh ? Còn tôi là người chứng kiến những trận đánh Hà Giang thì thấy phần lớn những đơn vị tham gia những trận ác chiến đều là lính Thanh Nghệ? Chả nhẽ vì thế mà Tư lệnh Quân khu IV bị oan gia vì hăng hái mộ nhiều quân đánh Trung Quốc?
    P.V.Đ. Là một nhà văn, anh suy nghĩ gì về mặt trận Vị Xuyên nói riêng và cuộc chiến tranh biên giới phía bắc nói chung ?
    NVĐT: Vốn xuất thân là người lính và bao nhiêu năm đau đáu với các vấn đề tài chiến tranh và số phận của người lính, ví người lính gắn với số phận của dân tộc.
    Lịch sử từng ghi danh những Ngô Quyền, Lê Đại Hành, Lý Thướng Kiệt, Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Toản, Lê Lợi, Trẫn Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi, Quang Trung .v.v. những danh nhân mà nếu không có họ không có giang sơn xã tắc của chúng ta bây giờ.
    Mảng đề tài chiến tranh nhất là cuộc chiến tranh biên giới phía bắc bị bỏ quên lâu lắm rồi, nhất thiết phải viết, phải trả lại sự thật cho lịch sử đau thương và bi tráng của dân tộc…
    P.V.Đ: Xin trân trọng cảm ơn nhà văn Đào Thắng và chúc anh thành công.

                                                                P.V.Đ


    TRÍCH NGANG MỘT VÀI NÉT TIỂU SỬ VĂN CHƯƠNG CỦA NHÀ VĂN ĐÀO THẮNG:
    -Sinh năm 1946, vào bộ đội từ 9/1965 trực tiếp tham gia chiến đấu ở chiến trường Khu 4, Mặt trận đường 9, Quảng Trị, Trung Lào;
    - Học viên Trường viết văn Nguyễn Du khóa 1;
    - 2002 là Chánh văn phòng Hội Nhà văn VN hiện nay là chuyên viên Ban sáng tác Hội Nhà văn VN.
    Tác phẩm đã xuất bản:
    -Điểm cao thành phố-Tiểu thuyết năm 1982; Nước mắt -Tiểu thuyết 1991; Dòng sông mía-Tiểu thuyết 2004, tái bản 2004, 2005,2006; Đất xanh –Tiểu thuyết 2006; Dọc miền trung-Tiểu thuyết 208; Xứ sở Long- Tiểu thuyết 2010…
    Các giải thưởng đã được nhận:
    -Giải thưởng văn học đề tài Quốc phòng an ninh Hội Nhà văn Việt Nam 1991-1993; Giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng ( 1989-1994 ) với tiểu thuyết Nước mắt; Giải thưởng Điện ảnh 5 năm Bộ Quốc phòng với các bộ phim: Thị xã yên tĩnh ( 1989 ), Nhịp sống mặt trận ( 1989 ), Chào nhé Apsara ( 1987 ); Giải A cuộc thi tiểu thuyết lần thứ 2 của Hội Nhà văn Việt Nam ( 2003-2005 ) với tiểu thuyết Dòng sông mía…


  • Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang 1981-1988: trận Stalingrad của Việt Nam (PI)

  • Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang 1981-1988: trận Stalingrad của Việt Nam (PII)

  • Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang 1981-1988: trận Stalingrad của Việt Nam (PIII)




  • ---------------------


    *****

    Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang 1981-1988: trận Stalingrad của Việt Nam (PII)

    Phamvietdao:




    THEO CỰU CHIẾN BINH TRẦN TUẤN ANH: TRONG 10 NĂM, KỂ CẢ DÂN THƯỜNG, SỐ THƯƠNG VONG CỦA CẢ HAI PHÍA PHẢI LÊN TỚI NỬA TRIỆU NGƯỜI ?

