Nhân lúc tâm trạng "kinh hãi" sau khi xem "bức ảnh ma quái kinh điển" này, mình share cho các bạn tham khảo. Ban đầu khi nhìn sơ qua toàn bộ bức ảnh thì sẽ không có gì đặc biệt và cho dù bạn có ngồi nhìn từ sáng tới chiều cũng không có điều gì khác biệt. Nhưng nếu bạn làm theo chỉ dẫn của mình thì bạn sẽ nhìn thấy một điều hết sức là thú vị. Sau đây là hướng dẫn nhé đọc kỹ mắc công nói không thấy gì, nhớ là nhìn rồi đừng tưởng tượng gì hết cứ làm giống như hướng dẫn là OK:
"Hãy nhìn vào bức ảnh dưới đây, tập trung vào 4 CHẤM ĐEN ở giữa hình trong vòng 30 giây(càng lâu càng tốt). Sau đó nhìn "TỪ TỪ" vào TƯỜNG trước mặt bạn, NHỚ LÀ NHÌN VÀO MỘT ĐIỂM --> một điều kì diệu sẽ hiện lên trước mắt bạn ."
Xem xong nhớ comment cho cảm tưởng nè !
CHÚ Ý CÓ MỘT SỐ ĐỐI TƯỢNG NHÌN KHÔNG RA VÌ LÝ DO KHÔNG ĐỌC "HƯỚNG DẪN TRƯỚC KHI DÙNG". Với cái khúc nhìn lên tường bị hoa mắt thì bạn hãy nhìn tiếp vào chổ hoa mắt.
Mấy ngày nay đi lang thang các blog, để ý mới thấy hình như là đang có một xu hướng mới của các Blogger Việt. Nói đúng hơn là ở các trang blog “thủ thuật” hay “tutorial” trên nền blogspot, wordpress. Không biết xu hướng này bắt nguồn từ blogger nào hay được khởi sướng do ai mà giờ “thử visit” vào thì thấy rất nhiều “chủ blog” tuyển “Cộng tác viên”. Đại diện là Minhmeo, eblogviet, Misaoblog, HuTruc…
Cộng tác viên cho Blog thì không phải là mới. Nhưng thực sự trước giờ cũng không thấy các blogger triển khai nhiều và đồng bộ như zậy. Ngoài ra họ còn khuyến khích bằng những phần quà “hấp dẫn”. Âu thì việc này cũng rất tốt, “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao mà”. Nhớ đến lúc trước mọi người cũng đua nhau mà tổ chức “event cho độc giả” nhằm thu hút sự quan tâm.
Từ đây ta thấy được sự gắn kết, học hỏi rất nhanh lẫn nhau giữa các blogger này. Họ có một hiệu ứng lang truyền rất mạnh. Một hiệu ứng tốt. Mong rằng cộng đồng blogger hay nhóm blogger này sẽ ngày càng phát triển. Chúc tất cả thành công !
Toà soạn ảo (TSO) là hình thức Hồng Nhật muốn tập hợp các anh em bloger có khả năng và thích viết lách nhằm xây dựng một đội ngũ mà theo đó, anh em có thể trao đổi với nhau về các đề tài cần phản ảnh, từ đó cùng nhau viết bài đăng trên báo chí chính thống trong nước. Để có thể hình dung được cách làm cụ thể, Hồng Nhật mô tả sơ quy trình. Trong tuần, các bloger là thành viên đọc và quan sát cuộc sống chung quanh mình, TSO sẽ họp trực tuyến vào một ngày nhất định (trong khoảng thời gian 1 – 2h). Anh em sẽ trao đổi với nhau để thống nhất sẽ viết (những) đề tài nào. Sau khi bản thảo hoàn thành, sẽ được chuyển cho Hồng Nhật. Em sẽ biên tập lại và post lên blog vn.myblog.yahoo.com/hongnhattt-26. Entry ký tên chung (người viết cụ thể + Hồng Nhật). Sau khi thăm dò cộng đồng mạng (các comment), entry sẽ được chính Hồng Nhật biên tập lại một lần nữa và gửi đăng ở các tờbáo lớn. Như vậy, TSO có những đặc điểm sau đây: - Các thành viên tham gia tự nguyện và không bị ràng buộc. - Hoạt động trên cơ sở chia sẻ thông tin, kinh nghiệm lẫn nhau. Cụ thể, Hồng Nhật phát huy tối đa năng lực, sở trường, sở thích và kinh nghiệm của mình trên cơ sở kết hợp với cộng sự; anh em cũng sẽ có dịp phát huy tối đa năng lực, sở trường, sở thích và kinh nghiệm của mình trên cơ sở kết hợp với Hồng Nhật và các anh em khác. - Tất cả tập trung về một đầu mối là Hồng Nhật. - Từng thành viên sẽ trang bị các phương tiện trong điều kiện của mình để có thể tác nghiệp báo chí tốt nhất; trang bị phương tiện voice chat để họp trực tuyến. TSO ra đời trên tinh thần viết để giải tỏa những bức xúc hoặc chia sẻ… là chính. Tuy nhiên, TSO cũng sẽ có ít nhất 2 nguồn thu: 1. Nhuận bút của các bài được đăng 2. Thu hút quảng cáo trên blog, nếu pageview tăng. Đây cũng là lý do post bài tập trung về 1 blog. Về nhuận bút, từng bài được đăng, tòa soạn của các báo sẽ gửi vào tài khoản của Hồng Nhật. Em sẽ chấm lại nhuận bút một lần nữa để gửi lại cho các bác. Tỷ lệ chấm lại tùy chất lượng từng bản thảo gửi cho Hồng Nhật. Định kỳ, Hồng Nhật sẽ chuyển khoản cho từng anh em có bài đăng. Về nguồn thu từ quảng cáo (nếu có), Hồng Nhật sẽ căn cứ vào số lượng entry và mức đóng góp của từng cộng sự để phân chia. Về lĩnh vực viết, TSO có thể viết về bất kỳ đề tài nào miễn phù hợp với báo chí chính thống trong nước là được. Nhưng cũng lưu ý là TSO khuyến khích tập trung vào các vấn đề dân sinh. Từng thành viên ký tên trong bài viết phải chịu trách nhiệm về tính xác thực của thông tin (được nêu trong bài) theo luật Báo chí và luật dân sự hiện hành. Trên đây là những nét cơ bản. Nay TSO xin bắt đầu ra mắt. Toàn bộ lĩnh vực này sẽ được tập trung trong thư mục TSO của blog này.
Ông vua ngày xưa nhận quyền uy từ thiên mệnh. Nhà nước ngày nay nhận tính chính đáng từ sự thỏa thuận của dân. Dân thỏa thuận vì dân tin cậy. Người cầm quyền nhận một nhiệm vụ mà dân giao phó để thực hiện một mục tiêu mà hai bên thỏa thuận trong sự tin cậy lẫn nhau. Tin cậy là gốc của quyền lực. LTS: Theo GS Cao Huy Thuần, tin cậy là nền tảng của xã hội, là gốc của quyền lực và không thể có một quyền lực chính đáng nếu quyền lực đó vô trách nhiệm. Đây là vấn đề thuộc về khoa học tổ chức đang được nhiều học giả bàn thảo. Để rộng đường dư luận, Tuần Việt Nam giới thiệu bài viết bàn về Niềm Tin của ông để mọi người cùng thảo luận.
Tin cậy là gốc của quyền lực
Ai cũng biết tin cậy là nền tảng của xã hội. Không có tin cậy thì không còn bất cứ giao tiếp nào giữa người với người, và do đó cũng không còn xã hội.
Không có tin cậy giữa vợ với chồng, cha với con, thì gia đình tan nát. Không có tin cậy giữa thầy với trò thì giáo dục vô hiệu. Không có tin cậy ở đồng tiền thì kinh tế khủng hoảng. Không có tin cậy ở đất nước, người dân vượt biên. Ai cũng biết vậy, nhưng phải đợi đến Locke (1632-1704) tin cậy mới đi vào lý thuyết chính trị để cắt nghĩa nguồn gốc của quyền lực.
Do đâu quyền lực được xem như chính đáng? Locke trả lời: từ sự tin cậy của người dân. Sự tin cậy đó cắt nghĩa tại sao con người từ bỏ tình trạng hoang dã ban sơ để lập nên một uy quyền chính trị mà ngày nay ta gọi là Nhà nước. Trong tình trạng ban sơ, chỉ có cá nhân với cá nhân, tổ chức đoàn thể duy nhất là gia đình. Giữa cá nhân và cá nhân, ai cũng tự do, muốn làm gì thì làm, ai cũng bình đẳng, ai cũng tự lo bảo vệ sinh mạng, tài sản, ai cũng tự mình giải quyết xung đột, ai cũng dọc ngang nào biết trên đầu có ai. Thế nhưng trên đầu vẫn có một thứ luật, luật tự nhiên, mà con người tự biết chẳng cần ai dạy, vì đã là người thì ai cũng có lý trí bẩm sinh.
Lý trí dạy: xâm phạm tính mạng của người khác thì người khác xâm phạm tính mạng của mình. Xâm phạm tài sản của người khác thì của cải của mình cũng bị xâm phạm lại. Vậy thì, đừng ai xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tự do, tài sản của ai. Luật đó là luật tự nhiên, luật sinh tồn hỗ tương, có qua có lại. Vấn đề là: nếu luật đó bị vi phạm thì sao? Kẻ yếu làm sao tự xử? Yếu làm sao xử được mạnh? Mà kẻ mạnh nào lại không có đứa mạnh hơn ở trên đầu? Chính vì vậy, vì thiếu một tổ chức để phân xử, mà con người chấm dứt tình trạng ban sơ để bước qua tình trạng xã hội có tổ chức. Bước qua như vậy không phải để sống, mà để sống tốt hơn.
Với thời đại gần đây, lý do đó lại càng rõ hơn nữa. Đồng tiền xuất hiện, kinh tế trao đổi bước qua kinh tế tiền tệ, xã hội phải được tổ chức chặt chẽ. Với đồng tiền, con người có khuynh hướng để dành, tích lũy. Từ đó, bất bình đẳng tăng lên, tăng mãi, đến mức con người không thể ngủ yên nếu tài sản không được một tổ chức bảo vệ: tổ chức ấy là tổ chức chính trị, là Nhà nước. Vậy thì, con người thành lập tổ chức chính trị để tránh nguy hiểm của bất an ninh, để tự do, để tài sản được bảo vệ. Muốn vậy, mỗi người phải từ bỏ quyền tự mình hành xử luật tự nhiên và trao quyền đó cho một tổ chức độc lập, đứng trên mọi cá nhân: đó là cái hợp đồng xã hội cơ sở. Quyền lực của tổ chức chính trị bắt nguồn nơi sự từ bỏ đó của mọi người. Nhưng, khác với các nhà tư tưởng khác, Locke không xem sự từ khước đó là vô giới hạn. Bởi vậy, quyền lực của tổ chức chính trị chỉ rộng đến mức cần thiết, vừa đủ để đạt mục tiêu của xã hội, tức là hạnh phúc của con người và an ninh của tài sản. Tổ chức chính trị đó thu hẹp tự do và tài sản mà con người có trong tình trạng ban sơ, nhưng không triệt tiêu. Đó là điểm mấu chốt trong Locke.
Có thế con người mới tự nguyện, thỏa thuận, bước vào xã hội chính trị, chấp nhận uy quyền của Nhà nước. Không có sự thỏa thuận đó, uy quyền chính trị sẽ không chính đáng. Ông vua ngày xưa nhận quyền uy từ thiên mệnh. Nhà nước ngày nay nhận tính chính đáng từ sự thỏa thuận của dân. Dân thỏa thuận vì dân tin cậy. Người cầm quyền nhận một nhiệm vụ mà dân giao phó để thực hiện một mục tiêu mà hai bên thỏa thuận trong sự tin cậy lẫn nhau. Tin cậy là gốc của quyền lực. Nếu anh làm tôi mất lòng tin thì tôi rút lui sự tin cậy
Trên mặt lý thuyết, cái nhìn của Locke là cái nhìn đầy lạc quan. Khác với các tư tưởng gia khác, ông nghĩ: tình trạng ban sơ không phải là hoàn toàn rừng rú, con người không phải là chó sói với nhau. Từ đầu, con người đã biết sống hợp quần, chỉ vì một lý do tự nhiên: bản tính của con người là tin ở lời nói, tin nhiều hơn là nghi. Nếu từ đầu, từ căn bản, không ai tin gì ở lời nói của ai cả, thì làm sao đồng ý được với nhau về cái hợp đồng xã hội? Huống hồ đây là một hợp đồng chuyển nhượng quyền và tự do của mình cho một quyền lực mà mình chưa hề biết gì về cách tổ chức, hoạt động. Bước nhảy từ tình trạng hoang sơ đến tình trạng xã hội là một bước nhảy đầy bất trắc. Không tin nhau, không tin ở cái cơ cấu xã hội sẽ tổ chức, ai dám nhảy? Ai dám nhảy với nhau và với cái quyền lực chưa hề biết mặt mũi kia?
Bởi vậy, con người trong cái hợp đồng xã hội của Locke là con người tự tín, tự chủ, biết trách nhiệm. Tôi biết trách nhiệm về việc giữ lời nói của tôi, cho nên tôi cũng tin rằng anh biết trách nhiệm về lời nói của anh. Ý thức về trách nhiệm hỗ tương đó tạo ra mối liên hệ sâu xa giữa người với người: kẻ nào bội hứa, nuốt lời, kẻ ấy đi ra khỏi cái hợp đồng đạo đức đã tạo ra khuôn phép cho đời sống xã hội. Tôi cho anh bạc thật, anh không thể trả lại cho tôi bạc giả.
Trong cái hợp đồng ký kết giữa anh với tôi, giữa chúng ta với tất cả, giữa tất cả với quyền lực, mỗi người đều là những con người trưởng thành, tự lập, có lý trí, biết trách nhiệm. Con người trong tình trạng thiên nhiên đã thế, con người trong xã hội hiện đại ngày nay lại càng như thế. Không thể có xã hội nếu không có những cá nhân biết trách nhiệm. Không thể có một quyền lực chính đáng nếu quyền lực đó vô trách nhiệm.
Giữa những con người biết trách nhiệm như vậy, sự tin cậy đối với hợp đồng chính trị dựa trên lý trí, không phải dựa trên lòng tin mù quáng, và khác với lòng tin tôn giáo mà câu chuyện Abraham trong thánh kinh là biểu trưng. Thánh kinh kể nguyên văn: "Thượng đế gọi: "Abraham!" Abraham trả lời: "Con đây!" Thượng đế bảo: "Dẫn đứa con duy nhất của ngươi, đứa con mà ngươi yêu thương, Isaac, dẫn đến ngọn núi mà Ta sẽ chỉ, thiêu nó trên dàn lửa". Sáng sớm, Abraham thức dậy, bửa củi, chất củi trên lưng lừa, dẫn Isaac đến nơi hẹn.
