31/07/2010

Chuyện vui các đại hội nhà văn

Ngô Minh - Bee.net

Tôi là nhà văn đã dự 4 kỳ Đại hội nhà văn, kỳ Đại hội thứ VIII này nữa là 5. Đại hội nhà văn luôn là một đại hội quan trọng được dư luận xã hội, đặc biệt là từng lớp trí thức rất quan tâm. Nhưng đại hội nhà văn cũng có nhiều chuyện vui đáo để….

Hoàng Phủ Ngọc Tường ham "Đối trọng" quên ăn trưa


Ở Đại hội Nhà văn lần thứ V (1995), nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đọc bài tham luận rất hay về quan điểm Đối trọng, nghĩa là các nhà văn có trách nhiệm với đất nước, nhân dân phải mạnh dạn nêu ý kiến phản biện xã hội để Đảng và Nhà nước ban hành các quyết sách đúng đắn hơn. Kiểu như quan can gián vua trong các triều đại ngày xưa.
d
Hoàng Phủ Ngọc Tường

Trưa hôm sau, văn phòng Tổng Bí thư Đỗ Mười đưa xe đến mời nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường tới gặp mặt Tổng bí thư. Anh Tường kể: Cuộc nói chuyện bắt đầu từ 10 giờ sáng, chỉ có  3 người là TBT Đỗ Mười, anh Tường và ông Nguyễn Đức Bình, lúc đó là Uỷ viên Bộ Chính trị phụ trách công tác tư tưởng. Nhưng ông Bình chỉ ngồi nghe, từ đầu đến cuối không nói gì.

TBT Đỗ Mười là một nhà lãnh đạo tâm huyết và có tài hùng biện, Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà văn thông kim bác cổ, nên hai người say sưa nói chuyện. Vẫn chuyện đối trọng hay không đối trọng, nhưng câu chuyện thân tình, cởi mở. Đến khi nhìn đồng hồ  thì đã 12 giờ rưỡi trưa. Hồi đó chưa có chế độ làm việc thông tầm. TBT Đỗ Mười chủ động dừng câu chuyện. TBT Đỗ Mười bảo: ”Tôi với anh sẽ ăn suất cơm của tôi!”. Nhưng nhà bếp Trung ương Đảng đã đóng cửa. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường về đến khách sạn thì bếp ăn cũng đóng cửa…

Nguyễn Đình Thi: Làm Tổng thư ký Hội nhà văn khó hơn làm Tổng thư ký Liên hiệp quốc!
  
Tại Đại hội Nhà văn lần thứ IV (1989), chỉ hai việc bầu chủ tịch đoàn và nhà văn lên tham luận phát biểu được bao nhiêu phút mà Đại hội phải họp mất một ngày trời.
Hồi đó phong trào đổi mới, phá rào trong kinh tế đã bắt đầu. Đại hội Nhà văn cũng chia làm hai phái (Nguyễn Duy gọi là Phái vui tươi và phái hằm hằm): gồm những người muốn văn chương Việt Nam phải mới hơn, chân thật hơn, hội nhập với thế giới; và những người muốn xưa nay làm như thế nào thì cứ giữ như thế để ổn định.
d
Nhà văn Nguyễn Đình Thi

Nhiều nhà văn lại là những người tiếng tăm lẫy lừng trong hai cuộc chiến tranh, nên ai cũng muốn nằm trong chủ tịch đoàn để được điều khiển hội nghị theo ý mình. Thế là tranh luận qua về có khi rất gay gắt. Đúng một buổi sáng, đến 21 giờ kém 15 mới bầu được 7 vị Chủ tịch đoàn.

Đại hội có 400 người dự mà có tới 108 người đăng ký tham luận. Lấy đâu thời giờ  mà đọc, mà nói. Có người đề xuất  tham luận nào lạc đề, hoặc dài quá, thì Đại hội  sẽ vỗ tay mời xuống.

Có người lại bảo: ”Nhà văn họ có quyền phát biểu chính kiến của mình, không được vỗ tay mời xuống”.  Nhà văn Nguyễn Khắc Phế đề nghị: ”Mỗi đại biểu nên phát biểu 10 phút”. Một đại biểu quân đội nói: ”Nên được 2 lần phát biểu nhưng không được liền nhau”.

Nhà văn Hoàng Quốc Hải cười hỏi: ”Có được bán nhượng quyền tham luận không?”. Nhà thơ Thu Bồn bức xúc: ” Tôi đăng ký tham luận từ 2 ngày trước, sao lại xếp số 70?”. Nhà văn Triệu Bôn: ”Đề nghị bắt thăm đọc tham luận “...

Cuối cùng nhà văn Nguyễn Quang Lập có sáng kiến được mọi người tán thưởng: ”Đề nghị Chủ tịch đoàn rung chuông đối với những người nói lạc đề và nói quá 10 phút”. Thế Đại hội nhất trí rung chuông. Giải lao, tôi nói với anh Nguyễn Đình Thi: “Thế là Hội ta thành Liên hiệp quốc rồi đấy anh ạ. Phát biểu quá giờ, Tổng thư ký rung chuông cắt”.
Anh Thi cười: ”Hội Nhà văn Việt Nam còn hơn cả Liên hiệp quốc. Làm Tổng thư ký Hội Nhà văn khó hơn làm Tổng thư ký Liên hiệp quốc. Liên hiệp quốc có 200 nước, Hội ta có 400 hội viên, tức là 400 nước, không ai chịu ai. Nên phải có chuông rung mới công bằng”. Không biết nhà văn Nguyễn Đình Thi kiếm đâu ra cái chuông rung cũng kêu ra phết. 

Danh sách bầu cử chiếm 63% đại biểu đại hội

Ở các kỳ Đại hội Nhà văn vui nhất là chuyện bầu cử. Đại hội Nhà văn IV là đại hội toàn thể. Có 400 nhà văn đi đại hội. Đại hội biểu quyết số lượng BCH khoá mới  từ 21- 25 vị. Thế mà danh sách ứng cử và đề cử sau khi rút lại lên tới 251 người, chiếm 63 %, phải in ra tới bảy tám trang giấy A4.

Vì quá đông người đề cử, ứng cử, không ai chịu rút, nên bầu lại lần thứ hai mới  có 9 người quá bán là: Nguyễn Quang Sáng, Nguyên Ngọc, Vũ Tú Nam, Xuân Cang, Chính Hữu, Hữu Thỉnh, Nguyễn Khải, Nguyễn Thị Ngọc Tú, Hữu Mai. Chưa được một nửa con số 21 người BCH mà Đại hội thông qua.

Nhà văn Nguyễn Quang Sáng cao phiếu nhất, được giới thiệu Đại hội bầu Tổng thư ký, nhưng ông một mực xin thôi để về Sài Gòn “còn được nhậu với anh hai lúa”. Cuối cùng nhà văn Vũ Tú Nam được bầu làm Tổng thư ký Hội Nhà văn khoá 4.

Đại hội VII (2005) cũng vậy. Đại hội nhất trí bầu Ban chấp hành 15 người. Hô hào rút lần này lần khác, cuối cũng danh sách đề cử sau khi gút lại lên đến gần  200 người, nên bỏ phiếu chỉ 6 người quá bán. Chủ tịch đoàn đề nghị bầu lần 2, Đại hội  biểu quyết: ”Không bầu nữa”. Thế là BCH chỉ đúng một mâm.

Danh sách đề cử, ứng cử dài nên kiểm phiếu cũng khổ. Tại Đại hội lần thứ IV, lực lượng kiểm phiếu được chia thành 6 bàn, mà phải kiểm đến tận khuya mới xong.
Tại Đại hội IV, các nhà văn chia làm hai phái, nên kiểm phiếu từng bàn một cũng chia làm hai phía, cái gì cũng phải bên này-bên kia: Hai người đọc, hai người ghi, hai người đứng đằng sau theo dõi chặt chẽ. Kiểm phiếu tới gần một giờ đêm, phải bồi dưỡng cháo gà khuya. Kiểm phiếu mà được bồi dưỡng cháo gà lúc nửa đêm là chuyện xưa nay hiếm. 

Nguyễn Duy say viết diễn ca đại hội 


Ở Đại hội Nhà văn IV, sau khi công bố kết quả bầu cử, Nguyễn Duy đã thức suốt đêm để viết ĐẠI HỘI NHÀ VĂN IV NGÂM KHÚC.