    Ngồi tại trang trại Bồng Lai của Nguyễn Xung Kích, câu hỏi đầu tiên mà tôi đặt ra cho các cựu binh Hà Giang đó là thực chất về con số thương vong của phía ta trong các cuộc giao tranh từ năm 1979 tới năm 1989 tại mặt trận Hà Giang là bao nhiêu? Tôi có kể lại việc đưa lên blog của số lượng bộ đội ta đã hy sinh do phía Trung Quốc đưa là 3700 trong trận đánh tại 1509; con số này hiện đã bị một số blogger từng đã tham gia mặt trận Hà Giang cho là không chính xác.

           Cựu chiến binh Trần Tuấn Anh (phải ) và Thượng tá Tô Việt Hùng
    Các anh Nguyễn Xung Kích, Tô Việt Hùng, Nguyễn Tiến Viên thì cho rằng: con số thương vong của phía ta trong các cuộc giao tranh ở cao điểm 1509, phía Trung Quốc gọi là Lão Sơn hay Núi Đất trong tháng 7/1984 là không đúng ? Theo các cựu binh thì trong trận giao chiến tháng 7/1984 ta cử 4 trung đoàn của 4 sư đoàn lên để đánh chiếm lại nhưng đã thất bại vì hỏa lực của địch quá mạnh và ta chịu tổn thất nặng nề. Cứ tính quân số 4 trung đoàn ra thì sẽ thấy không thể tới 3700 bộ đội ta đã hy sinh…
    Còn nếu tính cả mặt trận Hà Giang trong suốt 10 năm thì con số 3700 hy sinh về phía ta thì lại là quá ít. Riêng nghĩa trang tại Vị Xuyên đã có trên 1000 ngôi mộ, đó là những thi hài đã quy tập được; còn những thi hài không lấy về được hoặc bị tan chắc không ít. Hiện nay, tại Hà Giang, mộ của liệt sĩ còn nằm rải rác tại nhiều nghĩa trang địa phương…
    Theo ông Trần Tuấn Anh ước tính thì con số thương vong của cả 2 phía cả Trung Quốc và Việt Nam, cả bộ đội và dân thường phải lên tới nửa triệu người trong 10 năm chiến tranh ở mặt trận này. Đây là con số mà cựu binh Trần Tuấn Anh, hiện đang sống tại Hà Giang, bằng quan sát các nghĩa trang liệt sĩ và nghĩa trang dân sự trong tỉnh ước tính.
    Riêng tôi, năm 1985, khi lên Hà Giang vào khoảng tháng 3 để tìm hiểu chú em đã hy sinh như thế nào thì thấy ngay đại đội của chú em tôi số tham gia trận đánh tháng 7/1984 chỉ còn lại dăm bảy người. Phần lớn chỉ huy của đại đội này là bộ khung mới. Cũng năm 1985, theo các anh em ở Rạp Chiếu bóng Hạ Long thì phải 3 bốn đêm liền người Hà Giang đã nghe xe chạy suốt đêm để chở thươngbinh, liệt sĩ về. Hồi đó tôi còn công tác ở Fafilm Việt Nam nên đã lên ở nhờ tại Rạp Hạ Long để nhờ tìm đơn vị của chú em.Đại đội của chú em tôi đóng ở dốc Mã Tin cách Hà Giang khoảng 2 km…
          Cựu chiến binh Nguyễn Tiến Viên ( phải ) và Nguyễn Quang Bài...

    Hồi đó theo cựu binh Nguyễn Tiến Viên nguyên pháo thủ lựu pháo 82 mm thì có tháng bản thân anh đã bắn tới 10.000 quả đạn; tức có ngày bắn tới 3000 quả. Tôi hỏi Nguyễn Tiến Viên thế có ảnh hưởng tới thính giác không? Anh cho biết là hiện nay di chứng vẫn còn, trong tai nhiều khi vẫn nghe tiếng o…o…o như có cả đàn ogn đang bay.
    Pháo của ta bắn lên cao điểm bị Trung Quốc đã đành và bắn cả sang đất Trung Quốc nữa; chiến tranh mà. Hồi đó có những cao điểm bạc trắng như đá vôi vì bị đạn pháo bắn hết ngày này sang ngày khác. 

       Cựu chiến binh Nguyễn Xung Kích kể chuyện bắt lính sơn cước Trung Quốc...