Qua ngày thứ ba, Abraham ngước mắt, thấy núi từ xa. Abraham lấy củi chất trên lưng Isaac, tay cầm lửa và dao, cùng đi lên núi. Isaac nói: "Đây là lửa, đây là củi, còn đâu là con cừu để giết?" Abraham trả lời: "Này con, Thượng đế sẽ lo việc mang cừu đến". Và cả hai tiếp tục đi. Đến nơi, Abraham dựng một bàn tế, chất củi. Ông trói Isaac, đặt trên đống củi. Rồi Abraham đưa tay lấy con dao để cứa cổ đứa con trai duy nhất mà ông yêu thương. Nhưng sứ giả của Thượng đế gọi ông từ trên trời, bảo ngừng tay lại. "Abraham! Ngươi đã biết sợ Thượng đế, biết không từ chối Thượng đế đứa con của ngươi, đứa con duy nhất". Abraham ngừng tay, thấy trong bụi cây cặp sừng của một con cừu bị vướng, bèn bắt con cừu cho vào dàn lửa."
Đó là chuyện kể trong kinh thánh Cựu ước. Kinh Coran của Hồi giáo cũng kể một chuyện tương tự, chỉ khác cái tên của đứa con, không phải Isaac mà Ismael. Abraham nói với con: "Này con, cha vừa nằm thấy trong mộng cha đang thiêu con trên dàn lửa, con nghĩ sao?" Đứa con trả lời: "Ồ, thưa cha, cha hãy làm điều gì mà Thượng đế bảo làm, nếu Thượng đế muốn".
Triết gia Kierkegaard giải thích hành động của Abraham bằng cách đặt lòng tin lên trên đạo đức khi có mâu thuẫn giữa hai ép buộc. Mâu thuẫn đó không thể giải quyết được bằng dung hợp, bắt buộc phải giải quyết bằng cách lựa chọn giữa một trong hai. Con người lắm khi bị đặt vào những hoàn cảnh bi đát như thế, và chỉ còn có cách chọn lựa mà thôi, không phải chọn lựa giữa tốt và xấu, thiện và ác, mà chọn lựa giữa chọn lựa và không chọn lựa, nghĩa là quyết định hay không, và quyết định là dấn thân. Đối với Abraham, bổn phận trước Thượng đế là bổn phận tuyệt đối, bổn phận đó buộc ông phải dấn thân theo Thượng đế, không cần suy nghĩ, nghĩa là không cần suy nghĩ đến đạo đức của người thường.
Thượng đế rất bằng lòng về thái độ của Abraham. Thượng đế muốn thử lòng tin của ông và biết ông có lòng tin tuyệt đối. Nếu đây chỉ là lòng tin tôn giáo, ta kính cẩn cúi đầu. Vấn đề là không ít quyền lực muốn đưa lòng tin tôn giáo đó vào mối tương quan với người dân: dân là tín đồ, mình là Thượng đế, mệnh lệnh là tuyệt đối. Bảo đi là đi, bảo chết là chết: không thiếu gì thơ văn ca tụng những lòng tin chính trị như vậy. Kể nguyên văn một đoạn trong thánh kinh là cốt để so sánh với thơ văn sùng tín đưa lòng tin chính trị vào cõi tuyệt đối của lòng tin tôn giáo. Tin cậy trong Locke không phải như vậy. Đó là tin cậy giữa những con người mở mắt, ngang nhau, không trên không dưới, sáng suốt, có lý trí, những con người tin có điều kiện. Điều kiện là: nếu anh làm tôi mất lòng tin thì tôi rút lui sự tin cậy.
Trong tương quan giữa người dân và quyền lực, Locke nói: nếu quyền lực không làm đúng nhiệm vụ được giao phó, dân sẽ xem như đang ở trong tình trạng chiến tranh, nghĩa là sẽ chống lại để lấy lại tự do nguyên thủy. Quả quyết đó của Locke mở ra một chân trời mới trong học thuyết chính trị đương thời: trước cả Cách mạng 1789, Locke đã chủ trương nguồn gốc của quyền lực nằm nơi dân. Dân trao quyền, không phải là trao hẳn, mà là trao có điều kiện. Điều kiện đó là phải giữ lòng tin, trust. Trong thời đại dân chủ ngày nay, ta nói: đó là lòng tin đặt vào những người biết trách nhiệm. Cơ sở của quyền hành là trách nhiệm. Không biết trách nhiệm thì quyền lực chỉ là bạo lực.
Chính vì đánh hơi thấy trước bước đi của thời đại như vậy mà Locke là ông tổ của những nước dân chủ đầu tiên trên thế giới. Nước Anh trước, nước Mỹ sau, họ khám phá ra điều mới lạ: họ cai trị dân tốt hơn khi dân được hưởng tự do. Tự do chính trị, không những không đưa đến hỗn loạn phương hại cho quyền hành của họ, mà còn làm tăng sức mạnh của quyền hành, làm quyền lực vững hơn, cường tráng hơn. Với sức mạnh đó, họ chế ngự thế giới, lạ thật, các nước tự do chế ngự thế giới thiếu tự do! Từ thế kỷ 17, 18, tư tưởng đi trước, sức mạnh đi theo, lịch sử đã dẫn tự do định cư trên khắp toàn cầu, từ tự do dân tộc đến tự do cá nhân, từ tự do trong đầu óc đến tự do trong hiến pháp. Ở đâu có cản trở tự do, ở đấy lòng tin càng mất. Không ai chối từ nguyên tắc tự do dân chủ được, kể cả Vạn Lý Trường Thành.
Nói như vậy không có nghĩa là lấy chế độ chính trị của các nước Âu Mỹ làm chuẩn. Họ có cái hay mà cũng có cái dở, có ưu có khuyết. Khuyết điểm của họ, ngày nay họ thấy rõ như nhìn vào lòng bàn tay: đó là cá nhân chủ nghĩa thái quá. Cá nhân chỉ nghĩ đến mình, thì ý thức tập thể, đời sống cộng đồng, đời sống xã hội, đời sống chính trị, chế độ dân chủ, tất cả đều bị tổn thương và chính tự do cũng mất. Con người dân chủ là con người tự mình phán đoán, quyết định, điều đó hay, nhưng nếu ai cũng khăng khăng bảo vệ lợi ích cá nhân, không biết dung hòa quyền lợi, thì chính họ đã đánh mất đi cái bí quyết thành công của chế độ dân chủ là tinh thần mực thước, phải chăng.
Các chế độ Âu Mỹ còn vấp thêm nhiều vấn nạn nữa không dễ trả lời. Cá nhân là tối thượng, nhưng cá nhân tôi, cá nhân anh, cá nhân của tất cả mọi người, có ai hiểu biết được hết tất cả mọi vấn đề để phán đoán về tất cả mọi việc? Làm sao tôi biết được cái cầu kia cần bao nhiêu tấn thép để xe anh chạy qua khỏi sập?
Trong mọi chuyện, tôi phải cậy đến anh chuyên viên, rốt cục con người dân chủ trong tôi phán đoán với cái đầu của anh chuyên viên, tôi lệ thuộc ý kiến của anh chuyên viên, nhất là anh chuyên viên chính trị nói rất giỏi. Anh chuyên viên là chủ, đâu phải tôi? Tôi còn lệ thuộc cả trăm ngàn vạn thứ trong phán đoán của tôi. Ở trường, tôi chỉ mới lệ thuộc thông tin của ông giáo. Bây giờ, bấm một cái nút, trăm ngàn vạn thông tin ào đến cùng một lúc, tôi biết phán đoán theo cái gì đây?
Ngay các ông khoa học gia cũng nghi ngờ cả cái chuyên môn của mình vì khoa học, kỹ thuật ngày nay tiến nhanh quá, vậy thì tôi dám tin ở ai? Rốt cục, cái phao mà tôi phải bám vào để phán đoán chỉ còn là lý trí của chính tôi. Con người dân chủ ngày nay không còn biết tin cậy ai nữa ngoài lý trí. Phê phán có lý trí là thứ phê phán của một con người trưởng thành, con người mà chế độ dân chủ cần đến. Nhưng bao nhiêu lực lượng đang tấn công vào lý trí của tôi: nào tuyên truyền, nào biểu ngữ, nào quảng cáo, nào nói láo, nào mỵ dân. Ai cũng muốn chiếm miếng đất mầu mỡ nơi lòng tin cậy của tôi cả, tôi tin cậy ai?
Các chế độ dân chủ Âu Mỹ ngày nay đang nhức đầu với câu hỏi đó. Ai cũng nói: sự tin cậy nằm nơi cội rễ của cây dân chủ. Rồi ai cũng chỉ cái cây dân chủ mà nói: nó đang héo. Nó héo vì tin cậy bị lung lay: dư luận không tin nữa ở bầu cử, không tin nữa ở các cơ quan đại diện, không tin nữa ở sự trong sạch của chính trị. Chế độ dân chủ đang tự nghi ngờ mình, ngay trên xứ sở đã sinh ra nó. Chưa lúc nào lý thuyết của Locke trở thành thời sự như vậy ở Âu châu. Trên báo chí, trên truyền thông, trên các diễn đàn trí thức, khắp nơi, đâu cũng đặt câu hỏi: làm thế nào để vực dậy lòng tin cậy nơi con người dân chủ?
Nhưng có phải chính chế độ dân chủ làm mất lòng tin không? Chắc chắn không. Chế độ dân chủ, nhất là ngày nay, phải giải quyết một mâu thuẫn nội tại: làm sao hòa giải giữa tự do của người dân, càng ngày càng khó tính vì độc lập hơn, tự chủ hơn, đòi hỏi hơn, với nhu cầu của chính quyền phải hành động, phải quyết định, nghĩa là phải chọn lựa những giải pháp ít mất lòng tin nhất trong những điều kiện kinh tế, xã hội càng ngày càng khó khăn? Làm thế nào? Dẹp bớt dân chủ chăng? Đâu có, phải tăng cường dân chủ! Dân chủ đại diện bị mất lòng tin? Thì phát triển thêm dân chủ tham dự. Thì tìm mọi cách để người dân tham gia nhiều hơn nữa vào việc công. Thì mở rộng thêm xã hội công dân.
Dân chủ là chính thể luôn luôn đi tới, luôn luôn tiến bộ, luôn luôn năng động. Động cơ của dân chủ chính là cái tính không bao giờ thỏa mãn của người dân, nó thúc đẩy chế độ phải bước đi nữa, nhanh hơn, xa hơn. Hoài nghi, bất trắc, cảm tưởng đi hoài không đến, là cái giá phải trả để chế độ chuyển động và để người dân tự do. Bởi vậy, "khủng hoảng" là cơn đau cứ tái diễn hoài trong chế độ dân chủ, nhưng phải có thất bại để được thành công. "Không có thất bại nào lớn hơn thành công" là vậy.
°°°
Mùng 2 tháng 9 và tiếng chào đời của Dân chủ
Tôi mở đầu với Locke vì hôm nay là ngày 2 tháng 9, ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên Ngôn độc lập tại quãng trường Ba Đình. Câu đầu trong Tuyên Ngôn của Việt Nam là câu đầu trong Tuyên Ngôn độc lập của Mỹ: "Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Câu đó lấy ý của Locke vì các người khai sinh ra nước Mỹ là học trò cưng của Locke.
Câu đó, đặt trên đầu của văn bản pháp lý khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa cũng đưa nước Việt Nam bước vào triết thuyết tự do của thế giới tiến bộ. Bắt đầu như thế với tự do của con người mà triết thuyết ấy vinh danh, Chủ tịch Hồ Chí Minh mới "suy rộng" ra: "Suy rộng ra, câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do".
Thời đại Hồ Chí Minh là thời đại của giải phóng dân tộc. Cứ y theo Tuyên Ngôn, giải phóng dân tộc không tách rời với giải phóng con người. Mà giải phóng con người, đứng về mặt tư tưởng chính trị, bắt đầu rõ ràng nhất từ Locke. Vô hình, nhà tư tưởng ấy hiện diện trong khí thế nô nức của hàng chục vạn con người, hàng chục vạn trái tim Việt Nam, say sưa trong tự do, độc lập. Lịch sử ngày 2 tháng 9 còn ghi thêm một cử chỉ xuất thần, xứng đáng được xem như nguồn gốc của chế độ dân chủ vừa được khai sinh. Một cử chỉ đượm tinh hoa của tư tưởng tiến bộ. Đang đọc Tuyên Ngôn, Chủ tịch ngừng lại hỏi: "Đồng bào nghe tôi có rõ không?" Cả chục vạn trái tim nồng nàn đáp lại: "Có!". Tiếng "Có!" đó là tiếng chào đời của dân chủ. Tiếng ấy lồng lộng đi vào thơ Tố Hữu: Người đọc Tuyên ngôn... Rồi chợt hỏi: "Đồng bào nghe tôi nói rõ không?" Ôi! Câu hỏi hơn một lời kêu gọi Rất đơn sơ mà ấm bao lòng! Cả muôn triệu một lời đáp: "Có!" Như Trường Sơn say gió Biển Đông.
Có lãnh tụ nào dân chủ đến mức ấy không? Đến mức hòa mình với nhân dân làm một. Đến mức không quên rằng mình chỉ là đại biểu của dân trong lúc dân đang say sưa uống từng lời của lãnh tụ. Bản Tuyên Ngôn, thật vậy, không phải chỉ tuyên bố độc lập; Tuyên Ngôn còn tuyên bố nguồn gốc của Nhà nước mới, quyền lực mới. Nguồn gốc đó là đâu? Là dân! "Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân Chủ Cộng Hòa."
Là dân! Không ai khác ngoài dân đã dựng lên Nhà nước, đã dựng lên chế độ. Không ai khác ngoài hàng chục vạn con người giữa quãng trường Ba Đình, nhân lên thành hàng triệu triệu người trong cả nước. Nhà nước là họ, chế độ là họ, quyền lực là họ, nguồn gốc là họ. Họ nói qua miệng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Bởi thế cho nên, chúng tôi, lâm thời chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố..."