Sáng hôm sau là buổi nhà thơ Dương Kỳ Anh, Tổng biên tập báo Tiền Phong tổ chức cuộc gặp mặt giữa cơ quan báo với các nhà văn miền Trung và miền Nam về dự Đại hội. Tôi vào phòng giục anh: "Đi báo Tiền Phong kẻo quá giờ rồi“.
Nguyễn Duy bảo, thôi các cậu đi đi, mình phải làm cho xong cái diễn ca này, không chiều chúng nó về địa phương mất. Bài “diễn ca” nhại điệu Chinh phụ ngâm dài tới 200 câu. Thuở trời đất nổi cơn đại hội /Khách làng văn nhiều nỗi truân chuyên/ Xanh kia thăm thẳm tầng trên/ Vì ai cách trở cho nên nỗi này/ Trống Hà Thành lung lay bóng nguyệt/ Sương Ba Đình mờ mịt thức mây…
d
Nhà thơ Nguyễn Duy.

Đại hội xong, ngày 1/12/1989, trên chuyến xe nhà thơ Nguyễn Duy quá giang cùng đoàn Nhà văn Huế vào quê Đò Lèn, Thanh Hoá, anh đã đọc rất hứng khởi cho tôi và mọi người chép. Xe nhấp nhổm ổ voi ổ gà, nên chép chữ nhảy múa rất khó đọc Nhưng rồi nhờ có trong sổ tay mà bây giờ đọc lại thấy  vui vui: …câu thơ luống đắn đo chẳng viết/ viết cho ai, ai biết mình đây ?/ Nguyễn Duy líu lưỡi chau mày/ một phen sống sót là may lắm rồi…/  Ngoảnh cổ lại ngùi ngùi nhỏ lệ/ thảm thương thay huynh đệ tương tàn/ chỉ vì mấy đứa văn gian/ muốn làm cho hại cho tàn văn chương …

Phùng Quán mời rượu đại hội

Sau Đại hội nhà văn lần thứ nhất (từ 1-4/4/1957), nhà văn Phùng Quán dính tai nạn văn chương Nhân văn-Giai phẩm, mãi đến Đại hội IV, tức 32 năm sau anh mới được cùng các đồng nghiệp văn chương dự Đại hội Nhà văn. Anh xúc động lắm. Nên anh đã mời rượu đại hội theo cách của anh. Những ngày Đại hội anh luôn thủ sẵn một be rượu và một cái chén mắt trâu trong cái túi Mán của mình. Anh lần đi từng dãy ghế trong Hội trường Ba Đình, tìm đến các bạn văn ba miền, rót mời mỗi người một chén, rồi lại đi dãy bàn khác. Hết rươụ thì về nhà lấy.

Vì nhà anh ở sau trường Chu Văn An, rất gần Hội trường Ba Đình. Anh mời rượu như thế suốt mấy ngày Đại hội, nên những chuyện “Nguyễn Văn Hạnh một mình một ngựa/ Phá vong vây ở giữa sa tràng… hay Hồi kết cuộc chia làm hai phái/ Phái vui tươi và phái hằm hằm… như trong diễn ca của Nguyễn Duy kể, anh Quán không quan tâm lắm.
p
Nhà văn Phùng Quán.

Một buổi tối, không họp, tôi đến nhà anh mượn cái xe đạp để đi thăm bạn bè Hà Nội. Thấy tôi bước lên “chòi ngắm sóng”, Phùng Quán reo lên: ”Đây rồi! Đây rồi. Ngô Minh là nhà thơ vừa là nhà báo, sẽ tường thuật đầy đủ cho các vị về ”tình hình Đại hội ngày hôm nay”.
Tôi nhận ra rất nhiều trí thức đang ngồi nhâm nhi rượu Phùng Quán mời như giáo sư Hồ Ngọc Đại, Tiến sĩ toán học Nguyễn Xuân Tấn… đang chờ Phùng Quán kể cho nghe không khí sôi động, quyết liệt của Đại hội Nhà văn trong Hội trường Ba Đình, nhưng anh Quán lại ít quan tâm về việc ấy, nên không tường thuật được, chỉ mời rượu mọi người thôi. Thế là tôi phải bỏ việc mượn xe đạp đi chơi, ngồi  kể lại từng sự việc xảy ra trong Đại hội  cho mọi người nghe cho đến tận khuya…

Ngô Minh

--------------

GS Hà Văn Tấn giải thích cách bài trí tượng trong chùa

Bee.net- Sự hiểu biết về các tượng trong ngôi chùa Việt Nam giúp chúng ta thấy rõ đặc điểm của Phật giáo Việt Nam.

GS Hà Văn Tấn đã giải thích về cách bài trí tượng trong chùa Việt Nam trong cuốn sách Chùa Việt Nam do NXB Thế giới mới mới tái bản, có sửa chữa và bổ sung.


Do lịch sử truyền nhập Phật giáo ở đây, phần lớn chùa Việt Nam là chùa Đại Thừa (Mahayana). Do đó, ở nhà chính điện cũng như các tòa nhà khác trong chùa, chúng ta thấy nhiều tượng Phật (Buddha), Bồ Tát (Bodhisattva) cùng với tượng các thiên thần Phật giáo khác. Đó là chưa kể sự có mặt những tượng thần của các tôn giáo khác và của tín ngưỡng dân gian Việt Nam truyền thống. Sự hiểu biết về các tượng trong ngôi chùa Việt Nam giúp chúng ta thấy rõ đặc điểm của Phật giáo Việt Nam.

Chính điện bao giờ cũng là nơi trung tâm của sự thờ cúng trong chùa. Ở đây có nhiều bàn thờ, và bàn thờ chính, ở giữa, thường được làm thành những bậc từ cao xuống thấp. Không có một công thức chung cho sự bài trí tượng ở các chùa Việt Nam. Vị trí của các tượng thay đổi một cách linh hoạt tùy theo từng ngôi chùa.

(…) Ở tầng cao nhất của bàn thờ giữa ở chính điện, sát vách, thường có ba pho tượng được gọi là "tam thế", tức tượng các vị Phật của ba thời gian: Quá khứ, Hiện tại và Vị lai. Ba vị Phật này chỉ là đại biểu cho vô số Phật trong mọi thời gian và không gian, theo quan niệm của Phật giáo Đại Thừa.

Phía dưới ba pho tượng tam thế, thường xếp ba pho tượng gọi là "Di Đà tam tôn", gồm tượng Phật A Di Đà (Amitabha) ở giữa, tượng Bồ Tát Quan Thế Âm (Avalokitesvara) ở bên trái và tượng Bồ Tát Đại Thế Chí (Mahasthamaprapta) ở bên phải. Tượng Phật A Di Đà thường có kích thước lớn hơn các tượng khác.

Sự có mặt ở vị trí đặc biệt tượng Phật A Di Đà cùng với tượng các Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí đã nói lên ý nghĩa quan trọng của tín ngưỡng Tịnh Độ trong Phật giáo Việt Nam.
 
s
Chùa Hang, Đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi. Ảnh Sách Chùa Việt Nam

Ở Việt Nam, không có một phái Tịnh Độ riêng biệt, nhưng tín ngưỡng Tịnh Độ phổ biến rộng rãi, làm thành một cơ tầng bình dân cho Phật giáo. Theo tín ngưỡng này, người ta tin có một cõi Tịnh Độ hay Tây Phương cực lạc, nơi có Phật A Di Đà ngự trị, các Bồ Tát Quan Thế Âm và Đại Thế Chí đã tiếp dẫn linh hồn chúng sinh về nơi đó. Người ta chỉ cần niệm tên Phật A Di Đà nhiều lần là có thể vãng sinh ở cõi Tây Phương cực lạc. Tên A Di Đà Phật đã trở thành lời chào nhau của các tín đồ Phật giáo Việt Nam.

Cần nói thêm là trong chùa Việt Nam, tượng Đại Thế Chí chỉ được bày bên cạnh tượng A Di Đà, còn tượng Quan Thế Âm, hay Quan Âm, thì có nhiều kiểu và có thể được đặt ở nhiều nơi. Đó là vì tín ngưỡng Quan Âm ở Việt Nam có một vị trí độc lập, không phải lúc nào cũng gắn liền với tín ngưỡng Tịnh Độ A Di Đà.