    Để có thêm tư liệu về trận đánh tháng 7/1984 xin đưa thêm bức thư của nhà văn Nguyễn Quốc Hùng, hiện dang công tác tại cảng Hải Phòng, là người từng tham gia trận đánh cao điểm 1509 viết cho Phạm Viết Đào ngày 14 và ngày 19/11/2010.

    CÓ AI HƠN CHÚNG TÔI!

    Kính gửi nhà văn Phạm Viết Đào!
    Cho phép em gọi anh bằng anh xưng em. Bởi, em nguyên là chiến sỹ của trung đoàn 754 trực thuộc quân khu 2, cùng tham gia cuộc chiến tranh biên giới 1984 với em trai anh, Phạm Hữu Tạo một con người đã vị quốc vong thân.
    Em là Nguyễn Quốc Hùng - Hội viên hội nhà văn Hải Phòng, đang công tác tại Cảng Hải Phòng.
    Ngay từ những ngày tháng còn là chiến sỹ trên mặt trận Vị Xuyên, em đã có một số truyện ngắn viết trực tiếp về những đồng đội của mình. Gửi đi nhiều nhưng không được in. Có lẽ là lý do, mới tập tọng viết, tay nghề còn non kém quá, chỉ viết được cái gì nhìn thấy, chưa viết được điều mình cảm thấy.
    Nhiều lúc muốn nói nhưng không biết nói với ai, có ai cùng chia xẻ.
    Những con số thống kê về sự hy sinh mất mất, những khốc liệt mà những người lính chúng em trải qua đã nhiều tài liệu, bài viết đề cập tới. Trong bài này em chỉ viết về nỗi lòng riêng tư để tâm sự cùng anh cho đỡ tủi thân.
    Tại sao em đặt tiêu đề cho những dòng tâm sự này này với cái tên “CÓ AI HƠN CHÚNG TÔI!”. Là bởi, em muốn so sánh và tị nạnh với những thế hệ đã đi qua các cuộc chiến tranh giải phóng cũng như bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
    Xin được tổng kết:
    - Về mặt quân số: Khi giao quân, đại đội mới có hai mươi lính quê Hải Phòng. Một tháng sau, tám người trụ lại làm nhiệm vụ bảo vệ đường biên giới Tổ quốc, còn lại trở về nơi thành phố bình yên để xây dựng cuộc sống ấm no. Có đại đội tỉ lệ trụ lại còn ít hơn (Xin lưu ý, em chỉ nói đến lính Hải Phòng, các vùng quê khác không thống kê nhưng chắc không đến mức ấy) Những người còn trụ lại đều vào hoàn cảnh công nhân nhà nước đi nghĩa vụ quân sự như em và gia cảnh còn nghèo khó, muốn là người công dân tốt trong xã hội.
    Thời gian nằm dưới cứ chờ lên thay quân, đêm nào cũng thấy thình thịch đất chuyển ngay đầu hồi nhà. Sáng ra, những nấm đất mới mọc lên. Những nấm đất mọc lên tỉ lệ thuận theo tiếng pháo đêm ấy. Lạnh lẽo!
    Ba năm nghĩa vụ, qua ba đời trung đoàn trưởng thì có hai đảo ngũ với những lý do khác nhau (sau toà án quân sự có xử)
    Liệu tinh thần những người ở lại có vững?
    - Về điều kiện cuộc chiến: Chiến tranh và hoà bình chỉ cách nhau một cây sào của trạm vệ binh. Bên trên là pháo nổ ì ầm như tiếng sấm rền suốt đêm ngày. Bên dưới, một nhóm con “phe” chờ lính chốt mang quân trang, lương thực (chủ yếu là gạo. Bởi gạo được cấp 1,2 kg/ ngày mà nằm chốt chỉ có thể ăn ba bốn lạng một ngày) đổi lấy rượu, thuốc lào và những nhu yếu phẩm khác. Có dạo hai bên ngừng bắn vài ngày, các con “phe” thở dài não ruột buông: “Lâu lâu pháo không bắn thấy buồn!” Liệu họ có tính sau mỗi loạt pháo bao nhiêu chiến sĩ ngã xuống. Vô Cảm!