Giữa biển người hừng hực tôn vinh lãnh tụ, lãnh tụ không quên rằng mình chỉ là đại biểu của dân. Cho nên cái giây phút Chủ tịch ngừng lại là giây phút thiêng liêng nhất trong lịch sử nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa: giây phút để nhân dân cất lên tiếng nói của mình, tiếng "Có!" khẳng khái quang vinh trao quyền chính trị cho lãnh tụ, viết lên trời đất một hợp đồng chính trị, từ giã xã hội nô lệ bước qua xã hội độc lập, tự do. Bốn phương tám hướng phải nghe vang lên một tiếng "Có!" tưng bừng như vậy để chứng minh tính chính đáng của chính quyền vừa thành lập: chính đáng, vì đặt trên sự tin cậy toàn vẹn của người dân.
Sự tin cậy đó có phải là lòng tin thần thánh? Lòng tin sùng bái? Lòng tin tôn giáo? Lòng tin của Abraham? Tin để có thể giết con? Đâu phải! Tiếng "Có!" đó là tiếng của chủ thể, lần đầu tiên trong lịch sử cất đầu lên để khẳng định mình là chủ thể, không phải vua mà cũng chẳng phải trời. Tiếng "Có!" đó biến tên nô lệ thành ông chủ, biến thần dân thành công dân, và công dân thì không phải là tín đồ chính trị. Bài thơ của Tố Hữu là bài thơ ca tụng lãnh tụ, nhưng ông đã kết luận rất hay: Ta nhìn lên Bác, Bác nhìn ta Bốn phương chắc cũng nhìn ta đó Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Buổi sáng mồng 2 tháng 9 không phải chỉ có một mình lãnh tụ. Có Bác và có Ta. Có Bác nhìn Ta và có Ta nhìn Bác. "Ta" viết hoa vì "ta" trong thơ là Nước, Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa hiện thành người, chục vạn người, trên quảng trường Ba Đình. Ôi, thiêng liêng làm sao cái giây phút nhìn nhau! Mắt này và mắt kia thấy gì nơi nhau? Tin cậy toàn vẹn.
Cái gì cũng biến chuyển, đó là luật tự nhiên. Dân chủ ở phương Tây cũng biến chuyển, và họ thành tâm công nhận họ đang gặp khủng hoảng lòng tin. Họ công nhận để sửa đổi. Để phục hồi lại lòng tin đã mất. Kỷ niệm ngày 2/9 vinh quang, chúng ta nghĩ gì?
Bài học lớn nhất mà chúng ta học được từ Nguyễn Trường Tộ chính là sự thất bại của ông trong việc kiến nghị những giải pháp canh tân đất nước với tư cách một trí thức. Từ đó thấy rằng, chỉ khi nào người trí thức tự giác tránh con đường cụt mang tên "Trí thức cận thần" để đi trên con đường mới - con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân - thì đất nước mới có thể tránh được nguy cơ trở thành "đất nước cận thần" và giữ được nền độc lập đúng nghĩa. Mỗi khi nói về sự canh tân của nước Nhật, ta không khỏi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi.
Mỗi khi nghĩ đến Fukuzawa Yukichi, ta không khỏi nghĩ đến Nguyễn Trường Tộ.
Cả Fukuzawa Yukichi và Nguyễn Trường Tộ đều là là những nhà tư tưởng về cải cách, sống cùng giai đoạn lịch sử. Nhưng một người thành công, một người thất bại.
Câu hỏi đặt ra là: Vì sao Fukuzawa Yukichi thành công, còn Nguyễn Trường Tộ thì thất bại?
Một phần của câu trả lời đến từ sự khác nhau trong cách tiếp cận của hai người. Trí thức độc lập
Sau khi tiếp thu nền văn minh phương Tây, và nhận thấy cần phải tiến hành cải cách để canh tân đất nước nhằm giữ nền độc lập, vươn lên sánh vai cùng các cường quốc phương Tây, Fukuzawa Yukichi tiến hành chương trình hành động của mình.
Các việc làm của Fukuzawa Yukichi tương đối phong phú, nhưng có thể khái quát ngắn gọn như sau: mở trường dạy học, dịch sách, viết sách, làm báo để truyền bá văn minh phương Tây cho trí thức và dân chúng Nhật Bản.
Ảnh minh họa.
Ông tìm cách khai sáng cho dân chúng và trí thức Nhật Bản, lúc đó còn chìm đắm trong lối học từ chương ảnh hưởng của Nho giáo Trung Hoa, thông qua việc cổ vũ lối thực học của phương Tây; xây dựng hình mẫu trí thức độc lập và chủ trương "độc lập quốc gia thông qua độc lập cá nhân".
Bản thân ông cũng hành động như một hình mẫu của trí thức độc lập, không phục thuộc vào giới cầm quyền.
Ông kêu gọi trí thức Nhật Bản lúc bấy giờ hãy "coi trọng quốc gia và coi nhẹ chính phủ", tự tin vào sức mạnh và vị thế độc lập của mình. Từ đó dấn đến niềm tin tuyệt đối vào sức mạnh của tri thức và nền văn minh mới mẻ có tác dụng giải phóng tư duy và bồi đắp sự độc lập của cá nhân.
Khi trường Đại học Keio do ông sáng lập có nguy cơ phải đóng cửa vì nội chiến, chỉ còn 18 học sinh, nhưng ông vẫn tin tưởng: "Chừng nào ngôi trường này còn đứng vững, Nhật Bản vẫn sẽ là quốc gia văn minh trên thế giới".
Fukuzawa Yukichi sống và làm việc như một trí thức độc lập điển hình. "Trí thức cận thần"
Khác với Fukuzawa Yukichi, Nguyễn Trường Tộ, sau khi tiếp thu văn minh phương Tây, không truyền bá để khai sáng cho đại chúng mà dành phần lớn tâm sức cho việc viết tấu trình gửi nhà Vua. Tất cả các bản tấu trình và điều trần của ông đều không được đưa ra sử dụng, dù hơn ai hết, ông biết được giá trị thật của chúng: "Tế cấp luận thâu tóm trí khôn của thiên hạ 500 năm nay... Bài Tế cấp luận của tôi nếu đem ra thực hành hàng trăm năm cũng chưa hết".
Bằng cách đó, ông đã phụ thuộc tuyệt đối vào nhà cầm quyền, đánh mất vị thế độc lập của người trí thức. Nói cách khác, ông hành xử như một "trí thức cận thần": Viết tấu trình và chờ đợi sự sáng suốt của nhà Vua.
Như thế, ông đã tự tước đi cơ hội của chính mình, và rộng ra là của cả dân tộc, vì trong suốt lịch sử, số lượng các minh quân vô cùng ít.
Những kiến nghị cải cách của ông, dù đúng đắn và có tầm vóc thời đại, nhưng rốt cuộc lại trở nên vô dụng.
Do hành xử như một "trí thức cận thần", không có được sự độc lập cho bản thân mình, dẫn đến không có đóng góp gì đáng kể vào sự hình thành giới trí thức đúng nghĩa, nên sau khi ông mất đi, không có người tiếp nối. Tư tưởng canh tân đổi mới của ông vì thế bị chìm vào quên lãng. Bài học cho hậu thế
Sự thất bại của Nguyễn Trường Tộ chính là bài học lớn nhất dành cho hậu thế. Tiếc rằng, bài học này, dù phải trả học phí rất đắt bởi không chỉ Nguyễn Trường Tộ mà còn cả dân tộc, không được sử dụng.
Những người có trách nhiệm thậm chí còn cổ vũ và yêu cầu trí thức phải đi theo lối con đường "trí thức cận thần" của Nguyễn Trường Tộ khi cho rằng: Trí thức muốn kiến nghị hay phản biện xã hội, cần gửi cho các cơ quan hữu trách trước khi phổ biến ra ngoài xã hội.
Lịch sử đã chứng minh: Đi theo còn đường đó là đi vào ngõ cụt. Làm theo cách đó là kéo lùi bước đi của dân tộc.
Trước tình cảnh đó, không còn cách nào khác, người trí thức phải tự giác tránh con đường cụt đó, con đường "trí thức cận thần", để đi con đường mới: con đường trí thức độc lập, trí thức dấn thân.
Chỉ khi đó, đất nước mới tránh được nguy cơ trở thành "đất nước cận thần", và giữ được nền độc lập đúng nghĩa.
Việc Quốc hội lắng nghe tiếng nói của những trí thức độc lập trong thời gian gần đây cho thấy con đường trí thức độc lập đã được khai mở, chỉ chờ người dấn bước.
________________________ Ghi chú:
1. Trái với dự đoán, sau khi kiểm tra tôi thấy: cụm từ "trí thức cận thần" chưa phổ biến, và chưa thấy xuất hiện trên mạng internet.
2. Tôi được biết cụm từ này trong một thảo luận với một người bạn, TS. Nguyễn Đức Thành, vào khoảng đầu tháng 5/2010. Theo anh Thành, cụm từ này được hình thành trong một thảo luận của anh với một người bạn khác, TS. Nguyễn An Nguyên. Tuy nhiên, anh cũng không rõ đã có ai sử dung cụm từ này trước đó hay chưa.
3. Có một cụm từ khác có nghĩa gần tương tự với "trí thức cận thần", đó là "trí thức phò chính thống", do nhà văn Phạm Thị Hoài nêu ra. Tuy nhiên, theo tôi, nội hàm của hai cụm từ này có nhiều điểm khác biệt khá tinh tế.
4. Nếu ai đã thấy văn bản nào có cụm từ này rồi thì vui lòng báo cho tôi biết. Cá nhân tôi thấy cụm từ này có một nội hàm đáng suy ngẫm.
Fukuzawa là nhà giáo dục và học giả có thể nói là người ở bên ngoài chính quyền Nhật Bản có ảnh hưởng nhất trong giai đoạn cuộc Canh Tân Minh Trị, lật đổ chế độ Tokugawa năm 1868. Ông lãnh đạo cuộc đấu tranh học tập những ý tưởng của phương Tây nhằm xây dựng "một nước Nhật Bản hùng mạnh và độc lập".
Fukuzawa đã viết trên 100 cuốn sách giải thích và biện minh cho thể chế chính quyền nghị viện, giáo dục phổ thông, cải cách ngôn ngữ và quyền của phụ nữ.
Trong tác phẩm Phúc ông Tự truyện viết năm 1901, trước khi mất ít lâu, Fukuzawa tuyên bố việc xoá bỏ mọi đặc ân phong kiến của triều đại Minh Trị và chiến thắng chế độ phong kiến Trung Hoa trong cuộc chiến tranh Trung - Nhật năm 1894-1895 để hình thành một nhà nước Nhật Bản hiện đại chính là ước mơ suốt cuộc đời ông.
Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828 trong một gia đình Công giáo, quê làng Bùi Chu (nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An).
Từ nhỏ ông đã được Giám mục Ngô Gia Hậu (Gauchier) dạy tiếng Pháp cùng với các môn khoa học thường thức của Tây phương. Ông lại được cho đi du học ở nhiều nơi như Singapore, Malaisia, Pháp, La Mã... Trong những chuyến đi đó, ông đã tìm tòi và lĩnh hội được nhiều tri thức khoa học mới, trong lòng nung nấu đem những điều mình đã học hỏi được về phục vụ cho lợi ích nước nhà.
Tháng 5 năm 1863 ông đã soạn xong ba văn bản để gửi lên Triều đình Huế: bản thứ nhất là Tế cấp luận, bản thứ hai là Giáo môn luận, bản thứ ba là Thiên hạ phân hợp đại thế luận. Trong ba bản đó, bản Tế cấp luận là văn bản quan trọng nhất. Nội dung của bản này đề cập đến việc canh tân và phát triển đất nước.
Sau ba bản điều trần trên, Nguyễn Trường Tộ liên tục gửi nhiều bản khác lên Triều đình Huế (có 58 di thảo gửi cho Triều trình, liên tục trong vòng 10 năm). Những bản điều trần của ông là những đề nghị tâm huyết nhằm góp phần xây dựng đất nước, đưa đất nước thoát khỏi tình trạng phong bế, lạc hậu và tạo nên sự thay đổi lớn lao bên trong, đánh đuổi giặc ngoại xâm. Nhìn vào nội dung các bản điều trần, chúng ta nhận thấy Nguyễn Trường Tộ đã đi trước, và vượt lên trình độ của các tầng lớp trí thức nho sỹ đương thời.
Song thật tiếc, những dòng tâm huyết ấy lại không được chấp nhận do hạn chế của thời đại.
Blog Phamvietdaonv: HOAN HÔ BÁO CÔNG AN NHÂN DÂN ĐÃ XUNG TRẬN…(Được 2 ngày đã biến mất chỉ còn lưu trên Cache google . Gây mất đoàn kết nên đã cho xuống, kiểm điểm!) - Th09
Đài BBC đêm 23/8 vừa qua cho biết, trong một bài đăng trên tờ Nhân dân nhật báo (Trung Quốc) ra ngày 17/8, Lý Hồng Mai đã "khuyên" Việt Nam "không nên đùa với lửa". Tác giả của lời khuyên ngạo mạn nói trên, theo BBC, là một "biên tập viên kỳ cựu".
Theo trích thuật của BBC, Lý Hồng Mai nói rằng trong khi quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ đang trải qua một giai đoạn khó khăn mới, "các quyết định thiếu khôn ngoan của Việt Nam sẽ chỉ làm căng thẳng gia tăng".
Cái "giai đoạn khó khăn mới" trong quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ mà Lý Hồng Mai đề cập trong bài báo là để ám chỉ sự căng thẳng giữa hai cường quốc này khi Bắc Kinh phản ứng trước một số động thái gần đây của Washington mà họ cho là nhằm vào Trung Quốc, từ việc Mỹ nghiêng hẳn về phía Hàn Quốc trong vụ cáo buộc CHDCND Triều Tiên đánh đắm chiến hạm Cheonan đến cuộc tập trận Mỹ - Hàn trên biển Nhật Bản, và nhất là việc Ngoại trưởng Hillary Clinton tuyên bố Mỹ có "lợi ích quốc gia" trong việc giải quyết những vấn đề liên quan đến tự do hàng hải trên biển Đông; tiếp đó, tàu sân bay USS George Washington trên đường hàng hải quốc tế đã bỏ neo cách Đà Nẵng gần 200 hải lý, trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, rồi tàu hộ tống USS John S. McCain thăm cảng Đà Nẵng...
Lý Hồng Mai còn viết bừa rằng "có lẽ Việt Nam cần nhận thức rằng bị kẹt giữa hai cường quốc là một trò chơi nguy hiểm... Nếu cứ tiếp tục khích động các nước lớn đối chọi nhau thì không ai khác ngoài Việt Nam sẽ phải hối hận trước", và rằng “giới quan sát quốc tế đang có chung quan điểm Việt Nam đang cố hết sức để quốc tế hóa và đa phương hóa tranh chấp Trung - Việt tại biển Đông, và muốn Mỹ giúp đối trọng lại ảnh hưởng của Trung Quốc".