Người Việt Nam coi Quan Âm là nữ thần cứu khổ cứu nạn, có thể giúp nhân dân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, vượt qua các tật bệnh, tai ương. Tín ngưỡng này có thể đã kết hợp với tín ngưỡng các nữ thần có nguồn gốc dân gian. Quan Âm được thờ ở chùa mà cũng có thể được thờ ở nhà.

Trong các chùa Việt Nam, tượng Quan Âm có nhiều kiểu. Tượng "Quan Âm tống tử" thể hiện một người phụ nữ bế một đứa bé, bên cạnh có con vẹt. Tượng này gắn liền với câu chuyện dân gian kể rằng Thị Kính bị chồng là Thiện Sĩ nghi oan, đã cải trang làm trai, lấy tên là Kính Tâm, đi tu ở chùa. Có một cô gái là Thị Mầu say mê Thị Kính nhưng bị cự tuyệt. Về sau, Thị Mầu đã đem đứa con hoang mới sinh của mình vứt vào chùa, đổ oan cho Thị Kính là bố đứa bé. Thị Kính đã nhẫn nhục, nuôi nấng đứa bé, và sau này, bà trở thành Bồ Tát Quan Âm. Con vẹt là hậu thân của Thiện Sĩ.

Tượng "Quan Âm Nam Hải" là tượng Quan Âm ở trên biển. Người Trung Quốc đã coi Potalaka, nơi ở của Avalokitesvara theo truyền thuyết Ấn Độ, là núi Phổ Đà trên quần đảo Chu Sơn gần Hàng Châu. Đến lượt, người Việt Nam lại đồng nhất Nam Hải, nơi ở của Quan Âm với biển Việt Nam:

Xem trong biển nước Nam ta,

Phổ môn có đức Phật Bà Quan Âm.(1)


Trong các chùa Việt Nam còn có loại tượng Quan Âm có nhiều tay, được gọi là "Quan Âm chuẩn đề" (Cundi-Avalokitesvara). Trong loại tượng Quan Âm nhiều tay, có kiểu "Thiên thủ thiên nhãn" (Sahasrabhuja-sahasranetra) với nghìn tay nghìn mắt (ở giữa mỗi bàn tay có hình một con mắt). Pho tượng kiểu này ở chùa Bút Tháp (tỉnh Bắc Ninh) do nhà điêu khắc họ Trương tạc năm 1656 được coi là niềm tự hào của điêu khắc cổ Việt Nam.

Trong chùa, các tượng Quan Âm tống tử, Quan Âm Nam Hải thường được bày trên các bàn thờ ở góc hai bên bàn thờ chính ở nhà thượng điện. Tượng Quan Âm nhiều tay có lúc đặt trên bàn thờ chính, cũng có lúc bày ở bàn thờ riêng. Tượng Quan Âm nghìn mắt nghìn tay ở chùa Bút Tháp đặt ở gian bên cạnh của bàn thờ chính. Ở một số chùa, tượng Quan Âm còn được đặt trong các động đắp bằng vôi vữa.

Trên bàn thờ  chính, dưới ba pho tượng Di Đà tam tôn đã nói ở trên, thường là tượng Phật Thích Ca Mầu Ni (Sakyamumi), với tượng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (Manjusri) ở bên trái và tượng Bồ Tát Phổ Hiền (Samantabhadra) ở bên phải. Thích Ca ngồi trên tòa sen, còn Văn Thù và Phổ Hiền đứng trên tòa sen. Cũng có tượng Văn Thù ngồi trên lưng con sư tử màu xanh và Phổ Hiền ngồi trên lưng con voi màu trắng. Bộ ba tượng này thể hiện cảnh Phật Thích Ca đang thuyết pháp. Có khi, thay vào vị trí của Văn Thù và Phổ Hiền, là hai đệ tử của Thích Ca, Ca Diếp (Kasyapa) và A Nan Đà (Ananda).

Tượng Thích Ca trong chùa Việt Nam thường có một số kiểu khác nhau, diễn tả những giai đoạn khác nhau trong cuộc đời của Phật. Tượng Tuyết Sơn biểu hiện thời kỳ Thích Ca tu khổ hạnh trong núi tuyết, tức Himalaya, có thân hình gầy guộc, ngực hiện rõ những chiếc xương sườn. Việt Nam có nhiều pho tượng Tuyết Sơn đẹp, đặc sắc như các tượng ở chùa Tây Phương, chùa Mía...

Tượng Nhập niết bàn (Parinirvana) là tượng Thích Ca nằm nghiêng, cánh tay chống lên đỡ lấy đầu, mắt lim dim. Trong các chùa Việt Nam, kiểu tượng này hiếm, nhưng cũng có  một số pho đẹp như ở chùa Mía hay chùa Trấn Quốc...

Kiểu tượng phổ  biến là Thích Ca sơ sinh, đó là hình một chú bé với tay trái chỉ lên trời, tay phải chỉ xuống đất. Theo truyền thuyết, lúc Thích Ca ra đời, có chín con rồng (ở Ấn Độ là naga) phun nước tắm. Vì thế, tượng Thích Ca sơ sinh ở Việt Nam thường đặt dưới một vòm chạm hình chín con rồng bay xung quanh, giữa những đám mây, với các hình chư thiên, tiên nữ và có khi cả bát bộ Kim Cương. Kiểu tượng này được gọi là tượng Cửu Long (Chín rồng).

Tượng Thích Ca sơ sinh và tượng Cửu long thường được bày ở tầng dưới cùng của bàn thờ chính. Hai bên tượng Thích Ca sơ sinh, người ta thường đặt tượng Đế Thích (Indra) và tượng Phạm Vương, còn gọi là Phạm Thiên (Brahma) được đưa vào thần điện Phật giáo khá sớm.
Trên các điêu khắc Phật giáo ở Gandhara và Mathura, đã có hình Indra và Brahma đứng ở hai bên đức Phật. Cùng với sự lan truyền của Phật giáo, tín ngưỡng về Indra và Brahma, như những người bảo vệ của đức Phật cũng được đưa tới các nước Đông Á và Đông Nam Á.

Ở Việt Nam, Indra - Đế Thích và Brahma - Phạm Thiên được coi là các chúa tể của thế giới người và thần, nên khi đức Thích Ca chưa thành đạo, họ phải ở luôn bên cạnh để hộ trì. Vì họ được quan niệm là những ông vua, nên tượng của họ được tạo trong tư thế ngồi ngai báu, đội mũ miện, mặc áo cổn.

Tuy nhiên, như ta thấy, ở một số nước châu Á, Indra có một vị trí quan trọng hơn Brahma trong tín ngưỡng của nhân dân. Tín ngưỡng về Indra thường hòa lẫn vào tín ngưỡng dân gian. Ở Việt Nam cũng vậy, từ xưa, Đế Thích không chỉ được thờ phụng bên cạnh Phạm Thiên mà còn có thể được thờ phụng riêng. Đã có những ngôi chùa dành riêng cho việc thờ Đế Thích, như chùa Vua ở Hà Nội.

Trên bàn thờ  chính ở nhà thượng điện, ngoài tượng Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, ở một số chùa, còn có  tượng Phật Di Lặc (Maitreya). Tượng Di Lặc được tạo với bộ mặt tươi cười, áo phanh, để hở cái bụng to. Người Việt Nam quen gọi Di Lặc là "ông vô lo".

Thật tương phản, khi tượng Di Lặc đặt bên cạnh tượng Tuyết Sơn, gày gò khắc khổ! Di Lặc đã có mặt từ lâu trong Phật điện Việt Nam. Nhưng dường như trong Phật giáo Việt Nam, Di Lặc không có một vị trí bằng A Di Đà.

Hầu hết các chùa đều có tượng A Di Đà nhưng không phải chùa nào cũng có tượng Di Lặc. Ở Trung Quốc, có tín ngưỡng Tịnh Độ A Di Đà lẫn tín ngưỡng Tịnh Độ Di Lặc, nhưng ở Việt Nam, chỉ có tín ngưỡng Tịnh Độ A Di Đà mà không có tín ngưỡng Tịnh Độ Di Lặc.