    Liệu tinh thần những người giữ chốt có vững?
    Báo cáo! Chúng em đã hoàn thành nhiệm vụ! Không một điểm cao nào bị mất thêm.
    * Khi ra quân chúng em nhận được gì:
    - Trên chuyến xe khách ở bến xe Gia Lâm, một người trung tuổi hỏi: “Các ông lính ở đâu về?” Em trả lời: “Biên giới Vị Xuyên - Hà Giang” Ông ta tròn mắt nhìn ngạc nhiên: “Lính biên giới về mà thằng thì ba lô lộn, thằng đi người không thế này thôi à?!” (Năm 1988 hàng hoá Trung Quốc bắt đầu xâm lược Việt Nam qua đường biên giới) Thờ ơ!
    - Đến nay, 80% trong số những người lính trên chuyến xe trở về ấy đều làm tự do, thu nhập dưới mức trung bình. Mỗi năm một ngày gặp mặt, có người không dám đi vì hai trăm nghìn góp quỹ là cả một khoản ngân sách lớn của gia đình!
    - Em tự làm cuộc điều tra, khảng định 100% số người độ tuổi bốn mươi trở xuống không biết có cuộc chiến tranh này trong lịch sử dân tộc. Vậy ai biết? Những người cha, người mẹ có con tham gia cuộc chiến đó mà được trở về nguyên vẹn cũng chỉ lơ mơ rằng con mình có tham gia một cuộc chiến gì đó, mức độ khốc liệt thế nào không rõ. Em kể cho các cháu nghe về cuộc chiến tranh này, đứa em gái em nói chen vào : “Bác Hùng lại kể về tiểu thuyết sắp viết.” (em có hai tiểu thuyết, một tập truyện ngắn đã in và một tiểu thuyết đang chờ ở nhà xuất bản) Vậy, chỉ có chúng tôi biết chúng tôi đã sống thế nào!
    * Cá nhân em nhận được gì?
    - Rất nhiều bằng khen, giấy khen. Được kết nạp Đảng trong hầm chỉ huy đại đội trên điểm cao 788 mà không phải qua khâu thẩm tra lý lịch tại địa phương. (Nếu có thẩm tra cũng vẫn cứ được. Bởi, bố em là cán bộ cách mạng tiền khởi nghĩa, bác ruột khi ấy là đại tá cục trưởng cục hậu cần quân đoàn 1, cùng tham gia trên mặt trận Vị Xuyên)
    Chấm hết!
    Bây giờ, mỗi lần xem bắn pháo hoa, khi tiếng khai hoả vang lên là ngực em nghẹn thắt lại, nước mắt không kìm nổi. Tiếng khai hoả của những quả đạn pháo hoa không khác gì tiếng đầu nòng của cối sáu, cối tám. Những gì mình phải chịu đựng trong những ngày tháng ấy, hơn hai mươi năm sau vẫn còn bị ám ảnh.
    Tủi thân!
    Em có một người cháu gọi bằng cậu hy sinh tại cao điểm 1250. Hồn cháu bây giờ không biết lưu lạc nơi đâu. Mong được một lần đứng giữa ngã ba Thanh Thuỷ gào lên: Trạc ơi! Cháu ở đâu?
    Xin được thắp nén nhang tâm linh cho liệt sĩ Phạm Hữu Tạo! Xin được thắp nén nhang tâm linh cho cháu Trạc! Xin được thắp nén nhang tâm linh cho tất cả các anh hùng liệt sĩ!
                                                                                                  Kính thư
                                                                                       Nguyễn Quốc Hùng