Té ra bình luận viên "giống cái" này động lòng trước tiến triển của quan hệ Việt - Mỹ gần đây. Chỉ có điều, những nhận định của bà ta là hồ đồ, hoàn toàn vô căn cứ, tức là nhắm mắt nói bừa.
Dư luận đều rõ là tại một diễn đàn đa phương như Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) được tổ chức tại Hà Nội hồi hạ tuần tháng 7 vừa rồi, các bên tham dự đều có quyền phát biểu, bày tỏ quan điểm của mình đối với những vấn đề liên quan đến an ninh khu vực mà họ quan tâm. Chuyện bà Hillary Clinton tuyên bố tại diễn đàn này rằng Mỹ "có lợi ích quốc gia" trong việc bảo đảm tự do hàng hải trên biển Đông cũng vậy. Tuyên bố của Ngoại trưởng Hillary Clinton là xuất phát từ chủ trương của chính quyền Mỹ, thể hiện quan điểm của họ, chứ nguyên cớ đâu phải là vì "Việt Nam đang cố hết sức để quốc tế hóa và đa phương hóa tranh chấp Trung - Việt tại biển Đông, và muốn Mỹ giúp đối trọng lại ảnh hưởng của Trung Quốc" mà bà Lý mượn danh "giới quan sát quốc tế" để "gắp lửa bỏ vào tay” Việt Nam.
Cũng cần nói thêm rằng tranh chấp tại biển Đông là chuyện xảy ra giữa nhiều nước chứ không phải là "tranh chấp Trung - Việt" như lời bà Lý viết, còn việc giải quyết những tranh chấp giữa nhiều quốc gia ấy trên cơ sở song phương hay đa phương là đòi hỏi của thực tế khách quan mà không một quốc gia nào có thể áp đặt ý muốn chủ quan của mình.
Sự kiện tàu sân bay USS George Washington bỏ neo ngoài khơi Đà Nẵng và tàu hộ tống USS John S. McCain thăm cảng Đà Nẵng hồi đầu tháng 8 này cũng không phải là do Việt Nam "muốn Mỹ giúp đối trọng lại ảnh hưởng của Trung Quốc" như lời tố điêu của bà Lý.
Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam.
Trả lời phỏng vấn báo Quân đội Nhân dân (QĐND) ngày 14/8 vừa qua, Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam, đã nêu rõ: "Từ đầu năm nay, Mỹ bày tỏ mong muốn cử một đoàn tàu quân sự vào thăm Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, và chúng ta chấp thuận ý kiến này".
Trung tá Jeffrey Kim, Chỉ huy tàu USS John S.McCain, khi trả lời phỏng vấn của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (TNHK), cũng nói rõ: "Chúng tôi tới đây (Đà Nẵng) nhân dịp đánh dấu 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao Mỹ - Việt". Về việc một số hãng đưa tin rằng thủy thủ tàu USS John S.McCain tham gia diễn tập hải quân với phía Việt Nam, Trung tá Jeffrey Kim cho rằng việc miêu tả như vậy là "không đúng với bản chất những gì chúng tôi thực hiện ở đây".
Ông giải thích: "Đó không phải là các cuộc diễn tập hải quân, mà là các cuộc trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm và kiến thức cũng như các bí quyết liên quan tới các chủ đề như tìm kiếm, cứu nạn hay kiểm soát thiệt hại, như làm sao để ngăn chặn ngập nước hay dập lửa trên tàu", và nhấn mạnh: "Các hoạt động chúng tôi thực hiện ở đây cho tới nay là phi tác chiến về bản chất" (TNHK đêm 12/8/2010).
Còn về chuyện tàu sân bay USS George Washington, nhân dịp đi trên đường hàng hải quốc tế cách Đà Nẵng gần 200 hải lý, trong vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam, mời đoàn đại biểu thành phố Đà Nẵng và các đơn vị quân đội đóng quân ở địa phương ra thăm tàu, Trung tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh cho biết: "Đây là hoạt động theo thông lệ của phía Mỹ, mỗi lần đi qua vùng biển gần các quốc gia có liên quan, phía Mỹ thường mời đoàn đại biểu các nước đó thăm tàu để bày tỏ thiện chí, và cũng là dịp để họ phô diễn các kỹ thuật quân sự tiên tiến. Nhiều nước như Trung Quốc, Thái Lan và một số nước ASEAN khác đã cử các đoàn đại biểu thăm tàu ở cấp độ khác nhau...".
Tướng Nguyễn Chí Vịnh cũng nêu rõ rằng Việt Nam đã có quan hệ hải quân tốt đẹp với nhiều nước láng giềng như Trung Quốc, Campuchia, Philippines, Singapore, Thái Lan..., đồng thời nhấn mạnh rằng "phát triển quan hệ hải quân với Trung Quốc là một hướng ưu tiên trong quan hệ đối ngoại quốc phòng của Việt Nam, mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước", và rằng "quan hệ hải quân giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được phát triển theo đúng tinh thần quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mà lãnh đạo hai Đảng, hai Nhà nước đã cam kết" (QĐND 14/8/2010).
Rõ ràng là bà Lý đã nhắm mắt trước thực tế nói trên.
Nhân đây, cũng xin lưu ý rằng thời gian qua, không ít nhà nghiên cứu, tướng lĩnh và báo chí của Trung Quốc đã có những nhận định, bình luận không đúng về các sự kiện kể trên, với những lời lẽ rất thiếu thiện chí (nếu không nói là thù địch) đối với Việt Nam, làm cho dư luận, nhất là dư luận Trung Quốc, hiểu sai bản chất của các sự kiện đó, dẫn đến hiểu sai về Việt Nam, làm tổn hại tình cảm hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
Đài BBC nhận xét rằng mặc dù tờ Nhân dân nhật báo viết đây chỉ là ý kiến riêng của tác giả, chứ không phải của bản báo, việc bài của Lý Hồng Mai được đăng trên Nhân dân nhật báo cho thấy "tầm quan trọng của quan điểm" mà gần đây nhiều nhà quan sát và học giả Trung Quốc cùng chia sẻ.
Nhân dân nhật báo là tờ báo chính thức của Trung Quốc.
Cứ cho bài viết trên Nhân dân nhật báo của bà Lý là thể hiện ý kiến riêng của bà ta, như lời thanh minh của bản báo, thì người ta vẫn hiểu rằng nếu "ý kiến riêng" đó không phù hợp với quan điểm của Nhân dân nhật báo thì có "các vàng", tờ báo này cũng không đăng.
Cá nhân tác giả Lý Hồng Mai có thể nhầm lẫn; một tờ báo chính thức của Trung Quốc lẽ nào lại như thế?
Thật tiếc!
Phản ứng về phát biểu của Đô đốc Willard ( BBC )
Đô đốc Robert Willard họp báo ở Manila
Tờ Nhân dân Nhật báo của Đảng Cộng sản Trung Quốc vừa có bình luận về phát biểu của Đô đốc Mỹ Robert Willard hôm 18/08 tạ̣i Philippines.
Trên trang 3 của số báo ra ngày 20/08, Nhân dân Nhật báo đăng bài của tác giả Su Hao với tựa đề 'Liệu có thể giữ an ninh tại Biển Đông bằng cách gây rắc rối hay không?'
Bài báo nói nhận định của ông Williard, chỉ huy Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương, rằng thái độ của Trung Quốc đang gây quan ngại cho các nước láng giềng, là "chuyện vớ vẩn".
"Cáo buộc của Robert Williard về Trung Quốc cũng như nhận định của ông ta về tình hình Biển Đông là không có cơ sở".
Tác giả Su Hao nói trong 10 năm qua lòng tin giữa các quốc gia trong khu vực đã được tăng cường và Chính phủ Trung Quốc luôn ủng hộ đối thoại và hợp tác an ninh với các nước xung quanh trên cơ sở hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau.
Nhân dân Nhật báo đưa ra nhiều dẫn chứng cho nhận định rằng sự hợp tác tại Biển Đông đang phát triển thuận lợi, tình hình tại đây hòa bình, ổn định và phát triển tốt.
"Trong bối cảnh như vậy, cái gọi là 'tình hình căng thẳng' ở Biển Đông rõ ràng là luận điệu xuyên tạc nhằm tạo điều kiện để đạt mục tiêu riêng."
Bài báo nói việc các nước lớn bên ngoài khu vực tham gia vào Biển Đông đã gây ra không khí căng thẳng mới.
"Biển Đông đang là biển của hòa bình và ổn định, biển của hơp tác và trao đổi, nhằm thúc đẩy phát triển chung."
Tác giả Su Hao kết luận rằng môi trường an ninh và ổn định tại khu vực Biển Đông sẽ không thay đổi chỉ vì mong muốn ác ý của một người nào đó.
Hai Xe Ôm.
Bắt đầu xuất hiện lấp ló trên mạng Hoàn Cầu, chỉ sau vài ngày, bài viết của Lý Hồng Mai, một biên tập viên kỳ cựu của Nhân dân nhật báo đã cho xuất hiện trên tờ báo này, cơ quan ngôn luận chính thống của Đảng Cộng sản Trung Quốc…
Lý Hồng Mai ( Li Hongmei )- Mama Lý Tổng quản...
Bà Lý Hồng Mai đã buông ra những lời lẽ xấc xược, sặc mùi vu vạ, hàng tôm hàng cá, cả vú lấp miệng em, một việc quen làm của kiểu du côn xóm chợ:”Quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đang gặp phải giai đoạn khó khăn, và bất kỳ một quyết định hời hợt nào của Việt Nam cũng chỉ làm tăng thêm sự căng thẳng đang âm ỉ. Việt Nam có thể đưa ra một giải thích tạm chấp nhận là họ có thể làm gì tùy ý miễn là nó nằm trong khuôn khổ của Luật lệ Quốc tế. Hoặc họ chỉ đưa ra những dự đoán đối với Trung Quốc, nhưng hành động của họ đang đi ngược lại chủ tâm của mình. Khi Trung Quốc phải tìm cách bảo vệ quyền lợi quốc gia cốt lõi của mình thì Việt Nam sẽ không thể nào tiếp tục giả câm giả điếc được…”
Không chỉ bằng lời lẽ xấc xược, kẻ cả, nước lớn mà Lý Hồng Mai còn lớn tiếng đe dọa, theo kiểu xin “ tí tiết “ của Việt Nam:”Có lẽ Việt Nam cần phải nhận thấy rằng họ đang chơi một trò chơi nguy hiểm khi đi giữa hai cường quốc, trong khi chính họ cũng đang trong tình trạng như một ổ trứng và tiềm năng nguy hiểm thì đang ngấp nghé chung quanh. Nếu họ tiếp tục kích động hai cường quốc để họ đánh nhau trong cự ly gần, sẽ không phải ai khác ngoài bản thân Việt Nam sẽ là kẻ than khóc trước tiên…”
Thưa mama “Lý Tổng quản”, suốt hơn 2000 năm khi đã có sử viết trong quan hệ hai nước Trung- Việt, đã nhiều phen người phương Bắc đã không từ một thủ đoạn tàn độc nào để làm cỏ nước nam nhưng đâu đã làm nổi; kẻ cuối cùng phải than khóc, phải ôm đầu máu nhục nhã quay về, thậm chí hàng vạn kẻ phần xác còn phải gửi lại trên đất Việt Nam, đồng hương của mama Tổng quản đấy, thưa mama ! Nếu mama Lý Tổng Quản không tin, hoặc ít học, ít đọc thì hãy chịu khó mà lần lại những sử sách do chính người Trung Quốc viết như Sử ký Tư Mã Thiên, như Hậu Hán thư, như Minh Sử, Thanh sử...Nếu không muốn đọc sách thị chịu khó sang Hà Nội đến thăm gò Đống Đa, mama sẽ thấy ngay mà !
Cách đây gần 1000 năm, khi Tống Thần Tông đã không nghe lời khuyên của chí sĩ Tô Đông Pha, nhà thơ này đã dâng thư khuyên Tống Thần Tông không nên xuất chinh đánh phương Nam; Theo Tô Đông Pha thì từ đời Tần, Hán, Đường… hùng mạnh như vậy mà đều đã thất bại khi đụng chạm đến đất phương nam. Kết quả vì không nghe lời khuyên can của Tô Đông Pha, quân đội của Tống Thần Tông đã bị Lý Thường Kiệt dìm chết hàng vạn lính trên sông Như Nguyệt, con sông Cầu ngày nay của Việt Nam. Không dừng lại đó, Lý Thường Kiệt cho quân xông sang tận Ung Châu đập nát cái ý đồ xâm lược, cái cuồng vọng xâm lăng của vua tôi nhà Tống.
Nếu muốn sử dụng lời khuyên “đừng có đùa với lửa”, thì mama hãy học Tô Đông Pha, tổ tiên của mama, giành lời khuyên cho nhà đương cục Bắc Kinh, những cái đầu nóng trong lực lượng quân phiệt Trung Quốc đang muốn phát động chiến tranh, muốn khởi động cái dự án đầu tư này để bòn rút, làm giàu trên mồ hôi, nước mắt và xương máu của người dân Trung Quốc lương thiện.
Hàng ngàn năm nay nhân dân Việt Nam vô cùng kính trọng và biết ơn nền văn hóa Trung Hoa, nền văn hóa đã khai mở văn minh không chỉ cho hơn 1 tỷ dân Trung Quốc mà cả khu vực Đông Bắc Á…Nền văn hóa đó được tích tụ xây cây lên bởi hàng ngàn thế hệ người dân Trung Hoa lương thiện, yêu lẽ phải và yêu hòa bình chứ không phải do bọn lái súng, lái gươm; những kẻ chuyên đi dựng chuyện, vu vạ, ngậm máu phun người, gắp lửa bỏ tay hàng xóm... như mama tổng quản đâu nhé…
Hết đe dọa dùng vũ lực, mama Lý Tổng quản lại ngọt nhạt, dũ dỗ theo kiểu lừa con nít:”Nếu hiện nay Việt Nam thực hiện chủ đích thật sự của mình và trông chờ Trung Quốc giải mã bài toán thì lại là một chuyện khác. Nhưng nếu Việt Nam còn biết nghĩ đến hệ quả của những gì họ đang làm và quan tâm đến sự bực dọc ngày càng tăng của Trung Quốc vì những hành động vừa qua của mình, thì họ nên tìm một con đường mới để giải hóa thái độ thù địch từ lâu đối với Trung Quốc, hoặc ít nhất là đừng nên đóng vai trò khiêu khích trong cuộc chạm trán Mỹ - Trung vì điều này chắc chắc sẽ dẫn đến một hệ quả nghiêm trọng trong chính sách tương lai của Trung Quốc đối với Việt Nam…”
Hê…hê…mama Lý Tổng quản muốn bì tui khôn hồn thì hãy sang đây quỳ lạy mama để mama giúp cho con đường mà làm ăn, để mồ yên mả đẹp chăng ? Hay theo ý mama chịu làm tôi tớ, chịu khó hàng ngày “ đưa người của trước, rước người cử sau “ trong cái “lầu xanh” của mama, nơi hàng ngàn năm nay luôn xảy ra cảnh nồi da xáo thịt, luôn thịnh soạn những bữa nhậu thịt người như văn hào Lỗ Tấn đã đúc kết để được yên thân chăng ?