Trong nhà tiền đường, thường có hai tượng Hộ Pháp (Dvarapala), những thiên thần bảo vệ Phật Pháp, mặc giáp trụ, cầm vũ khí, đứng hoặc ngồi trên lưng sấu, một loại sư tử huyền thoại.
Những tượng này thường được đắp bằng đất, phủ sơn, và có kích thước rất lớn, đầu gần chạm mái. Vì vậy mà trong ngôn ngữ Việt Nam, có thành ngữ "to như Hộ Pháp". Trong một số chùa, ở nhà tiền đường, có bày tượng bát bộ Kim Cương (Vajrapani), tức tám vị thần bảo vệ của Phật, cũng mặc giáp trụ và cầm vũ khí. Đôi khi, ở nhà bái đường, còn có các bàn thờ mười vị Diêm Vương (Yama), được gọi là thập điện Diêm Vương, tức mười vị vua cai quản mười tầng địa ngục. Bàn thờ mười Diêm Vương cũng có lúc được đặt sát tường ở hai bên nhà chính điện.
Cảnh mười tầng địa ngục đôi khi được chạm trong những bức phù điêu hay đắp thành động, diễn tả cảnh những người có tội bị các quỷ Dạ Xoa (Yakasas) hành hình bằng nhiều cách, trước mặt các Diêm Vương. Trong nhà bái đường, có thể có một số bàn thờ khác, thờ Thổ Địa (Thần Đất), Long Vương, hay Đức Ông, người bảo vệ tài sản của chùa. Có người cho rằng người bảo vệ tài sản chùa này chính là Cấp Cô Độc (Anathapindika), người đã cúng nhiều tài sản cho Phật, nhưng nhiều người khác không nghĩ như vậy.

Ở nhà tổ, ngoài tượng các vị sư từng trụ trì ở chùa, còn có bàn thờ đặt tượng Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma), nhà sư Ấn Độ đến Trung Hoa vào khoảng đầu thế kỷ VI, được coi là người sáng lập Thiền Tông ở đây. Vì Phật giáo Việt Nam thường tự coi là thuộc các phái Thiền nên đều thờ vị tổ thứ nhất này. Tượng Bồ Đề Đạt Ma thường có mũi cao, tóc quăn, râu quai nón.

Ở các chùa có hai dãy hành lang, người ta thường bày tượng 18 vị La Hán (Arhat), mỗi bên 9 tượng. Có chùa, như chùa Keo (tỉnh Thái Bình), các tượng La Hán được bày ngay ở nhà tiền đường. Riêng ở chùa Tây Phương (Hà Nội), có những pho tượng đẹp bày ở hậu đường được coi là các tượng La Hán, nhưng căn cứ vào tên các vị này, như Gia Na Hòa Tu (Sanakavasa), Ba Tu Mật (Vasumitra), Phật Đà Nan Đề (Buddhanandi), Ca Tỳ Ma La (Kapimala), La Hầu La Đa (Rahulata), Tăng Già Nan Đề (Sanghanandi), Cưu Ma La Đa (Kumarata), Chà Dạ Đa (Jayata)... Chúng ta thấy đó là tên của các vị tổ (trong 28 vị) người Ấn Độ mà Thiền Tông Trung Quốc truy nguyên và thừa nhận. Nếu vậy, đây là tượng Tổ chứ không phải tượng La Hán.

Do tính chất pha tạp của Phật giáo Việt Nam, trong các chùa, ngoài tượng các Phật, các Bồ Tát, La Hán hay các thiên thần Phật giáo, ta còn có thể gặp tượng các vị thần  Đạo giáo như Ngọc Hoàng Thượng Đế, Thái Thượng Lão Quân hay Nam Tào, Bắc Đẩu.

Đặc biệt là trong các chùa Việt Nam thường có các bàn thờ Mẫu, tức nữ thần Mẹ. Thờ Mẫu là một tín ngưỡng Việt Nam có nguồn gốc dân gian. Có nhiều Mẫu, như Mẫu Thượng Ngàn (nữ thần Núi), Mẫu Thoải (nữ thần Nước), Mẫu Địa Phủ (nữ thần Đất)... Một vị Mẫu có vị trí quan trọng trong tín ngưỡng Việt Nam là Mẫu Liễu, tức công chúa Liễu Hạnh, được coi là một trong "tứ bất tử" (Bốn vị thánh bất tử)(1). Thánh Mẫu Liễu Hạnh được thờ trong nhiều đền nổi tiếng nhưng cũng được thờ trong nhiều chùa. Chẳng hạn, ở chùa Mía (Hà Nội), bàn thờ Liễu Hạnh được đặt ngay ở nhà tiền đường.

Theo Sách Chùa Việt Nam, NXB Thế giới, tái bản lần thứ 4 có sửa chữa và bổ sung cuốn “Chùa Việt Nam”. Tác giả: Hà Văn Tấn - Nguyễn Văn Kự - Phạm Ngọc Long


--------------

Nguồn gốc chữ Quốc ngữ

GIÁO SĨ A-LỊCH-SƠN ĐẮC LỘ VỚI CHỮ QUỐC NGỮ

Bàn về việc thành lập chữ quốc ngữ, các tác giả đều đi tới một kết luận chung này: nhiều người, chứ không phải một mình giáo sĩ Đắc Lộ đã sáng chế ra thứ chữ viết theo mẫu tự Roma hay Việt ngữ phiên âm. Thật vậy, sử gia Ch.B.Maybon, trong bộ sách xuất bản năm 1919, đã công nhận việc thành lập chữ quốc ngữ là một công cuộc chung, trong đó phải kể nhiều giáo sĩ thuộc nhiều quốc tịch khác nhau, chứ không riêng gì giáo sĩ người Bồ Đào Nha 1. Trong bộ Việt Nam văn học sử yếu, ông Dương Quảng Hàm có viết: “Việc sáng tác chữ quốc ngữ chắc là một công cụ chung của nhiều người, trong đó có cả các giáo sĩ người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, và Pháp lan tây. Nhưng người có công nhất trong việc ấy là cố A-lịch-sơn Đắc Lộ, vì chính ông là người đầu tiên đem in những sách bằng chữ quốc ngữ, thứ nhất là một cuốn tự điển khiến cho người sau có tài liệu mà học và kê cứu”2.

Ông Đào Duy Anh cũng đồng ý tưởng như trên khi viết: “Xưa kia Việt ngữ vốn viết bằng chữ nôm, nhưng từ khi phép học đổi mới thì Việt ngữ lại viết bằng một thứ chữ mới gọi là chữ quốc ngữ. Thứ chữ này nguyên do các nhà truyền giáo Giatô đặt ra. Vào khoảng thế kỷ XVII, khi các nhà ấy mới sang nước ta, thì có lẽ mỗi người lấy mẫu tự của nước mình mà đặt ra một lối chữ riêng, để dịch tiếng bản xứ cho tiện việc giảng dạy tín đồ. Các lối chữ riêng ấy, sau do hai nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, rồi sau đến cố A-lịch-sơn Đắc Lộ người Pháp tổ chức lại thành một thứ chữ thông dụng chung trong truyền giáo hội tức là thuỷ tổ của chữ quốc ngữ ngày nay”3.

Gần đây trong bộ lịch sử và văn hóa Việt Nam, ông Lê Thành Khôi, cho rằng việc thành lập chữ quốc ngữ đã bắt đầu chuẩn bị do các giáo sĩ người Ý, nhất là người Bồ Đào Nha, tỉ như giáo sĩ Gaspar d’Amaral và Antonio Barbosa, nhưng người hoàn tất chính là giáo sĩ Đắc Lộ.4

Các tác giả chúng tôi vừa nêu lên, đã đồng thanh công nhận nguồn gốc chung của chữ quốc ngữ và đồng thời quyết định phần hoàn tất cho giáo sĩ Đắc Lộ. Thực ra, còn một khía cạnh của công việc mà các tác giả trên chưa đề cập tới.

Giáo sĩ dòng Tên Henri Bernard, trong bài diễn văn đọc tại Hà Nội ngày 16 tháng 11 năm 1938, đã nói về chữ quốc ngữ như sau: “Thực ra, giáo sĩ Đắc Lộ đã không sáng nghĩ ra nguyên tắc, bởi những người cộng sự của ngài truyền giáo cho những người Nhật ngụ cư tại Hội An gần Đà Nẵng đã dùng các sách viết bằng chữ Nhật phiên âm hay romaji, xuất bản từ quần đảo Nhật; tuy nhiên ngài (giáo sĩ Đắc Lộ) đã làm cho hoàn hảo và theo thiển ý tôi, đã hợp lý hóa bằng việc theo phương pháp học hỏi các cung giọng, để đạt tới sự hoàn thành một dụng cụ văn tự mà người Trung Hoa ngày nay phải thèm muốn”5.