    Thư của Nguyễn Quốc Hùng viết ngày 19/11/2010

    Vào blog của anh không khó. Nhưng do em phải làm ca nên thời gian vào mạng không nhiều, có khi cả tuần mới truy cập một lần.
    Về cuộc chiến 1984, em có một điều thắc mắc nhưng chắc khó có ai giải thích được.
    Ngày ấy, thực trạng trên chiến trường là, bên ta chiếm lại thì dễ nhưng để giữ được thì rất khó. Còn bên nó đánh chiếm thì khó nhưng đã chiếm được là giữ được. Ví như điểm cao 300; 400 ta đã nhiều lần chiếm lại được nhưng không giữ được (hai điểm cao này rất quan trọng vì nó khống chế ngã ba Thanh Thuỷ, con đường tiếp vận chính cho tuyến trên). Bởi vì hoả lực của Trung Quốc mạnh quá, ta củng cố lại hầm hào công sự không được và con đường vận tải tiếp ứng nên thì không thể. Để khắc phục tình trạng này, bên ta thực hiện cách đánh lấn dũi. Tức là đào một đường hầm sâu dưới mặt đất ba mét, từ trận địa bên ta áp sát công sự của đối phương, dùng khoảng một tấn thuốc nổ phá thông, sau đó vận động theo đường hầm đó lên. Một phương án tối ưu. Đại đội em được giao nhiệm vụ đào đường hầm kiểu đó từ H6 lên 400. Khi tập luyện dưới làng Pinh, tham mưu trưởng trung đoàn quán triệt, sư 331 đã đào được hơn một trăm mét trên 1509, khi nào đại đội em đào xong sẽ tổng công kích ba điểm cao quan trọng này. Tập luyện xong, đại đội xuất kích thực hiện nhiệm vụ. Một bộ phận chỉ huy, hậu cần đã tập kết tại H6, chúng em chuẩn bị ba giờ sáng hành quân vào. Nhưng ngay tối đó có lệnh dừng lại. Và cũng chính tối đó, có một đơn vị đã ém quân chuẩn bị đánh 685 cũng được rút ra ngoài. Sau này khi sang phòng ngự bên Minh Tân, trinh sát tiểu đoàn phát hiện một kho vũ khí dưới chân 788. Tiểu đoàn báo cáo trung đoàn phát hiện vũ khí địch ém lại để đánh sang ta. Khi ra quân em kể lại việc này với bác em thì ra đó chính là vũ khí của đơn vị bác ém lại để đánh điểm cao (em không nhớ rõ điểm cao nào). Rất tiếc khi em ra quân thì bác em bị tai biến nặng, không hỏi được gì. Nếu có hỏi chắc cũng không nhận được câu trả lời. Theo em, bước ngoặt của cuộc chiến chính là thời điểm chúng em có lệnh dừng lại. Nếu anh có lên Vị Xuyên thử tìm hiểu xem đường hầm 1509 có còn. Làng Pinh chắc giờ dân đã về ở, ba mét đường hầm của bọn em đào tập chắc không còn.
    Ngày ấy viết bằng giấy thếp, không có điều kiện chép lại cho nên gửi đi là đi hẳn. Sau này, do chuyển nhà mấy lần, có ba cuốn nhật ký viết thời kỳ đó thì mất hai, còn lại cuốn viết vào thời gian chuẩn bị ra quân nên tư liệu ghi lại về thời gian ở chốt không có. Đến cả bằng khen, giấy khen cũng bị rơi vãi, còn lại đâu như ba hoặc bốn tờ em tính vứt đi nốt nhưng vợ em lạc quan bảo giữ lại biết đâu sau này phải dùng đến. Bây giờ cũng có lúc em viết một truyện ngắn trực diện về cuộc chiến ấy nhưng cứ ngây ngô như là không biết viết cái gì. Theo em là do tâm lý thi đấu bị ảnh hưởng. Bởi, ánh hào quang của những trận đánh qua các thời kỳ trước kia qua những trang viết khiến mình bối rối nên chi tiết thì biết nhiều đây nhưng không chắt lọc được cho cách nói riêng của mình và do một số biên tập viên mới nghe em nói dạm về ý tưởng đã bảo viết thế không dùng được nên chùn, buông luôn.
    Khi nào em lên Hà Nội sẽ ghé qua anh.
                                                                                                      Em
                                                                                       Nguyễn Quốc Hùng

    TƯỚNG TRUNG QUỐC ĐÃ SUY NGHĨ VÀ VIẾT  NHƯ THẾ NÀO VỀ TRẬN ĐÁNH CAO ĐIỂM 1509; NHỮNG SUY NGHĨ NÀY CỦA LƯU Á CHÂU ĐÃ ĐƯỢC MỘT TỜ BÁO VIỆT NAM TRUYỀN TẢI ?