Thưa mama, bọn em không có dại, bọn em đã nhờ bà chị giải mã bài toán này nhiêu phen rồi, kết cục cuối cùng thì nhà em đã bị mất cả chì lẫn chài, đã bị mất cả phần xác lẫn phần hồn. Bọn em đã có lần lâu nhất đến gần 1000 năm Bắc thuộc, bọn em đã thấm thía thế nào là việc bị làm kiếp tôi đòi cho tổng quản phương bắc…
Mama tổng quản nếu có lòng thì hãy quan tâm tới các chị em ở Tây Tạng, Tân Cương, đến dân tộc Mãn phương Bắc, dân tộc đẻ ra những Khang Hy, Càn Long, Từ Hy Thái hậu… thế mà giờ đây gần với tuyệt chủng, tuyệt giống, tuyệt cả văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết. Hiện nay theo thông tin chính thức do các cơ quan nghiên cứu Trung Quốc đưa ra thì: số người biết tiếng Mãn chỉ còn trên đầu ngón tay ?
Mama Lý Tổng Quản muốn người Việt Nam noi gương người Mãn châu, giao số phận cho tổng quản ư ? Người Mãn châu chừng mực có thù với người Hán vì đã hơn 200 trăm năm cưỡi lên đầu lên cổ người Hán, còn người Việt Nam bọn em chưa làm gì tổn thương đến một cái chân lông của người dân Trung Quốc, không ăn không nói có một bát cháo một bát cơm nào của người phương bắc. Người Việt Nam ngàn đời nay vẫn hòa hiếu, mở cửa giao thương với người phương bắc nếu họ không vài đây với ý đồ cướp đất…
Nghe mama Lý Tổng quản trần ai khiến cho những kẻ nhẹ dạ rất dễ mủi lòng, cảm thấy mama cũng đang rất chi là hoàn cảnh:”Thời Hồ Chí Minh còn sống, Trung Quốc và Việt Nam đã thiết lập một mối giao hảo huynh đệ. Cho dù việc quay lại thời gian ấm cúng ngày xưa là không thực tế, Việt Nam cũng tối thiểu là nên hồi đáp lại chính sách láng giềng tốt đầy kiên định của Trung Quốc đối với khu vực chung quanh. Thực sự là Trung Qốc đã tôn trọng Việt Nam trong vài năm qua và đã luôn quan tâm sâu sắc đến thái độ của người dân Việt Nam; Ngược lại, Việt Nam cũng nên tôn trọng Trung Quốc và người dân Trung Quốc. Việt Nam không được chơi trò chơi nguy hiểm giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ, điều này cũng giống như chơi với lửa…”
Hê…hê…huynh đệ gì mà mang súng, mang bom, mang tên lửa sang giã cho thằng em thừa sống thiếu chết; huynh đệ gì mà chiếm biết bao đất đai biên giới lãnh thổ, lãnh hải của thằng em; huynh đệ gì mà con em thằng em ra biến đánh cá kiếm cơm lai cho quân ra xé lưới, bắt người, đánh cho vỡ đấu sứt trán, đâm cho chìm tàu thuyến hoặc trấn lột bằng sạch…Huynh đệ gì mà tự vẽ ra đường lưỡi bò để nhận vơ cả Biển Đông là của Trung Quốc, bất chấp phải trái, bất chấp luật pháp quốc tế ?
Huynh tôn trọng đệ như vậy, đối xử với đệ tốt như vậy mà cớ sao đệ lại muốn ăn ở hai lòng…Tại sao không mặc cho huynh muốn cướp gì thì cướp, muốn bắt, hiếp lúc nào thì tùy ?
Nào hãy nghe mama Lý Tổng quản ngửa bài, nói trằng phớ ra:”Lời khuyên cho Việt Nam là nên từ bỏ ảo tưởng rằng mình có thể làm bất cứ điều gì mình muốn trong vùng Biển Nam Hải dưới sự bảo vệ của Hải quân Hoa Kỳ. Nếu Trung Quốc và Việt Nam thật sự xảy ra chạm trán quân sự, sẽ chẳng có tàu sân bay của bất kỳ quốc gia nào có thể bảo đảm được sự an toàn cho mình.
Trong khi đó, Trung Quốc không cần phản ứng thái quá và tham gia vào một cuộc chiến tranh khu vực với Washington vì một chuyện không đáng như thế. "Là rồng thì không phải gầm lên trước việc tầm phào", như một blogger Trung Quốc viết…”
Đến đây thì lại phì cười vì thấy mama tổng quản là đàn bà mà cũng sĩ ra phết, ra vẻ không thèm chấp, không thèm nhỏ nhặt, không thèm tiểu nhân, tiểu khí theo kiểu đàn bà…Thân là mama tổng quản mà lòng lại cứ nghỡ mình như là rồng là phượng, là uy danh trùm bá tánh thì mới kinh, mới tài?
Trông mama còn gầy lắm, sức vóc... của mama chưa đủ sức bịt miệng xóm giềng được đâu... Xin mama hãy chịu khó nhìn lại mình, xem lại những bài học xương máu mà cha ông của mama đã từng đổ xuống ở đất phương nam này…
Xin mama Lý Tổng quán nhớ cho: Trong đám quan chức Việt Nam sẽ có không ít kẻ ngu hèn, cam tâm làm tôi tớ, hoặc muốn tách ra ăn mảnh với các tay trùm anh, chị phương bắc; song cả dân tốc Việt Nam không bao giờ là một dân tộc ngu hèn, cam tâm lam nô lệ cho bất kỳ một thế lực ngoại bang nào. Nguyễn Trãi người đã cùng Lê Lợi đánh cho quân Minh đại bại đã từng đúc kết về sĩ khí phương nam: “Tuy mạnh yếu nhiều lúc khác nhau nhưng hào kiệt đời nào cũng có” …
Qua vụ Lý Hồng Mai cho thấy, trong chính sách đối ngoại, nhà đương cục Bắc Kinh bắt đầu giở miếng võ cùn ra với Việt Nam, tức sử dụng miếng võ " đàn bà tốc váy..." một thế võ mà cả Trung Quốc và Việt Nam đều quen dùng ? Đó là kiểu giống như 2 nhà hàng xóm tức nhau, không làm gì được nhau nên thỉnh thoảng lại cho vợ con ra làm một bài...
Mặc dù nhà đương cục Bắc kinh mới cho một mẹ đàn bà ra đòn thế mà nhà đương cục Hà Nội có vẻ đã " phát giun, phát dế lên ". Đáng lẽ ra phải cho một nữ ký giả cũng " tốc váy " lên trên báo Nhân Dân để đáp trả thì lại cho tờ bào này đi tuyên truyền cho cuộc thi tìm hiểu quan hệ hữu nghị Việt-Trung, một việc làm vừa vô duyên và trơ không chịu nổi. Thế mới đau !
Trong khi đó tờ An ninh thế giới một phụ trương của Báo Công an nhân dân lên tiếng ? Sao lại lên tiếng ở tờ báo này; Tôn chỉ mục đích của tờ báo này là vấn đề an ninh của thế giới; chả nhẽ quan hệ Việt-Trung hiện nay với những lời sỉ vả lăng loàn của Lý Hồng Mai là chuyện của an ninh thế giới sao ? Sao không lên tiếng ở tờ báo chính mà lại đầy ra tờ báo phụ? Hay bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia, an ninh quốc gia là nhiệm vụ tay trái của Báo Công an nhân dân ? Việc viết bài trên An ninh thế giới tuy sớm, đáng hoan nghênh nhưng lại sái về chính trị cũng như sách lược đối ngoại. Phải chăng do Ban biên tập thiếu nhạy bén về chính trị hay lo lo một điều gì đó ? Vía của mama Lý Tổng quản chẳng nhẽ nặng lắm ru ?!
H.X.Ô
MỜI THAM GIA BÌNH LUẬN BỨC ẢNH SAU ĐÂY:
Ông Hồ Đức Việt-Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng Ban tổ chức Trung ương ĐCSVN bắt tay ông Lý Nguyên Triều, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức ĐCSTQ tại Liên hoan thanh niên hai nước tổ chức ở Quảng Châu...
Lời bình của Chủ Blog:
* Ông Hồ Đức Việt cười gượng, mang tính xã giao, cười cho phải phép, nụ cười của ông Hồ Đức Việt cho thấy trong lòng ông thật sự không có một gram niềm vui nào trong cuộc hội kiến miễn cường này. Nụ cười cho thấy lộ ra điều trắc ẩn, lộ ra nụ cười gườm gườm...không khỏa lấp được cái gì đó canh cánh bên trong lòng của chủ nhân nụ cười; hình như chủ nhân của nụ cười đang bị một sự lo sợ hay lo ngại nào đó ám ảnh... Cái được trong thần thái của ông Hồ Đức Việt là dám nhìn thẳng vào mắt của đối tác bắt tay của mình là ông Lý Nguyên Triều, đúng phép ngoại giao và cũng cho thấy Hồ Đức Việt chưa tỏ ra khiếp nhược, thiếu tự tin khi phái đối mặt với đối thủ nước lớn...
** Ông Lý Nguyên Triều, cười thả phanh, dân vỉa hè gọi là cười toe toét, một nụ cười không có hồn cốt, không chứa đựng một gram tình cảm nào bên trong. Ra vẻ hồ hởi bắt tay đón tiếp ông Hồ Đức Việt nhưng quan sát thấy mắt ông này nhìn lạc qua hướng khác, không dám đấu mắt với ông Hồ Đức Việt...
Dự doán, ông này có nhiều âm mưu, uẩn khúc che dấu bên trong nên không dám đối mắt với đối thủ của mình vì sợ bị lộ dã tâm, bị đọc vị...
Qua nụ cười hoàn toàn lạc đề, lạc hướng với phản ứng của ánh mắt cho thấy : Trung Quốc mượn cuộc gặp gỡ, liên hoan này, hình thức là để tăng cường giao lưu hữu nghị hai nước nhưng dã tâm thì để nuôi cấy âm mưu hoàn toàn trái với băng cờ khẩu hiệu được kẻ vẽ giương to...Bức ảnh cho thấy quang cảnh cuộc liên hoan tại Quảng Châu giống như phiên chợ quê: treo đầu dê bán thịt chó vậy !
Ai có ý kiến bình luận khác về bức ảnh đề nghị cho biết cao kiến ?
Rừng hoang vu! Vùi lấp bao nhiêu uất căm hận thù Ngàn gió ru Muôn tiếng vang trong tối tăm mịt mù. Vạc kêu sương! Buồn nhắc đây bao lúc xưa quật cường. Đàn đóm vương Như bóng ai trong lúc đêm trường về. Rừng trầm cô tịch Đèo cao thác sâu Đồi hoang suối reo Hoang vắng cheo leo Ngàn muôn tiếng âm Tháng, năm buồn ngân... Âm thầm hòa bài hận vong quốc ca. Người xưa đâu? Mà tháp thiêng cao đứng như buồn rầu. Lầu các đâu? Nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu.
Đồ Bàn miền Trung đường về đây... Máu như loang thắm chưa phai dấu xương trắng sâu vùi khí hờn căm...khó tan. Kìa ngoài trùng dương đoàn thuyền ai nhấp nhô trên sóng xa xa tắp! Mơ bóng Chiêm thuyền Chế Bồng Nga... Vượt khơi
Về kinh đô Ngàn thớt voi uy hiếp quân giặc thù ... Triền sóng xô Muôn lớp quân Chiêm tiến như tràn bờ ... Tiệc liên hoan Nhạc tấu vang trên xứ thiêng Đồ Bàn Dạ yến ban Cung nữ dâng lên khúc ca Về Chàm. Một thời oanh liệt Người dân nước Chiêm Lừng ghi chiến công Vang khắp non sông. Mộng kia dẫu tan. Cuốn theo thời gian nhưng hồn ngàn đời còn theo nước non. Người xưa đâu? Mồ đắp cao hay đã sâu thành hào. Lầu các đâu? Nay thấy chăng rừng xanh xanh một màu
Đồ Bàn miền Trung đường về đây... Máu như loang thắm chưa phai dấu xương trắng sâu vùi khí hờn căm...khó tan. Kìa ngoài trùng dương đoàn thuyền ai nhấp nhô trên sóng xa xa tắp ! Mơ bóng Chiêm thuyền Chế Bồng Nga... Người xưa đâu?
Lichsuvn: Hận Đồ Bàn bài ca do tác giả Xuân Tiên sáng tác phảng phất âm hưởng bi tráng của đất Chiêm Thành xa xưa. Chiêm Thành thời xa xưa đã từng là một nước mạnh từng gây những trận chiến kinh hoàng cho Đại Việt nhưng cuối cùng đã bị Đại Việt xóa sổ. Kí ức của một quốc gia xa xưa liệu có bị xóa nhòa.
Vào năm 1962 ,nhạc sĩ Xuân Tiên đã đi qua vùng Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Vầu Bào Phan Rang, tận mắt chứng kiến những di tích Chàm đổ nát với thời gian nhưng vẫn còn Hùng tráng, ông chợt hiểu rằng Ngày xa xưa dân tộc Chàm cũng đã từng có một quá khứ Oanh liệt. Than ôi Ngày Oanh liệt đó chỉ còn là những Ngôi Tháp Chàm đổ nát phơi mình trong Nắng Mưa và thấp thaóng đàng sau những rừng lau Sậy um tùm với những cảm xúc đó ông đã viết lên Ca khúc "Hận Đồ Bàn .
Bài hát tái hiện lịch sử oai hùng với cảnh các thớt voi chiến, các chiến binh Chiêm Thành và hình ảnh Chế Bồng Nga cưỡi chiêm thuyền lẫm liệt cùng với cảnh dạ yến tiệc. Bài hát cũng là sự hoài niệm về kinh thành người xưa với những tháp thiêng đứng trầm tư cỏ lau mọc khắp lối.