Hai ông Huard và Durand cũng đồng ý kiến trên và còn nói rõ tên người Nhật đầu tiên đã phiên âm tiếng Nhật người đó là Yajirô, một đồ đệ của Xaviê tòng giáo vào năm 1548. Từ đó các nhà truyền giáo đã dùng thứ chữ romaji này. Bởi vậy, hai ông đã kết luận, “từ việc phiên âm tiếng Nhật đến La Mã hóa Việt ngữ, chỉ còn có một bước”6.

Chúng tôi đồng ý với hai ông về sáng kiến đầu tiên của Yajiro và lớp giáo sĩ truyền giáo đầu tiên tại Nhật, song chúng tôi không công nhận sự chuyển tiếp nhanh chóng và trực tiếp từ chữ quốc ngữ Nhật đến chữ Việt phiên âm. “Một bước” của hai ông có lẽ chỉ là một lối nói chữ, vì thực ra, như sau này chúng ta sẽ thấy, việc La mã hóa Hoa ngữ mà các tác giả, kể cả các tác giả người Việt cũng như người Pháp, đã không đề cập tới, phiêm âm Hoa ngữ ấy họa chăng mới có ảnh hưởng một phần nào tới việc phiên âm Việt ngữ hay thành lập chữ quốc ngữ. Còn romaji Nhật chỉ là một sự việc xa xa, chứ một bước, theo thiển ý chúng tôi, chưa thể đạt tới được.

Vậy căn cứ vào những kết luận của đa số các tác giả và dựa theo những khảo cứu sơ thiển của chúng tôi, chúng tôi chia bài này làm hai phần. Trong phần thứ nhất, chúng tôi sẽ trình bày ý tưởng: việc thành lập chữ quốc ngữ là một sự nghiệp chung của nhiều người. Chúng ta sẽ lần lượt đề cập tới những thực hiện xa như việc phiên âm Nhật ngữ và Hoa ngữ, rồi tới những thực hiện gần của những giáo sĩ tiên phong hoạt động chính trên Việt Nam đầu thế kỷ XVII. Phần thứ hai sẽ dành cho công cuộc của giáo sĩ Đắc Lộ mà các sử gia đã tặng cho danh hiệu “người hoàn thành chữ quốc ngữ”, “thủy tổ chữ quốc ngữ” vậy.

CHỮ QUỐC NGỮ: MỘT SỰ NGHIỆP CHUNG

Chúng ta biết rằng việc phiên âm là công cuộc của các giáo sĩ thừa sai đi truyền đạo tại miền Á đông. Mục đích việc phiên âm này là một mục đích thực tiễn và tôn giáo bởi vì để có thể giảng dạy cho người bản xứ, các ngài phải học tiếng của người bản xứ và để tránh học chữ nho, chữ Hán, chữ nôm phiền phức, các ngài phải dùng mẫu tự La tinh để phiên âm các tiếng đó.

Quả vậy tại Nhật, sau “tác phẩm” của Yajiro, chúng ta thấy nhà in của các giáo sĩ dòng Tên đã cho xuất bản các sách bằng chữ Nhật La mã hóa gọi là romaji. Một loại sách tôn giáo được phát hành ngay từ năm 1592, nghĩa là trước chúng ta hơn 50 năm. Trong số những sách này, người ta nhận thấy một cuốn giáo lý (Doctrina Iesus), một cuốn Tự điển La-Bồ-Nhật (Dictionarium La tinho-lusitanicum ac japonicum…) ấn hành năm 1595. Thực ra, trong thời kỳ này đang khi các giáo sĩ cho in các sách bằng romaji thì cũng xuất bản các sách bằng chữ Nhật-Hán văn, tương tự như sau này, tại Việt Nam, trong khi thành hình chữ quốc ngữ thì các sách cũng còn được biên soạn bằng chữ nôm.

Những sách thuộc lớp đầu này, đã được in trên quần đảo đất Phù tang. Nhưng hơn ba mươi năm sau, nghĩa là năm 1632, tại Thánh bộ truyền giáo La Mã, một loại sách thuộc lớp thứ hai đã được ấn hành để dùng vào việc truyền giáo tại Nhật. Đó là ba cuốn bằng chữ Nhật phiên âm của một giáo sĩ dòng Họ Đỗ hay Đaminh Didaco Collado: cuốn Phương pháp cáo tội và xét mình, cuốn Văn phạm tiếng Nhật (Ars grammaticae japonicae linguae) và cuốn Tự điển tiếng Nhật (Dictionarium sive Thesouri linguae japonicae Compendium). Thực ra, muốn cho đầy đủ, chúng ta còn phải kể nhiều loại sách khác do các giáo sĩ dòng Tên tại Nhật, hoặc các giáo sĩ dòng Họ Đỗ tại Manila (Phi luật tân) biên soạn.

Như vậy, trước khi giáo sĩ Đắc Lộ qua Việt Nam và trong khi ngài ở Việt Nam, người ta đã dùng những sách bằng chữ Nhật phiên âm. Hơn nữa không những dùng tại Nhật hoặc ở Macao mà còn dùng chính trên đất nước Việt, tỉ như tại Đà Nẵng là nơi có nhiều giáo dân Nhật Bổn di cư. Chính giáo sĩ Đắc Lộ đã được chỉ định đi truyền giáo tại Nhật, song chỉ vì hoàn cảnh mà ngài được chuyển tới Việt Nam.

Chúng tôi chưa đo được mực thước ảnh hưởng này đối với giáo sĩ Đắc Lộ, nhưng chúng tôi thiết nghĩ rằng: bởi chữ Nhật là thứ chữ đa âm và không có các thanh riêng biệt như tiếng Trung Hoa, nên phần ảnh hưởng của romaji Nhật cũng ít. Trái lại, ảnh hưởng của chữ Tàu phiên âm mới thật là một ảnh hưởng, nếu thật nó đã ảnh hưởng đến giáo sĩ Đắc Lộ.

Thật vậy, tại Trung Hoa, công cuộc phiên âm Hoa ngữ đã được hai giáo sĩ dòng Tên tiên khởi là Ruggieri và Ricci khởi thảo vào năm 1584-1588. Đó là cuộn Tự điển đầu tiên Bồ Đào Nha-Trung Hoa, hiện nay còn bản viết tay lưu trữ tại Văn khố dòng Tên tại Roma. Người ta nhận thấy rằng trong cuốn này, các tác giả mới chỉ phiên âm thôi, chứ chưa có dấu hiệu để ghi các thanh, một yếu tố tối ư quan trọng trong thứ tiếng độc âm như Hoa ngữ. Nhưng kết quả ghi trong bộ ngữ vựng hay tự điển kể trên mới chỉ là bước đầu. Công cuộc học hỏi ở đây sẽ còn phải tiến hành thêm lên nữa.

Thật vậy, trong một cuộc hành trình, giáo sĩ Ricci và Cattaneo, một người giỏi về âm nhạc, cả hai đã bắt đầu phân biệt các thanh trong Hoa ngữ và đồng thời cũng sáng chế ra những ký hiệu để ghi các thanh ấy. Để thực hành và áp dụng ngay, cũng trong năm đó, 1598, cả hai đã soạn một tập ngữ vựng đầy đủ hơn bộ tự điển nói trên. Các thanh được đại khái biên soạn như sau:

Bình thượng : gạch ngang -

Bình hạ : dấu mũ sấp â ^

Thượng thanh : dầu huyền `

Khứ thanh : dấu sắc

Nhập thanh : dấu mũ ngửa

Theo sự nhận xét của các giáo sư d’Elia, thì hai tác giả đã mượn giọng mềm và giọng cứng (esprit doux, esprit rude) của tiếng Hy Lạp mà áp dụng vào tiếng Trung Hoa, tiếng này cũng có giọng mềm và giọng cứng như vậy.