    ...Trong khi những người anh hùng của chúng ta mà Nguyễn Quốc Hùng, Tô Việt Hùng, Nguyễn Xung Kích, Nguyễn Tiến Viên… trong cuộc chiến bảo vệ biên giới phía bắc đang bị lãng quên dần, không được ai nhắc đến nhất là sách báo “ lề phải “, thì ngược lại, phía Trung Quốc lại được rầm rộ ghi danh…Chúng ta có thể thấy điều này qua bài đăng trên Tạp chí Hồn Việt-Hội Nhà văn Việt Nam số tháng 11/2010 kể viết về chiến công của các “ anh hùng “ Trung Hoa có công lớn đánh Việt Nam để tạo điều kiện cho Trung Quốc mở cửa bắt tay với Mỹ?
    Điều khôi hài đó là: Báo chí lề phải của Việt Nam không dám nhắc tới sự hy sinh xương máu của quân dân ta trong cuộc chiến 10 năm bảo vệ biên giới phía bắc thì họ lại bình thản đăng bài ca ngợi những anh hùng Trung Hoa đánh Việt Nam ?

    Các bạn đều biết tôi từng viết một tác phẩm có tiêu đề Vương Nhân Tiên. Tác phẩm này đã gây tiếng vang rất lớn. Vương Nhân Tiên là Phó Tham mưu Đại đội thuộc Sư đoàn 14, Quân đoàn 14, người Côn Minh, thuộc dòng dõi con em cán bộ. Trước chiến tranh, Vương Nhân Tiên từng bị xử lý do vi phạm kỷ luật, sau này hy sinh. Có người cho rằng anh ấy không phải là anh hùng, nhưng tôi cho rằng anh ấy là anh hùng, hơn thế nữa còn là anh hùng đích thực. Quân đoàn trưởng Quân đoàn 14 khi đó, xxx từng nói: “Nghe nói Lưu Á Châu muốn viết về Vương Nhân Tiên? Quân đoàn 14 có nhiều nhân vật anh hùng như vậy sao không viết, lại đi viết về một người như vậy?”. Người khác đem chuyện này kể với tôi, tôi chỉ bĩu môi một cách khinh thường. Hugo từng nói, trong chủ nghĩa anh hùng đích thực tuyệt đối có một chủ nghĩa nhân đạo đích thực tuyệt đối. Rủi ro của Vương Nhân Tiên chính là điển hình của chủ nghĩa nhân đạo, đồng thời cũng là điển hình của chủ nghĩa anh hùng. Vương Nhân Tiên vốn yêu một cô bạn gái tại Côn Minh, nhưng khi quân đội di chuyển đến Lão Sơn…
    Ngày tấn công Lão Sơn, Trung đoàn điều Vương Nhân Tiên lên tuyến đầu. Ngày 12/7 một sư đoàn của Việt Nam và quân ta đã xảy ra một cuộc chiến giằng co quyết liệt tại khu vực Lão Sơn. Pháo bắn suốt ngày đêm. Vì Lạc Thuỷ Động cách tuyến đầu rất gần, có thể nhìn thấy một vùng trời rực lửa đạn bom. Cô gái người Miêu cứ ngồi ở đầu thôn, ngóng về phía Lão Sơn. Người chồng đã đánh cô, xuống tay rất nặng. Đầu và mồm đều bị chảy máu, làm cô bất động. Vương Nhân Tiên đang chiến đấu tại điểm cao nhất của mặt trật. Anh là tham mưu pháo binh đã kịp thời báo cáo hàng nghìn tình huống cho pháo binh tuyến sau. Hoả lực pháo binh của quân ta dài như tầm mắt, dội lên đầu kẻ địch. Tháng 8, tôi leo lên Lão Sơn, nhìn xuống phía dưới, vẫn còn nhìn thấy cảnh thây xác. Đó đều là xác quân địch bị bắn chết trong cuộc chiến “12/7”. Sau này quân địch phát hiện trên địa phương này có căn cứ, đã tập trung hoả lực đánh vào đây. Vương Nhân Tiên đã hy sinh. Đồng đội của anh ấy nói rằng, khi chết anh đang dựa vào một gốc cây và cứ đứng chết như vậy. Sau khi bộ đội rút đi, vãn đi qua Lạc Thuỷ Động. Cô gái người Miêu đứng ở đầu thôn, tìm từng người, từng người một. Các sĩ quan binh lính đi ngang qua cô, họ đều cúi đầu, giống như đã phạm một lỗi lầm. Họ đã thay đổi quan điểm về Vương Nhân Tiên và khi đó đã có một tâm trạng hoàn toàn thay đổi. Cuối cùng, cô gái cũng biết Vương Nhân Tiên đã hy sinh. Bạn xem cô gái đó sẽ làm gì? Cô đã bán tài sản trong nhà lấy tiền mặt, mua hai tút thuốc lá đầu lọc tương đối cao cấp, đến trước mộ của Vương Nhân Tiên, bóc toàn bộ hai tút thuốc, rồi châm lửa từng điếu từng điếu một, cắm lên mộ. Trên mộ đã cắm đầy thuốc. Khi đó, tôi nghe thấy hết sức cảm động. Năm 1984, khi tôi đến Lão Sơn thì mộ của Vương Nhân Tiên đã được xây rồi. Ban đầu, trong quân đội không ghi công cho Vương Nhân Tiên, sau này, do yêu cầu mạnh mẽ của các nhà văn như chúng tôi, Vương Nhân Tiên đã được ghi công, đại để được ghi công hạng nhất. Khi đó, tôi đi tìm bia mộ tại nghĩa trang liệt sỹ và tôi đã tìm thấy. Tôi đã học theo cách của cô gái người Miêu, bóc một bao thuốc lá, đốt từng điếu và cắm lên mộ anh. Khi đó, tôi là Phó Tiểu đoàn Ban Liên lạc Không quân. Năm 1999, tức 15 năm sau đó, tôi đảm nhiệm cương vị Chủ nhiệm Chính trị Không quân Bắc Kinh, tôi lại cùng một vài đồng chí Trưởng ban như Vương Xuân Ba, Lưu Phan đã đến nghĩa trang liệt sỹ Ma Lật Pha. Lão Sơn vẫn xanh tươi như xưa. Lần đó, tôi chỉ mang rượu, thuốc lá từ Bắc Kinh, trước mộ Vương Nhân Tiên tôi đã rót rượu và châm thuốc mời anh. Tôi và các đồng chí đi cùng đều không cầm được nước mắt. Họ nói, Chủ nhiệm vẫn còn tình cảm sâu đậm với vùng đất này quá! Sau khi tôi đến công tác tại Không quân Thành Đô, tạm thời tôi vẫn chưa đi. Đương nhiên tôi muốn đi. Bia mộ ngàn năm vẫn biết nói. Khu vực Ma Lật Pha có vài nghìn ngôi mộ, đến gần mỗi ngôi mộ là đến gần một linh hồn. Đến gần nghĩa trang liệt sỹ Ma Lật Pha, những toan tính đời thường trong đầu không còn tồn tại nữa.
    ( Nguồn: Hồn Việt tháng 11/2010- đã giới thiệu tại địa chỉ: http://phamvietdaonv.blogspot.com/2010/11/normal-0-false-false-false-en-us-x-none.html )


  • Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang 1981-1988: trận Stalingrad của Việt Nam (PI)

  • Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang 1981-1988: trận Stalingrad của Việt Nam (PII)

  • Mặt trận Vị Xuyên Hà Giang 1981-1988: trận Stalingrad của Việt Nam (PIII)




  • ---------------------


    *****

    Gài độ