Với một số người bài Hận Đồ Bàn phải do chính hậu duệ dân Chiêm của Chế Bồng Nga là ca sỹ Chế Linh hát mới hay, nhưng các ca sỹ khác hát cũng rất hay như Tuấn Vũ, Bảo Tuấn..
Xem thêm về: Nhạc sĩ Xuân Tiên
-----------------------------------------------
Thành Đồ Bàn còn gọi là thành cổ Chà Bàn hoặc thành Hoàng Đế thuộc địa phận xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn và cách thành phố Qui Nhơn (tỉnh Bình Định, Việt Nam) 27 km về hướng tây bắc... Năm 982 dưới triều đại vua Yangpuku Vijaya (âm Hán-Việt là Ngô Nhật Hoan ?) thành Đồ Bàn được xây dựng. Đây là kinh đô cuối cùng của vương quốc Chăm Pa và các vua Chăm đã đóng ở đây từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 15.
Lịch sử Chăm Pa, bao gồm các quốc gia Lâm Ấp, Hoàn Vương, Chiêm Thành (Campanagara) và Thuận Thành (Nagar Cam), độc lập được từ 192 và kết thúc vào 1832[1]. Trước thế kỷ thứ 2, vùng đất của vương quốc Chăm Pa cổ đã được nhắc đến với tên Hồ Tôn Tinh (trong truyền thuyết), rồi tên huyện Tượng Lâm (thuộc quận Nhật Nam thời nhà Hán) khi nằm dưới sự thống trị của Trung Quốc. Lãnh thổ này được ghi nhận là từ miền Trung trở vào miền NamViệt Nam, thay đổi tùy thời kỳ. Từ 1694 đến 1832, chúa Chăm Pa (Trấn vương Thuận Thành) nằm dưới sự đô hộ của các chúa Nguyễn, vua nhà Tây Sơn và vua nhà Nguyễn cho đến lúc bị sáp nhập hoàn toàn. Lịch sử vương quốc Chăm Pa được khôi phục dựa trên ba nguồn sử liệu chính[2]:
Các di tích còn lại bao gồm các công trình đền tháp xây bằng gạch còn nguyên vẹn cũng như đã bị phá hủy và cả các công trình chạm khắc đá;
Các văn bản còn lại bằng tiếng Chăm và tiếng Phạn trên các bia và bề mặt các công trình bằng đá;
Các sách sử của Việt Nam và Trung Quốc, các văn bản ngoại giao, và các văn bản khác liên quan còn lại.
Người dân Chăm Pa có nguồn gốc Malayo-Polynesian di cư đến đất liền Đông Nam Á từ Borneo vào thời đại văn hóa Sa Huỳnh ở thế kỷ thứ 1 và thứ 2 trước Công nguyên. Qua quan sát đồ đất nung, đồ thủ công và đồ tùy táng đã phát hiện thấy có một sự chuyển đổi liên tục từ những địa điểm khảo cổ như hang động Niah ở Sarawak, Đông Malaysia. Các địa điểm văn hóa Sa Huỳnh rất phong phú đồ sắt trong khi nền văn hóa Đông Sơn cùng thời kỳ ở miền Bắc Việt Nam và các nơi khác trong khu vực Đông Nam Á lại chủ yếu là đồ đồng. Ngôn ngữ Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo (Austronesian).
Văn hóa Sa Huỳnh là xã hội tiền sử thuộc thời đại kim khí tại khu vực ven biển miền Trung Việt Nam. Năm 1909, đã phát hiện khoảng 200 lọ được chôn ở Sa Huỳnh, một làng ven biển ở nam Quảng Ngãi. Từ đó đến nay đã phát hiện được rất nhiều hiện vật ở khoảng 50 địa điểm khảo cổ. Sa Huỳnh có đặc điểm văn hóa thời đại Đồng Thau rất đặc trưng với phong cách riêng thể hiện qua các hiện vật như rìu, dao và đồ trang sức. Việc định tuổi theo phương pháp phóng xạ carbon đã xếp văn hóa Sa Huỳnh đồng thời với văn hóa Đông Sơn, tức khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên. Người Chăm bắt đầu cư trú tại đồng bằng ven biển miền Trung Việt nam từ khoảng năm 200 sau công nguyên. Lúc này người Chăm đã tiếp thu các yếu tố của văn hóa tôn giáo và chính trị của Ấn Độ. Các nghiên cứu khảo cổ học của các tác giả Việt Nam đã cho thấy người Chăm chính là hậu duệ về mặt ngôn ngữ và văn hóa của người Sa Huỳnh cổ. Các hiện vật khảo cổ của người Sa Huỳnh đã cho thấy họ đã là những người thợ thủ công rất khéo tay và đã sản xuất ra nhiều đồ trang sức và vật dụng trang trí bằng đá và thủy tinh. Phong cách trang sức Sa Huỳnh còn phát hiện thấy ở Thái Lan, Đài Loan và Philippines cho thấy họ đã buôn bán với các nước láng giềng ở Đông Nam Á cả bằng đường biển và đường bộ. Các nhà khảo cổ cũng quan sát thấy các hiện vật bằng sắt đã được người Sa Huỳnh sử dụng trong khi người Đông Sơn láng giềng vẫn còn chủ yếu sử dụng đồ đồng.
Theo sử liệu Trung Quốc, vương quốc Chăm Pa đã được biết đến đầu tiên là vương quốc Lâm Ấp bắt đầu từ năm 192 ở khu vực Huế ngày nay, sau cuộc khởi nghĩa của người dân địa phương chống lại nhà Hán. Trong nhiều thế kỷ sau đó, quân đội Trung Quốc đã nhiều lần cố gắng chiếm lại khu vực này nhưng không thành công[3]. Từ nước láng giềng Phù Nam ở phía tây và nam, Lâm Ấp nhanh chóng hấp thu nền văn minh Ấn Độ[4]. Các học giả đã xác định thời điểm bắt đầu của Chăm Pa là thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, khi quá trình Ấn hóa đang diễn ra. Đây chính là giai đoạn mà người Chăm đã bắt đầu có các văn bản mô tả trên đá bằng chữ Phạn và bằng chữ Chăm, và họ đã có bộ chữ cái hoàn chỉnh để ghi lại tiếng nói của người Chăm[5]. Vị vua đầu tiên được mô tả trong văn bia là Bhadravarman, cai trị từ năm 349 đến 361. Ở thánh địa Mỹ Sơn, vua Bhadravarman đã xây dựng nên ngôi đền thờ thần có tên là Bhadresvara, cái tên là sự kết hợp giữa tên của nhà vua và tên của thần Shiva, vị thần của các thần trong Ấn Độ giáo[6]. Việc thờ vua như thờ thần, chẳng hạn như thờ với tên thần Bhadresvara hay các tên khác vẫn tiếp diễn trong các thế kỷ sau đó[7]. Vào thời Bhadravarman, kinh đô của Lâm Ấp là kinh thành Simhapura ("thành phố Sư tử"), nằm ở dọc hai con sông và bao quanh bởi tường thành có chu vi dài đến tám dặm. Theo ghi chép lại của một người Trung Quốc thì người Lâm Ấp vừa ưa thích ca nhạc nhưng cũng lại hiếu chiến, và có "mắt sâu, mũi thẳng và cao, và tóc đen và xoăn"[8]. Cũng theo tài liệu Trung Quốc, Sambhuvarman lên ngôi vua Lâm Ấp năm 529. Các tài liệu cũng mô tả vị vua này đã cho khôi phục lại ngôi đền thờ Bhadresvara sau một vụ cháy. Sambhuvarman cũng đã cử sứ thần sang cống tuế Trung Quốc, và đã xâm lược không thành phần đất mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam[9]. Năm 605, tướng Lưu Phương nhà Tùy xâm lược Lâm Ấp, và đã chiến thắng sau khi dụ tượng binh của Lâm Ấp đến và tiêu diệt tại trận địa mà trước đó ông đã cho đào nhiều hố nhỏ và phủ cỏ lên[10]. Vào khoảng những năm 620, các vua Lâm Ấp đã cử nhiều sứ thần sang nhà Đường[11]. và xin được làm nước phiên thuộc của Trung Quốc Các tài liệu Trung Quốc ghi nhận cái chết của vị vua cuối cùng của Lâm Ấp là vào khoảng năm 756 sau Công nguyên. Sau đó trong một thời gian dài, các sách sử Trung quốc gọi Chăm Pa là "Hoàn Vương"[12]. Tài liệu Trung Quốc sớm nhất sử dụng tên có dạng "Chăm Pa" là vào năm 877, tuy nhiên, những cái tên như vậy đã được người Chăm sử dụng muộn nhất là từ năm 629, và người Khmer đã dùng muộn nhất là từ năm 657[13].
Từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 10, người Chăm kiểm soát việc buôn bán hồ tiêu và tơ lụa giữa Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, và đế quốc Abbassid ở Baghdad. Người Chăm còn bổ sung thêm cho nguồn thu nhập của mình từ thương mại, không chỉ bằng việc xuất khẩu ngà voi và trầm hương mà còn bằng cả các hoạt động cướp phá trên biển và các nước láng giềng ven biển[14].
Vào nửa cuối thế kỷ thứ 7, các ngôi đền của hoàng gia bắt đầu được xây dựng tại Mỹ Sơn. Tôn giáo chính lúc này là thờ thần Shiva nhưng các ngôi đền cũng thờ cả thần Vishnu. Các học giả gọi phong cách kiến trúc thời kỳ này là phong cách Mỹ Sơn E1, để chỉ các di tích ở Mỹ Sơn điển hình theo phong cách này. Các công trình còn đến nay của phong cách này bao gồm bệ đá hình linga được biết với tên gọi là bệ đá Mỹ Sơn E1 và phần trán tường có hình Brahma được sinh ra từ hoa sen nở từ rốn của thần Vishnu đang ngủ[15]. Trong một văn bia khắc năm 657 tìm thấy ở Mỹ Sơn, vua Prakasadharma, người lấy hiệu là Vikrantavarman I, đã tự xưng có bên ngoại là hậu duệ của Brahman Kaundinya và công chúa rắn Soma, người theo truyền thuyết cũng là thủy tổ của người Khmer. Chính văn bia này đã cho thấy mối quan hệ về văn hóa và chủng tộc giữa vương quốc Chăm Pa và đế quốc Khmer. Bia được khắc nhân dịp vua cho dựng tượng đài, có lẽ là linga, cho thần Shiva[16]. Một văn bia khác mô tả lời cầu nguyện chân thành của vua khi hiến tế cho Shiva: người là nguồn khởi thủy của sự kết thúc vĩnh viễn sự sống, điều rất khó đạt được; mà bản chất thực sự nằm ngoài suy nghĩ và lời nói của con người, tuy nhiên những ai mà ý niệm tương đồng với vũ trụ thì hình thái của người sẽ hiện ra[17].
Vào thế kỷ thứ 8, trung tâm chính trị của Chăm Pa đã tạm thời chuyển từ Mỹ Sơn xuống khu vực Panduranga và Kauthara, với trung tâm ở quanh quần thể đền tháp là Tháp Bà - Po Nagar ở gần Nha Trang ngày nay nơi để thờ nữ thần đất Yan Po Nagar. Năm 774, người Java đã phá hủy Kauthara, đốt đền thờ Po Nagar, và mang đi tượng Shiva. Vua Chăm là Satyavarman đã đuổi theo quân giặc và đánh bại chúng trong một trận thủy chiến. Năm 781, Satyavarman đã dựng bia tại Po Nagar, tuyên bố đã chiến thắng và kiểm soát toàn bộ khu vực và đã dựng lại đền. Năm 787, người Java lại đốt phá đền thờ Shiva ở gần Panduranga[18].
Năm 875, vua Indravarman II đã xây dựng nên triều đại mới ở Indrapura (thành Đồng Dương, ở huyện Thăng Bình, Việt Nam ngày nay). Vua Indravarman tự xưng là hậu duệ của Bhrigu trong sử thi Mahabharata, và quyết đoán rằng chính kinh thành Indrapura đã từng được chính Bhrigu ở thời cổ đại xây dựng nên[19]. Indravarman là vị vua Chăm đầu tiên theo Phật giáo Đại thừa và xem đây là tôn giáo chính thức. Ở trung tâm của Indrapura, ông đã xây dựng một tu viện Phật giáo (vihara) để thờ bồ tátLokesvarachiến tranh Việt Nam, chỉ còn lại một số hình ảnh và bản vẽ từ trước chiến tranh. Một số tượng đá từ tu viện cũng được gìn giữ tại các viện bảo tàng ở Việt Nam. Các học giả đã gọi phong cách nghệ thuật điển hình tại Indrapura là phong cách Đồng Dương. Phong cách đặc trưng bởi tính năng động và tính hiện thực về mặt dân tộc học khi mô tả người Chăm. Các tác phẩm còn lại của phong cách này có một số bức tượng dvarapala hay hộ pháp rất dữ tợn trước đây được đặt ở quanh tu viện. Thời kỳ Phật giáo thống trị, Chăm Pa kết thúc năm 925, lúc phong cách Đồng Dương đã bắt đầu nhường bước cho các phong cách tiếp theo có mối liên hệ với sự phục hồi của đạo thờ thần Si-va[20]. (Quán Thế Âm). Di tích này đã bị hủy hoại trong Các vua của triều đại Indrapura đã xây dựng ở Mỹ Sơn một số đền tháp vào thế kỷ thứ 9 và thứ 10. Các đền tháp này ở Mỹ Sơn đã xác định một phong cách kiến trúc và nghệ thuật khác mà các học giả gọi là phong cách Mỹ Sơn A1, dùng để chỉ tất cả các di tích ở Mỹ Sơn điển hình cho phong cách này. Với sự chuyển đổi tôn giáo từ Phật giáo trở về Si-va giáo vào khoảng thế kỷ thứ 10, trung tâm tôn giáo của người Chăm cũng chuyển từ Đồng Dương trở về Mỹ Sơn[21].