Phát giác được các thanh và sáng chế những ký hiệu ghi các thanh đó là năm 1598, thì năm 1605 hoặc 1606, giáo sĩ Ricci cho phát hành tại Bắc Kinh một cuốn giáo lý vắn tắt bằng hình ảnh. Trong cuốn này, bên cạnh chữ Hán, có ghi theo cách đọc viết theo tự mẫu La tinh với đầy đủ các thanh. Hơn nữa, về các âm, nếu trong Tự điển đã được soạn theo cách phát âm tiếng Ý, thì ở đây lại theo tiếng Bồ Đào Nha. Điểm này sẽ giúp chúng ta hiểu những giai đoạn thành lập chữ quốc ngữ sau này, bởi vì có giáo sĩ người Ý đã phiên âm theo lối Ý ngữ, trước khi có sự ấn định theo cách thức phát âm theo Bồ ngữ, là thứ chữ thông dụng trong thời chúng ta đang tìm hiểu, tương tự như tiếng Pháp hoặc tiếng Anh ngày nay.

Một khi sáng chế ra cách ghi chép các âm và các thanh trong một ngôn ngữ như Hoa ngữ, thì công cuộc La tinh hóa kể là đã hình thành. Bởi vậy, năm 1626, một giáo sĩ dòng Tên người Pháp là Trigault đã cho phát hành bộ sách vĩ đại nghiên cứu tường tận và một cách khoa học về lối phiên âm Hoa ngữ đã bắt đầu thành với Cattaneo và Ricci: đó là bộ Âm vận kinh toàn thư gồm 699 tờ giấy nhỏ hai mặt, khổ 16*26.

Một cảm giác gần như sự sửng sốt đã xâm chiếm các nho gia thời đó, bởi vì một người Âu đã gia công nghiên cứu các âm vận Hoa ngữ một cách rõ rệt và tỉ mỉ. Tác giả đã xếp các chữ Hán không phải theo bộ hay theo nét trong chính chữ nho, song ngài đã xếp chữ Hán chiếu theo tự mẫu phát âm La tinh. Do đó ngoài việc kê cứu theo các tiếng đồng âm gọi là “đồng minh tự phụ”, và nguyên âm gọi là “tự minh nguyên mẫu”, tác giả còn phân biệt hai giọng đọc mềm và cứng. Giáo sĩ cũng theo Cattaneo và Ricci trong việc ghi các thanh. Như trên chúng tôi đã nói, theo Ricci thì các thanh đó là:

Bình thượng : gạch ngang -

Bình hạ : dấu mũ sấp â ^

Thượng thanh : dầu huyền `

Khứ thanh : dấu sắc

Nhập thanh : dấu mũ ngửa

Còn theo Trigault thì cũng có một lối tương tự:

Thanh thanh : gạch ngang -

Trọc thanh : dấu mũ sấp â ^

Thượng thanh : dầu huyền `

Khứ thanh : dấu sắc

Nhập thanh : dấu mũ ngửa

Riêng về hai chữ nguyên âm O và U, chúng ta thấy có nhiều ký hiệu đặc biệt, kiểu như O, Ơ, Ô và U, Ư của Việt ngữ.

Bộ Âm vận kinh này sau năm năm đã tái bản tại Trung Hoa. Như vậy, đủ tỏ sự thành công và phổ cập của nó, ít ra trong các giáo đoàn và nhất là đoàn thể giáo sĩ thừa sai truyền đạo.

Xét về ảnh hưởng của những công cuộc phiên âm Hoa ngữ này đối với giáo sĩ Đắc Lộ, chúng tôi chưa dám quả quyết cách tích cực, song chúng tôi có thể nói: một sự nghiệp quan trọng cho việc truyền giáo tại Trung Hoa như việc phiên âm Hoa ngữ này không thể không gây ảnh hưởng và không thể không góp vào những công việc tương tự, tỉ như việc phiên âm Việt ngữ. Những giáo sĩ, trước khi sang Việt Nam, đã ở lại Ao Môn và đây là giao điểm gặp gỡ không những giữa các nhân vật, mà còn là nơi chung đúc các sáng kiến. Cho nên về vấn đề này, chúng tôi có thể kết luận như sau.

Nói chung, thì công việc thành lập chữ quốc ngữ đã nằm trong vị trí chung của thời đại do ý tưởng chung của một số người. Những người này gồm các giáo sĩ đi truyền đạo tại Nhật và Trung Hoa. Các ngài đã góp sức phiên âm các tiếng bổn xứ ngõ hầu xúc tiến việc truyền giáo một cách đắc lực hơn.

Riêng về Hoa ngữ phiên âm chúng tôi thấy có một bước tiến quyết liệt hơn, đó là việc sáng chế ra các ký hiệu để ghi các thanh. Tiếng Việt là một thứ tiếng có các thanh tương tự như tiếng Trung Hoa. Hơn nữa Việt ngữ có đến sáu thanh, chứ không phải năm thanh như trên chúng ta đã thấy. Bởi đó, một khi người ta đã tìm ra những dấu riêng biệt để chỉ các thanh, thì trong Việt ngữ sự thực hiện cũng sẽ không xa. Nói vậy, chúng ta không hề thấy một thứ “tự ti mặc cảm”, song là một sự thực lịch sử, và thực ra giữa hai dân tộc cũng như giữa hai văn hóa, vẫn có nhiều liên lạc mật thiết. Hơn nữa, ở đây, chúng tôi mới chỉ nhận thấy những sự kiện, còn về ảnh hưởng thì chúng tôi chưa quyết định.

Sau khi đã đặt vấn đề thành lập chữ quốc ngữ vào khung cảnh chung, vào vị trí của nó, chúng ta hãy rảo qua căn phòng triển lãm các hình thức thô sơ của chữ quốc ngữ để vừa thưởng thức những sáng kiến vừa nhận xét những biến chuyển từ những giai đoạn sơ khởi cho tới giai đoạn kể là hoàn thành. Khi chúng ta thấy một chiếc xe hơi nhãn hiệu Hoa Kỳ ngạo mạn lướt trên các đường phố Sài Gòn bên cạnh một chiếc xe hơi khác nhãn hiệu Pháp quốc song mã lạch bạch nhún mình cũng trên những con đường phố đó; chúng ta thầm khen kỹ thuật ngày nay! Song nếu chúng ta được biết lịch sử những xe hơi đó, hoặc lai lịch những xe tự động “automobile” nói chung, thì chúng ta sẽ thấy: để đi tới giai đoạn hiện tại tinh xảo, tiện nghi, lịch sự, đã phải trải qua thời kỳ phôi thai, thô sơ và thiếu sót. Chữ quốc ngữ cũng vậy, khi chúng ta đọc câu ca dao:

Đố ai quét sạch lá rừng

Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây;

Hoặc mấy câu Kiều:

Mai sau, dầu có bao giờ… Đốt lư hương ấy…

Hoặc khi con em chúng ta học vần quốc ngữ: bê a ba, bê a ba huyền bà, bê a ba sắc bá, bê a ba hỏi bả, bê a ba ngã bã, bê a ba nặng bạ, thì chúng ta đừng tưởng, thoạt kỳ thuỷ những vần chữ kia đã có đủ các ký hiệu để ghi âm thanh như vậy. Bởi vì đã có một thời kỳ, người ta chưa sáng chế ra năm dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, cũng như người ta chưa phân biệt nhiều âm vận khác nhau. Nhưng đấy là điều chúng tôi đem trình bày ở đây.

Các người ngoại quốc, và nhất là các giáo sĩ truyền giáo đặt chân đến nước ta vào cuối thế kỷ XVI và đầu thế kỷ XVII, các ngài đã phải dùng đến tự mẫu La tinh a b c để ghi chép các danh hiệu thuộc về nơi, về người của xứ ta. Để học tiếng nước ta các ngài cũng đã dùng chữ La tinh để ghi chép. Nhưng trong những buổi đầu, chỉ là công việc của cá nhân và để tiện dùng riêng cho cá nhân. Nếu là người Ý thì phiên âm theo tiếng Ý, là người Tây Ban Nha thì theo tiếng Tây Ban Nha, là người Bồ Đào Nha thì theo tiếng Bồ Đào Nha… Có thể nói là chưa có một tôn chỉ chung, chưa theo một đường lối thống nhất với những quy luật xác đáng.

Tài liệu cổ nhất mà chúng ta có thể kê cứu được, đó là mấy dòng chữ quốc ngữ cổ rải rác trong cuốn Tường trình về giáo khu miền Nam của giáo sĩ Christoforo Borri, người Ý, viết bằng tiếng Ý và xuất bản tại Ý năm 1631. 7

Trong tài liệu này, chúng ta nhận thấy mấy điểm sau:

1. Chưa có ký hiệu để ghi các thanh, nghĩa là chưa có năm dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng, tỉ như lụt thì viết “lut”, cỏ thì viết “co”.

2. Chưa có phân biệt a với ă, o với ô, u vơi ư, e với ê, tỉ như mặn thì viết “man”, muốn thì viết “muon”, nước thì viết là “nuoec”, biết thì viết là “biet”.8

3. Bởi viết ở miền Nam và giáo sĩ cũng lưu tại miền Nam, nên nhiều chữ có màu sắc địa phương rõ rệt, tỉ như nhân hay nhơn thì viết là “gnin”, tôi thì viết là “tui”…

4. Bởi vì Borri là người Ý, nên cách phiên âm có khuynh hướng ngã về tiếng Ý, do đó:

NH đã được viết là GN, tỉ như gnin thay vì nhin, gnoo thay vì nho; X đã được viết là SC, tỉ như scin thay vì xin; CH đã được viết là C, tỉ như ciam thay vì chăng.

Ngoài ra còn nhiều dị điểm chúng tôi không thể bàn giải cặn kẽ ở đây.

Một tài liệu thứ hai cho phép chúng ta biết về tình trạng chữ quốc ngữ trước 1651, đó là tài liệu viết tay vào năm 1645, nghĩa là sáu năm trước khi xuất bản những bộ sách của giáo sĩ Đắc Lộ.9

Theo văn kiện này, thì ngoài công thức “Tau rủa mâi nhân danh Cha và Con và Spirito Santo” còn có ghi nhiều câu tiếng Việt phiên âm tỉ như “blai có ba hồn bảy vía”, “Chúa blờij ba ngôy”, “nhin danh Cha…” Bằng vào những lối viết này, chúng ta nhận thấy rằng:

1. Trái với văn kiện chữ in của Christoforo Borri ở trên, cách phiên âm ở đây theo tiếng Bồ Đào Nha, chứ không theo tiếng Ý, tỉ như nhân viết với NH chứ không phải với GN.

2. Đã có các ký hiệu rõ rệt để ghi các thanh, chứ không như trong Borri: các dấu sắc, huyền, hỏi, nặng, được ghi rành mạch, những chữ ê, ô, ơ cũng vậy.

3. Một số âm khác tương tự như trong các tác phẩm sau này của giáo sĩ Đắc Lộ, tỉ như blờij (lời hay trời), ngôy (ngôi), tau (tao); đặc biệt chữ y cuối cùng lại thêm hai dấu chấm.. ở trên, như lấÿ (lấy), bảÿ (bảy).

Vậy dựa vào những tài liệu rất hiếm mà chúng tôi đã có thể kết luận về giai đoạn trước 1651 rằng:

a. Vào năm 1631 chữ quốc ngữ đem in tại Ý còn trong giai đoạn phôi thai, nghĩa là chưa có các dấu hiệu để ghi các thanh.

Sự kiện này không làm chúng tôi bỡ ngỡ, trái lại gần như một sự việc hiển nhiên, khi chúng ta so sánh với tình trạng chữ Trung Hoa phiên âm nguyên thuỷ: trong một thời gian, người ta chưa khám phá ra những ký hiệu để ghi các thanh, trừ trường hợp chưa kịp đúc các dấu, như chúng tôi dự đoán ở trên. Hơn nữa, cũng trong giai đoạn phôi thai này, chưa có quy luật nhất định, mỗi người theo phương pháp riêng của mình mà phiên âm, bởi đó nếu giáo sĩ Borri đã theo tiếng Ý mà phiên âm thì cũng rất có thể có những giáo sĩ khác phiên âm Việt ngữ theo tiếng mẹ đẻ của mình; tại Trung Hoa cũng đã xảy ra sự kiện đó: giáo sĩ Ricci đã phiên âm Hoa ngữ trước hết theo cách đọc của người Ý và chỉ sau này mới theo cách đọc của người Bồ Đào Nha.

b. Vào năm 1645, nếu thực ra văn kiện này được chép vào thời gian đó, chữ quốc ngữ đã kể là thành hình, tương tự như trong các tác phẩm của giáo sĩ Đắc Lộ năm 1651. Như thế có nghĩa là chữ quốc ngữ đã có các dấu để ghi các thanh, như trên chúng tôi đã trình bày. Hơn nữa, cách phiên âm ngã hẳn về cách đọc của tiếng Bồ Đào Nha. Sau cùng trong tài liệu này cũng đã có những âm mà chúng ta chưa gặp thấy trong Borri (1631) như ô, ê, ơ, á… Chữ Đ hẳn cũng đã có bởi vì văn kiện dùng chữ D trong giọng mềm như danh chẳng thì dĩ nhiên phải có một chữ khác, khác với D để chỉ Đ. Và đây chúng ta bước sang giai đoạn chính thức thành lập chữ quốc ngữ với giáo sĩ Đắc Lộ.

CHỮ QUỐC NGỮ: SỰ NGHIỆP RIÊNG CỦA GIÁO SĨ ĐẮC LỘ

Sau khi chúng ta đã đặt sự kiện thành lập chữ quốc ngữ vào khung cảnh chung của thời đại, sau khi đã chứng kiến một vài giai đoạn trong công cuộc đó, bây giờ chúng ta đề cập trực tiếp đến chính nhân vật đã có công hoàn tất chữ quốc ngữ: đó là giáo sĩ Đắc Lộ. Cũng như trong phần trên, chúng tôi sẽ nói đến sự sửa soạn xa và gần để rồi bàn giải về sự nghiệp văn hóa hay thành lập chữ quốc ngữ của giáo sĩ Đắc Lộ.

Sửa soạn xa

Đọc tiểu sử giáo sĩ Đắc Lộ, người ta có cảm tưởng này, là ngài hình như đã được ý chí quan phòng chỉ định để hoàn thành công cuộc phiên âm Việt ngữ. Quả vậy, người ta thấy ngài vừa hấp thụ được một nền học vấn nhân bản chắc chắn và rộng rãi, vừa có khiếu học các sinh ngữ, nhất là Việt ngữ.

Tháng 10 năm 1619, giáo sĩ trẻ tuổi Đắc Lộ đặt chân lên miền thuộc Ấn Độ. Lúc đó ngài thông thạo ba tử ngữ và ba sinh ngữ. Tạm gọi là ba tử ngữ, nhưng thực ra hãy nói là ba ngôn ngữ cổ: đó là tiếng Do Thái, tiếng Hy Lạp và tiếng La tinh. Nguyên trong chương nhất cuốn Văn phạm của ngài, khi bàn về các phép các âm vận, giáo sĩ Đắc Lộ đã so sánh tiếng Việt với tiếng Do Thái hai lần, với tiếng Hy Lạp mười một lần và với tiếng La tinh năm lần. Về sinh ngữ, giáo sĩ thông thạo tiếng Pháp, sau đến tiếng Ý là tiếng nói trong thủ đô Giáo hội La Mã và cuối cùng là tiếng Bồ Đào Nha, tiếng thông dụng trong toàn đế quốc thuộc Bồ Đào Nha. Bởi vậy cũng trong chương nhất cuốn Văn phạm Việt ngữ, ngài đã nhắc đến những ngôn ngữ đó, nhất là tiếng Bồ và tiếng Ý. Người ta nhận thấy rằng tuy tiếng Pháp có thể gọi là tiếng mẹ đẻ của ngài 10, song trong công cuộc truyền giáo ngài ít có dịp dùng tới: các văn từ, đơn khế thường được thảo hoặc bằng tiếng La tinh hay tiếng Ý, đa số bằng tiếng Bồ Đào Nha.