Chăm Pa đạt đến đỉnh cao của văn minh Chăm ở Indrapura nằm tại khu vực Đồng Dương và Mỹ Sơn ngày nay. Các yếu tố dẫn đến sự suy yếu của Chăm Pa ở các thế kỷ sau chính là ở vị trí lý tưởng nằm trên các tuyến thương mại, dân số ít và thường xuyên có chiến tranh với các nước láng giếng là Đại Việt ở phía Bắc và Khmer ở phía Tây và Nam. Lịch sử Bắc Chăm Pa (Indrapura và Vijaya) phát triển đồng thời với vương quốc láng giềng là nền văn minh Angkor của người Khmer nằm ở phía bắc hồ lớn Tonle Sap trên phần đất mà ngày nay là Campuchia. Sau khi vương triều Chăm ở Indrapura được thiết lập năm 875 thì chỉ hai năm sau tức năm 877 tại Roluos, vua Indravarman I đã thiết lập đế quốc Khmer. Lịch sử của Chăm Pa và đế quốc Khmer cũng đều phát triển rực rỡ trong thế kỷ 10 đến thế kỷ 12, rồi đều dần suy yếu và tan rã vào thế kỷ thứ 15. Năm 1238, đế quốc Khmer mất miền đất phía tây xung quanh Sukhothai sau một cuộc nổi dậy của người Xiêm. Thành công của cuộc nổi dậy không chỉ mở ra kỷ nguyên độc lập của người Xiêm mà còn báo trước sự tan rã của Angkor năm 1431 sau khi bị người Xiêm từ vương quốc Ayutthaya phá hủy và rồi bị sát nhập vào Sukhothai năm 1376. Sự suy yếu của Chăm Pa cũng diễn ra đồng thời với Angkor, dưới sức ép từ Đại Việt, quốc gia nằm ở miền Bắc Việt Nam ngày nay, và chấm hết khi kinh thành Vijaya (tức Chà Bàn) bị người Việt chinh phục và phá hủy vào năm 1471.
Năm 944 và 945, quân đội Khmer từ Angkor đã xâm chiếm khu vực Kauthara[22]. Khoảng năm 950, người Khmer đã phá hủy đền Po Nagar và lấy đi tượng nữ thần. Năm 960, vua Chăm là Jaya Indravaman I đã cử sứ thần sang nhà Tống (lúc này đóng đô ở Khai Phong). Năm 965, nhà vua đã cho xây dựng lại đền thờ Po Nagar và tượng nữ thần để thay thế cho bức tượng đã bị lấy đi[23].
Vào nửa cuối thế kỷ thứ 10, các vua của triều đại Indrapura đã tiến hành chiến tranh với Đại Cồ Việt. Trước đó, ở nửa đầu thế kỷ này, người Việt đã giành được độc lập từ tay người Trung quốc. Sau khi Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, đất nước lại trải qua thời kỳ loạn các sứ quân và được Đinh Bộ Lĩnh thống nhất năm 968 với quốc hiệu Đại Cồ Việt và kinh đô ở Hoa Lư thuộc địa phận Trường Yên tỉnh Ninh Bình ngày nay[24]. Năm 979, vua Chăm là Parameshvaravarman I (sách Đại Việt Sử kí Toàn thư gọi là Bê Mi Thuế) đã cử hạm đội sang tấn công Hoa Lư. Tuy nhiên, toàn bộ quân viễn chinh đã bị tan rã sau một cơn bão. Năm 982, vua Lê Hoàn của Đại Cồ Việt đã cử ba sứ thần sang Indrapura. Sau khi các sứ thần bị giam giữ, vua Lê Hoàn đã quyết định đánh Chăm Pa. Quân Đại Việt đã chiếm Indrapura và giết vua Parameshvaravarman. Họ mang về nước rất nhiều nhạc công và vũ công Chăm, chính những người này về sau đã ảnh hưởng đến sự phát triển nghệ thuật của Đại Việt[25]. Do hậu quả để lại của việc tàn phá, người Chăm đã rời bỏ Indrapura vào khoảng năm 1000. Trung tâm của Chăm Pa được chuyển xuống Vijaya ở phía nam nằm trên đất tỉnh Bình Định ngày nay mà người Việt thời Lý gọi là Phật Thệ[26].
Mâu thuẫn giữa Chăm Pa và Đại Việt đã không chấm dứt với việc người Chăm từ bỏ kinh đô Indrapura. Chăm Pa đã chịu các đợt tấn công của Đại Việt năm 1021 và 1026. Năm 1044, một trận đại chiến diễn ra giữa Đại Việt và Chăm đã dẫn đến cái chết của vua Jaya Simhavarman II (sách sử Việt gọi là Sạ Đẩu) và việc vua Lý Thái Tông của Đại Việt trực tiếp chỉ huy cuộc triệt hạ kinh đô Vijaya[27]. Quân Việt mang về nước voi, nhạc công và cả hoàng hậu Mỵ Ê, người đã nhảy xuống sông tự tử trên đường về Thăng Long[28]. Từ đó, Chăm Pa bắt đầu nộp cống cho các vua Đại Việt, và vào năm 1065 đã cống nạp một con tê giác trắng. Năm 1068, vua Vijaya là Rudravarman IV (tức Chế Củ) lại tấn công Đại Việt để trả thù trận thua năm 1044. Một lần nữa người Chăm bị thất bại và Đại Việt lại chiếm và đốt phá kinh đô Vijaya. Kinh đô Vijaya bị đốt phá một lần nữa vào năm 1069, khi tướng Lý Thường Kiệt chỉ huy hải quân tấn công Chăm Pa và chiếm Vijaya[29]. Vua Rudravarman bị bắt làm tù binh và sau đó đã đổi ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính lấy tự do[30][31]. Lợi dụng tình hình chiến sự, các thủ lĩnh người Chăm ở phía Nam đã dựng lên một vương quốc độc lập. Đến năm 1084, các vua Bắc Chăm Pa mới có thể tái thống nhất đất nước[32]. Trong năm 1075, quân Đại Việt do Lý Thường Kiệt chỉ huy lại tấn công Chăm Pa nhưng không thắng được và phải rút quân về. Tuy không thắng nhưng Lý Thường Kiệt đã cho vẽ họa đồ ba châu mới lấy được và đổi châu Địa Lý làm châu Lâm Bình, châu Ma Linh làm châu Minh Linh và đồng thời chiêu mộ dân chúng đến đấy ở[33].
Năm 1074, vua Harivarman IV lên ngôi đã cho phục dựng lại các đền tháp ở Mỹ Sơn và mở ra một thời kỳ thịnh vượng ngắn ngủi. Harivarman thiết lập quan hệ hòa bình với Đại Việt nhưng lại mở ra cuộc chiến với người Khmer của đế chế Angkor. Năm 1080, quân đội Khmer đã tấn công Vijaya và các trung tâm khác ở miền Bắc Chăm Pa. Các đền tháp và tu viện đã bị phá hủy; các di sản văn hóa đã bị lấy đi. Sau những thất bại này, quân Chăm dưới sự chỉ huy của vua Harivarman đã đẩy lùi quân địch, khôi phục lại kinh đô và các đền tháp[34]. Khoảng năm 1080, một triều đại mới đã ra đời ở cao nguyên Korat trên đất Thái Lan ngày nay đã chiếm ngai vàng Angkor của đế quốc Khmer. Ngay sau đó, các vua của triều đại mới đã tiến hành mở rộng đế quốc. Sau thất bại của các cuộc tấn công Đại Việt năm 1132 và 1137[35], các vua Angkor đã quay sang Chăm Pa. Năm 1145, quân đội Khmer dưới sự chỉ huy của vua Suryavarman II, người đã xây dựng Angkor Wat, đã chiếm Vijaya và phá hủy các đền tháp ở Mỹ Sơn. Vua Khmer sau đó đã tấn công và chiếm toàn bộ miền Bắc Chăm Pa. Tuy nhiên, năm 1149, vua Jaya Harivarman, lãnh đạo của tiểu quốc Panduranga ở phía Nam, đã đánh bại quân xâm lược và lên ngôi vua của các vua tại Vijaya. Ông đã dành thời gian trị vị còn lại để đàn áp các cuộc nổi loạn tại Amaravati và Panduranga[36].
Phù điêu cuối thế kỷ 12 ở đền Bayon (Angkor) mô tả các thủy binh Chăm Pa đang tấn công quân Khmer.
Năm 1167, Jaya Indravarman IV (sử Việt gọi ông là Chế Chí) lên ngôi vua Chăm Pa. Tài liệu văn bia mô tả ông dũng cảm, sử dụng thành thạo mọi loại vũ khí, và thông hiểu triết học, thuộc hết các lý lẽ Dharmasutra (một kinh Ấn Độ giáo) và các học thuyết Phật giáo Đại thừa[37]. Sau khi thiết lập hòa bình với Đại Việt năm 1170, vua Jaya Indravarman đã đánh sang Khmer. Năm 1177, một lần nữa quân đội của nhà vua đã bất ngờ tấn công thủ đô Khmer là Yasodharapura từ các thuyền chiến đi ngược sông Mekong đến hồ lớn Tonle Sap ở Khmer. Quân Chăm đã chiếm thủ đô Khmer, giết vua Khmer, và mang về nhiều chiến lợi phẩm[38].
Người Khmer nhanh chóng ủng hộ nhà vua mới Jayavarman VII người đã đẩy lùi quân Chăm ra khỏi vương quốc Khmer vào năm 1181. Khi Jaya Indravarman IV một lần nữa tấn công Khmer năm 1190, Jayavarman VII đã giao cho một hoàng tử người Chăm là Vidyanandana làm tổng chỉ huy quân Khmer. Vidyanandana đã đánh bại quân xâm lược Chăm và thậm chí tiến lên chiếm Vijaya và bắt sống vua Jaya Indravarman về Angkor. Sau khi chinh phục Vijaya, vua Khmer chọn người em rể là Hoàng tử In làm vua bù nhìn ở Chăm Pa. Nội chiến nổ ra tại Chăm Pa giữa các phe phái và cuối cùng Hoàng tử In chiến thắng nhưng lại tuyên bố Chăm Pa độc lập khỏi vương quốc Khmer[39]. Quân Khmer đã cố gắng chiếm lại Chăm Pa nhưng không thành trong suốt những năm 1190. Năm 1203, cuối cùng thì tướng của vua Jayavarman VII[40]. Sau đó, Vijaya đi vào giai đoạn suy thoái kéo dài hơn hai thế kỷ. Thời kỳ này đi đến kết thúc bởi Đại Việt và chỉ có một gián đoạn ngắn ngủi trong những cố gắng quân sự của vua Che Bonguar. cũng chiếm lại được Vijaya và biến Chăm Pa trở lại thành một tỉnh của Angkor. Chăm Pa hoàn toàn mất độc lập cho đến năm 1220
Năm 1270, Kublai Khan dựng nên nhà Nguyên ở Bắc Kinh và dần dần chiếm hết miền Nam Trung Quốc do nhà Nam Tống cai trị. Năm 1280, Kublai Khan quay sang thôn tính Chăm Pa và Đại Việt. Năm 1283, quân Nguyên dưới sự chỉ huy của tướng Sogetu đánh Chăm Pa và chiếm kinh thành Vijaya. Việc xâm lược Chăm Pa không có kết quả lâu dài. Thay vì tấn công trực diện, vua Chăm đã cho rút quân lên Tây Nguyên và tiến hành chiến tranh du kích. Hai năm sau, quân Nguyên phải rút lui và Sogetu bị giết trên đất Đại Việt trong một trận chiến khác trên đường rút quân về[41].
Năm 1307, vua Chăm là Jaya Simhavarman III (sử Việt gọi là Chế Mân), đã dựng đền thờ Po Klaung Garai ở Panduranga (Phan Rang), và nhượng hai châu Ô, Lý ở phía bắc cho Đại Việt làm của hồi môn để cưới công chúa Huyền Trânnhà Trần. Không lâu sau hôn lễ, nhà vua băng hà, Đại Việt cử người cướp công chúa trở về để tránh bị hỏa táng theo tục lệ của người Chăm[42]. Tuy nhiên phần đất hồi môn của Chế Mân đã không trở về với Chăm Pa. Để giành lại miền đất này, và nhân cơ hội Đại Việt suy yếu trong thế kỷ thứ 14, quân Chăm bắt đầu thường xuyên xâm nhập biên giới vào sâu trong đất Đại Việt ở phía Bắc[43].
Vị vua hùng mạnh cuối cùng của vương quốc Chăm Pa là Chế Bồng Nga. Không có văn bia Chăm Pa nào đề cập đến ông và Biên Niên Sử cũng không ghi chép về ông. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1491), ông cai trị từ năm 1360 đến năm 1390. Ông tấn công vào Đại Việt nhiều lần. Quân đội Chăm Pa đã đánh phá Thăng Long vào các năm 1372 và 1378[44]. Trong lần tấn công cuối cùng của Quân đội Chăm Pa vào lãnh thổ nhà Trần là vào năm 1389. Tuy lúc đầu bị quân đội nhà Trần do Hồ Quý Ly chỉ huy chặn lại[45], nhưng sau đó do dùng mưu dụ quân đội nhà Trần truy kích mà Quân đội Chăm Pa tiến lên thắng lớn. Nhờ có mưu kế của tướng Nguyễn Đa Phương nên quân đội nhà Trần mới có thể rút lui bảo toàn lực lượng[46]. Quân đội Chăm Pa dưới sự chỉ huy của Chế Bồng Nga và La Khải theo hai đường thủy bộ tiến đến tận Hải Triều (khúc sông Luộc chảy qua huyện Phù Tiên, Hải Hưng và huyện Hưng Hà, Thái Bình ngày nay)[46]. Tại đây, sau trận thủy chiến với Trần Khát Chân, Chế Bồng Nga đã chết tại trận, La Khải bèn nhân cơ hội rút quân về nước tự lập làm vua. Đó là năm 1390[47]. Đây là lần tấn công cuối cùng của quân đội Chiêm Thành vào Đại Việt nhưng cũng đã đủ để đặt dấu chấm hết cho nhà Trần.
Năm 1391, Hồ Quý Ly đem đại quân tới tận biên giới Việt - Chăm và cử Hoàng Phụng Thế đem quân tấn công Chăm Pa nhưng quân Chăm Pa đặt mai phục thắng lớn khiến toàn quân Việt tan vỡ chỉ có Phụng Thế thoát được về. Ngay trong năm đó Quý Ly cũng rút quân về[48]. Đến năm 1402, Hồ Hán Thương lại đem quân đi đánh Chăm Pa. Tiền quân Việt do viên tướng người Chăm là Chế Đa Biệt (tên Việt là Đinh Đại Trung)[49] giao tranh quyết liệt với quân Chăm do Chế Tra Nan chỉ huy khiến hai bên đều tổn thất, cả hai viên tướng đều bị chết nhưng cũng làm cho vua Chăm là Jaya Indravarman VII (sách sử Việt gọi là Ba Đích Lại) (là con của La Ngai)[50] phải nhường đất Chiêm Động (Hồ Quý Ly chia làm hai châu Thăng và Hoa, nay là đất các huyện Thăng Bình, Tam Kỳ, Quế Sơn, Duy Xuyên tỉnh Quảng Nam)[51] và cả đất Cổ Lũy (Hồ Quý Ly chia làm hai châu Tư và Nghĩa nay là các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ tỉnh Quảng Ngãi)[51] cho nhà Hồ. Năm 1403, Hồ Hán Thương lại giao Nguyên Khôi thống lĩnh quân thủy bộ tiến đánh Chăm Pa nhưng vì lương thực tiếp tế không đủ lại có hải quân Minh giúp quân Chăm nên phải rút quân về[52]. Năm 1407, nhân khi quân Minh sang xâm lược Đại Việt, quân Chăm Pa cũng tấn công Đại Việt và lấy lại được đất cũ (Chiêm Động và Cỗ Lũy)[53]. Tướng Minh là Trương Phụ tiêu diệt các lực lượng chống đối của tàn dư nhà Hồ, giết tướng Hoàng Hối Khanh và thu hàng tướng Đặng Tất; đất đai Trương Phụ thu về nhà Minh chỉ đến Hoá châu, không tiến xuống vùng đất Chăm Pa vừa lấy lại.
Năm 1446, quân Đại Việt dưới sự chỉ huy của Trịnh Khả, Lê Thụ và Lê Khắc Phục đã tấn công Chăm Pa. Cuộc tấn công kết thúc thắng lợi và thành Vijaya mà người Việt thời Lê gọi là thành Chà Bàn (hay Đồ Bàn) rơi vào tay quân Việt. Quân Việt cũng bắt sống vua Chăm là Bí Cai (Bichai) và mang về Thăng Long cùng với nhiều phi tần[54]. Tuy nhiên năm sau quân Việt đã bị đẩy lùi[55]. Năm 1470, quân Đại Việt do vua Lê Thánh Tông trực tiếp chỉ huy lại tấn công Chăm Pa. Quân Đại Việt lúc này đã rất mạnh và có tổ chức tốt. Ngược lại quân Chăm rất yếu và thiếu tính tổ chức[55]. Thủy quân Đại Việt do các tướng Đinh Liệt và Lê Niệm chỉ huy tấn công trước. Lê Thánh Tông dẫn đại quân theo sau[56]. Tháng 2 năm đó, vua Chăm là Trà Toàn cử em đem tượng binh và bộ binh đến sát trung quân của vua Lê Thánh Tông[57]. Các tướng Lê Hy Cát, Hoàng Nhân Thiêm, Lê Thế và Trịnh Văn Sái đem thủy quân chắn giữ cửa biển Sa Kỳ (nay là huyện Bình Sơn tỉnh Quảng Ngãi) chặn lối rút của quân Chăm[57]. Vua Lê Thánh Tông dẫn thủy quân tiến đánh quân Chăm[57] ở cửa Áp (tức cửa Tân Áp, sau là cửa Đại Áp ở huyện Tam Kỳ tỉnh Quảng Nam)[57] và cửa Tọa (tức cửa Cựu Tọa sau là cửa Tiểu Áp cách cửa Đại Áp hơn 7 dặm[58]). Đồng thời bộ binh Đại Việt do Nguyễn Đức Trung ngầm đi đường núi tấn công quân Chăm khiến quân Chăm phải rút về thành Vijaya[57]. Quân Việt nhanh chóng tiến lên đánh bại quân Chăm và bao vây thành Vijaya[59] Thành Vijaya thất thủ vào ngày 2 tháng 3 năm 1471 sau bốn ngày giao tranh[55]. Vua Chăm là Trà Toàn bị bắt sống và chết trên đường chở về Thăng Long[60]. Ít nhất hơn 60.000 người Chăm bị giết và 30.000 bị bắt làm nô tỳ cho quân Đại Việt. Kinh thành Vijaya bị phá hủy hoàn toàn[55]. Sau chiến thắng vua Lê Thánh Tông đã sát nhập các địa khu Amaravati và Vijaya[55] và lập nên thừa tuyên Quảng Nam và duy trì vệ quân Thăng Hoa ở đây [61]. Tướng Chăm là Bô Trì Trì (tên Chăm: ?) chiếm vùng đất Panduranga (sách sử Việt gọi là Phan Lung) xưng làm vua của người Chăm xin nộp cống xưng thần và vua Lê Thánh Tông phong Bô Trì Trì làm vương đất Chăm (sách Toàn thư gọi là Chiêm Thành tức là vùng đất Phan Rang, Thuận Hải ngày nay)[62]. Vua Lê Thánh Tông cũng phong vương cho tiểu vương xứ Kauthara (sách Toàn thư gọi là Hoa Anh tức là vùng đất tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay)[63]Nam Bàn (sau này là hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá mà ngày nay là đất các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và Đăk Lăk tức miền đất Tây Nguyên)[64]. Chính thất bại này đã dẫn đến việc người Chăm lần đầu tiên di cư với số lượng lớn sang Campuchia và Malacca[65]. và nước
Phần đất còn lại của vương quốc Chăm Pa lịch sử mà sách sử người Việt gọi là Chiêm Thành chỉ từ Phú Yên ngày nay trở về Nam (Kauthara và Panduranga) và từ năm 1653 Chăm Pa chỉ còn nửa đất phía nam của địa khu Panduranga (tức Phan Rang, Phan Rí và Phan Thiết ngày nay). Tuy nhiên, dưới sự bảo hộ của Đại Việt, vương quốc này vẫn giữ được độc lập dưới sự cai trị của các chúa Chăm. Năm 1594 chúa Chăm là Po At đã gửi lực lượng sang giúp Sultan xứ Johor để tấn công quân Bồ Đào Nha ở Malacca[66]. Năm 1611, chúa Nguyễn Hoàng đã cử một viên tướng người Chăm mà sử Việt gọi là Văn Phong đánh chiếm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hoa để lập ra phủ Phú Yên, sau đổi thành dinh Trấn Biên[67]. Trong các năm 1627 đến 1651 là giai đoạn chúa Chăm là Po Rome xưng vương và lấy con gái của chúa Nguyễn Phúc Nguyên là Ngọc Hoa (có sách gọi là Ngọc Khoa). Đây cũng là giai đoạn mà quan hệ Việt – Chăm diễn ra tốt đẹp[67]. Năm 1653, chúa Chiêm là Bà Bật (còn gọi là Bà Tấm, Bà Thâm, Bà Thấm hay Bà Tranh; tên Chiêm:?) xâm lấn Phú Yên. Chúa Nguyễn Phúc Tần cử cai cơ Hùng Lộc và tham mưu Minh Vũ đem quân vượt qua dãy núi Thạch Bi chiếm đất Chăm đến sát bờ trái sông Phan Rang ngày nay lập ra hai phủ là Thái Khang (nay là Ninh Hòa) và Diên Ninh (nay là Diên Khánh). Đây cũng là thời điểm Chăm Pa nộp cống xưng thần với các chúa Nguyễn[67]. Theo Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (1834), năm 1692, Chúa Chăm tên Bà Tranh đã tấn công vào phủ Diên Ninh và dinh Bình Khang tức vùng Diên Khánh ngày nay. Cuộc tấn công này đã thất bại và quân Chăm bị tướng Nguyễn Hữu Cảnh đánh bại vào năm 1693. Chúa Nguyễn đổi tên Chiêm Thành Quốc thành Thuận Thành Trấn, sau đó đổi Thuận Thành Trấn thành Bình Thuận Phủ. Theo Đại Nam Thực Lục Tiền Biên (1834) và Hoa Di Biến Thái (Ka-i-hen-tai, sử liệu Nhật Bản cuối thế kỷ thứ 17-đầu thế kỷ thứ 18), sau khi Chúa Bà Tranh chết tại Huế, em trai của Bà Tranh là Kế Bà Tử đã nổi dậy. Quy tộc Chăm tên Ốc Nha Đạt và người Mãn Thanh tên A Ban chỉ huy quân Chăm. Lúc đó Nguyễn Hữu Cảnh đang đi Tây Chính, và quân Nguyễn ở lại đã bị quân Chăm tiêu diệt hoàn toàn. Khi Nguyễn Hữu Cảnh trở lại, Kế Bà Tử đã ký hòa ước với chúa Nguyễn Phúc Chu. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã đồng ý khôi phục vương quốc Chăm Pa với hình thức là một khu tự trị với tên là Thuận Thành Trấn, và chúa Chăm được gọi là Trấn Vương, là thần hạ của chúa Nguyễn. Theo bộ văn bản hoàng gia Chăm (bản chữ Hán), mối quan hệ phiên thuộc giữa vùng đất cai quản bởi các chúa Chăm và chính quyền trung ương của chúa Nguyễn diễn ra tốt đẹp.
Năm 1697, chúa Nguyễn Phúc Chu cho lập phủ Bình Thuận (từ Phan Rang trở về tây) chia làm hai huyện An Phước và Hòa Đa[68]. Cũng từ đây vùng đất Chăm còn lại (Phan Rang trở về đông) đã trở thành phiên thuộc của chúa Nguyễn và mối quan hệ giữa chúa Nguyễn và chúa Chăm là mối quan hệ giữa chính quyền trung ương và địa phương[68]. Đến năm 1712, chúa Nguyễn Phúc Chu đã ban hành một bản hiệp ước mới gọi là Ngũ điều Nghị định, trong đó khẳng định quyền xét xử của các chúa Chăm đối với các thần dân người Chăm và cũng quy định nghĩa vụ của các chúa Chăm đối với các chúa Nguyễn. Để giải quyết xung đột giữa người Chăm và người Việt, bản hiệp ước quy định các xung đột này sẽ do chúa Chăm tức Trấn Vương cùng với quan Cai bạ và quan Ký lục (cả hai là người Việt) phán quyết[69]. Chế độ tự trị này được duy trì cho đến tận năm 1832 qua các đời chúa Nguyễn, thời Tây Sơn và thời kỳ đầu triều đại nhà Nguyễn. Tuy nhiên, các đời chúa Chăm sau Po Saktiray Da Patih không còn duy trì được mối quan hệ trực tiếp với các chúa Nguyễn và mọi công việc của Thuận Thành Trấn được tiến hành thông qua phủ Bình Thuận[68] cho đến tận cuộc nội chiến giữa Nguyễn Ánh và Tây Sơn. Năm 1793, phiên vương Thuận Thành là Tá (gọi theo Tiền Biên; tên Chăm: Po Tithun da parang) theo phe Tây Sơn bị Nguyễn Ánh đánh bại. Nguyễn Ánh cho tướng người Chăm của phe mình là Thôn Bá Hú (tức Nguyễn Văn Hào, gọi theo Tiền Biên, tên Chăm: Po Lathun da paguh) làm Chánh trấn Thuận Thành và trong năm 1794 đặt chế độ chánh trấn và phó trấn và bỏ chế độ phiên vương . [70] Năm 1832 người Chăm lại nổi dậy chống lại vua Minh Mạng nhân dịp có cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi ở phía Nam nhưng không thành công.[68]. Chính quyền tự trị hạn chế của người Chăm chấm dứt tồn tại vào năm 1832, khi Hoàng đế Minh Mạng đổi Thuận Thành thành phủ Ninh Thuận và đặt quan lại cai trị trực tiếp[71]. Lịch sử vương quốc Chăm Pa chính thức dừng lại ở đây[72]. Lịch sử miền đất Tây Nguyên ngày nay sau khi tách khỏi lịch sử Chăm Pa vào năm 1471 còn chưa được các học giả quan tâm nghiên cứu. Mối quan hệ lịch sử giữa Chăm Pa (trước thời Lê), Nam Bàn (thời Lê) và hai nước Thủy Xá, Hóa Xá (thời Nguyễn) còn chưa được chứng minh. Tuy nhiên theo Cương mục[73] thì vua Lê Thánh Tông phong cho dòng dõi chúa Chăm Pa làm Nam Bàn quốc vương và đất đai Nam Bàn chính là đất phụ thuộc Chăm Pa xưa (trước thời Lê) và vào thời Nguyễn đấy chính là đất của hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá (tức Tây Nguyên ngày nay). Sau khi Chăm Pa bị sát nhập hoàn toàn vào Việt Nam thì hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá tức miền đất Tây Nguyên ngày nay vẫn giữ được độc lập nhưng trở thành phiên thuộc của nhà Nguyễn[74] cho đến thời Pháp thuộc[75].
^ Ngô Vǎn Doanh, My Son Relics, tr.78, 188; Ngô Vǎn Doanh, Champa, tr.33. Bản tiếng Anh của bia Mỹ Sơn ca ngợi thắng lợi của nhà vua ở trang 218 trở đi.
^ Mộc bản Chính Hòa, tr. 450, tập II. Chú thích về Hoa Anh của Cương Mục dẫn lại theo chú của bản Toàn thư tiếng Việt NXB KHXH 1998 từ mộc bản Chính Hòa tr. 450, tập II.
^ Mộc bản Chính Hòa, tr. 450, tập II. Chú thích về Nam Bàn của Cương Mục dẫn lại theo chú của bản Toàn thư tiếng Việt NXB KHXH 1998 từ mộc bản Chính Hòa tr. 450, tập II.
^ Quốc Sử Quán Triều Nguyễn, Đại Nam Thực lục Chính Biên, Đệ nhất kỷ, bản dịch của Viện Sử học, tái bản lần 1, NXB Giáo dục, 2007, tr. 306
^ Cao Xuân Dục, Quốc Triều Chính Biên Toát yếu, bản tiếng Việt do Quốc Sử Quán dịch - NXB Nghiên cứu Sử Địa Việt nam 1972, tr. 81.
^ Po Dharma, “Status of the Latest Research on the Date of Absorption of Champa by Vietnam”, trong Proceedings of the Seminar on Champa, 1994, tr. 61.
^ Khâm Định Việt Sử Thông giám Cương Mục, bản tiếng Việt, NXB Giáo dục, 1998, tr. 524.
^ Sách Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu, bản tiếng Việt do Quốc Sử Quán dịch - NXB Nghiên cứu Sử Địa Việt nam 1972, tr. 128, 142, 148, 184 còn ghi lại các lần hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá nộp cống cho nhà Nguyễn. Sách cũng cho biết việc nộp cống này được bắt đầu từ trước khi cải thổ quy lưu tức năm 1829, Sdd tr. 76. Sau cải thổ quy lưu, năm 1841, Sdd tr. 128, cả hai nước đều xin làm phiên thuộc.
^ Lần cuối cùng sách Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu đề cập đến việc hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá nộp cống cho nhà Nguyễn là năm 1869. Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu, bản tiếng Việt NXB Nghiên cứu Sử Địa Việt nam 1972, tr. 187.