Sau những tiếng cổ kim Âu châu, chúng ta còn thấy ngài học các ngôn ngữ miền Á đông. Thật vậy, vừa cập bến Ấn Độ ở Goa, năm đó ngài bắt đầu học tiếng bổn xứ ngay. Theo ngài, thì trong ba tháng lưu tại đó, ngài đã nói được tiếng canarin, cách dễ dàng đến nỗi ngài có thể giảng dạy và giao thiệp với người bổn xứ.11

Khi ngài tới Áo Môn, giao điểm và trung tâm truyền giáo của các xứ miền Đông Nam Á châu, năm 1623, ngài bắt đầu tiếp xúc với thứ tiếng hay thứ chữ biểu ý và tượng hình là chữ Hán. Ban đầu, bởi ngài được chỉ định đi hoạt động tại Nhật Bổn, nên ngài đã bắt đầu học tiếng Nhật. Chúng ta lấy làm lạ thấy rằng trong các tác phẩm, ngài không hề nói đến những thứ chữ Hán hay chữ Nhật phiên âm. Ngài chỉ tỏ ra thất vọng trước những sự phiền phức của những từ ngữ đó. Theo ngài thì ngài không sao học được 80.000 chữ Nho, bởi vì mỗi chữ đều chỉ một sự vật hay một ý. Cho nên, ít ra phải chuyên môn học bốn hay năm năm mới trông có thể sử dụng được đôi chút.

Giáo sĩ Đắc Lộ tỏ ra như không thông thạo chữ Hán, chữ Nhật và chữ nôm điều đó sau này có lẽ chỉ đưa lại ích lợi cho chúng ta. Bởi lý do là ngài sẽ nỗ lực phiên âm để dễ bề học hỏi một thứ tiếng tương tự như chữ Hán, nếu không là phiền phức hơn, thứ chữ mà chúng ta gọi là chữ nôm, một thứ chữ vừa theo nguyên tắc tượng hình, vừa theo nguyên tắc phiên âm.12

Mặc dầu giáo sĩ có lẽ không viết được Hán tự, song ngài có thể tạm nói được tiếng Trung Hoa (và có lẽ cả tiếng Nhật). Tắt một lời, trong cuốn Văn phạm chúng tôi kể ở trên, ngài đã có lần so sánh các âm vận Nhật ngữ và Hoa ngữ với Việt ngữ.

Với tiếng Việt này, hình như ngài đã sinh ra để học nói và học viết. Quả vậy, khi ngài vừa bước xuống đất liền ở cửa Thuận Hóa, cảm tưởng đầu tiên của ngài đối với tiếng Việt, là một cảm tưởng đẹp đẽ. Ngài viết:

“Vừa tới miền Nam và nghe người bản xứ nói với nhau, nhất là phụ nữ, thì tôi tưởng như được nghe chim líu lo hót, đồng thời tôi tưởng không bao giờ có thể học được thứ tiếng đó”.13

Nói vậy, song ngài đã học được một cách nhanh chóng và dễ dàng. Sau bốn tháng trời chăm chú như chăm chú sôi kinh nấu sử khi xưa tại La Mã, ngài đã có thể giao thiệp với người bổn xứ, và sáu tháng sau ngài đã bắt đầu giảng dạy.

Trong việc học tiếng Việt này, ngài đã có một ông thầy và một gương mẫu, đó là giáo sĩ Francesco de Pina, người Bồ Đào Nha tới miền Nam từ mấy năm trước, một người rất thông thạo tiếng Việt mà giáo sĩ Đắc Lộ đã chịu sự dìu dắt cũng như sau này hằng ca tụng và tỏ ra biết ơn.

Sửa soạn gần

Khi nói đến việc học Việt ngữ của giáo sĩ Đắc Lộ, chúng ta đã đề cập tới chính đề tài. Song một công cuộc sửa soạn gần hơn nữa sẽ cho chúng ta hiểu và theo dõi việc thành lập chữ quốc ngữ.

Sau hai năm trời ở miền Nam, giáo sĩ đã được gọi lên miền Bắc để làm việc truyền giáo. Và đây là một giai đoạn quan trọng trong sự nghiệp tôn giáo và văn hóa của ngài. Thật vậy, tại đây, với những kiến thức và ngôn ngữ đã thâu lượm được, ngài xúc tiến mọi hoạt động. Về tôn giáo, có lẽ trong thời kỳ này đã thành hình sách Phép giảng tám ngày… Về mặt Việt ngữ phiên âm, ngài có dịp so sánh các giọng nói, nghĩa là ngài biết thêm cách phát âm của người xứ Bắc, để bổ túc cho những học hỏi tại miền Nam.

Trong thời kỳ này, giáo sĩ Đắc Lộ đã nhận được sự cộng tác của nhiều người Việt hay các thầy giảng. Những vị này thường chép lại bằng chữ nôm những lời giảng dạy hoặc các lời kinh ngài đọc cho. Cũng có mấy người tự mình hoặc thảo ra những bài thơ bình dân kể lại sự tích thánh hay giáo lý, hoặc làm thơ chỉ trích những thói hư nết xấu của người đời. Ngài cũng soạn một ít sách tôn giáo và cho đọc trong các giáo đoàn.

Cho tới năm 1630, nghĩa là chỉ sau ba năm ở đất Bắc, người ta thấy ngài trở về Ao Môn giữ chức giáo sư thần học. Đây cũng là giai đoạn may mắn cho ngài, bởi ngài được trút bỏ những nhiệm vụ truyền giáo để gần gũi với sách vở. Cho nên có thể nói được rằng trong mười năm trời tại đây (1630-1640), ngài đã có thời giờ để nghiên cứu thêm về chữ quốc ngữ hay Việt ngữ phiên âm mà ngài đã học hỏi và thực hành. Chúng tôi rất tiếc bởi không thể tìm thấy những bản viết tay để có thể quả quyết được một phần nào về thời gian sáng tác hay hoàn tất các tác phẩm bằng chữ quốc ngữ. Dẫu sao, theo lý luận, thì không thể đặt việc soạn các sách trên vào sau thời kỳ này.

GIÁO SĨ ĐẮC LỘ VỚI CHỮ QUỐC NGỮ

Cho tới đây, chúng tôi đã sửa soạn đường lối để đột nhập vào một đền đài lộng lẫy là chữ quốc ngữ đã được in thành sách năm 1651 có ký tên tác giả là giáo sĩ Đắc Lộ. Song, tới ngưỡng cửa lâu đài này, chúng tôi lại cảm thấy lưỡng lự chưa muốn vào. Tại sao có sự do dự này? Tất cả những sửa soạn xa gần trên kia chẳng phải là để tìm hiểu chính sự việc đó ư? Nhưng tại sao chúng tôi còn ngập ngừng?

Thật vậy, chúng tôi phải thú nhận rằng: việc khảo cứu tường tận công cuộc thành lập chữ quốc ngữ của giáo sĩ Đắc Lộ không phải là việc dễ. Cho tới nay, tuy đã có nhiều tác giả để tâm suy tầm, song mới chỉ đưa ra những kết luận nếu không quá vội vã thì cũng là quá tổng quát. Không phải chỉ đọc một vài trang của cuốn Phép giảng tám ngày… hoặc một vài tờ của cuốn Tự điển Việt-Bồ-La hay mấy dòng của cuốn Văn phạm mà đã có thể kết luận được. Cũng vậy, sau khi đã đọc kỹ toàn thể các tác phẩm của Đắc Lộ, nếu chưa có một vài bản văn in hay viết tay khác hoặc trước hoặc đồng thời, thì sự nhận xét về chữ quốc ngữ của giáo sĩ Đắc Lộ vị tất đã hoàn hảo. Bởi vậy trong khi chờ đợi một công cuộc đầy đủ và sâu rộng hơn, chúng tôi xin đưa ra mấy ý tưởng chủ chốt như sau:

Trước hết Phép giảng tám ngày là sách song ngữ, chia làm hai cột đối chiếu, một cột là tiếng La tinh, một cột là Việt phiên âm. Như phụ đề của sách, Phép giảng tám ngày là sách giáo lý đạo Giatô, một thứ sách tóm tắt những điều mà mỗi người phải học biết và tin theo để được chịu phép Thánh tẩy, hay nghi thức gia nhập đạo.

Sách tuy in lần đầu tiên tại Roma, sau năm 1651, song rất có thể nó đã được biên soạn hay khởi thảo từ những năm 1627-1629. Nhưng đây cũng chỉ là những ức thuyết. Chính tác giả cũng không cho ta biết them gì. Chỉ phỏng đoán rằng: trong khi giáo sĩ truyền giáo tại miền Nam hay xứ Bắc, hẳn ngài đã phải có một bản thảo viết tay hoặc bằng tiếng La tinh hoặc bằng thứ Việt ngữ phiên âm, hay cả hai.

Riêng về chữ quốc ngữ dùng trong sách này có nhiều sự khác biệt với chữ quốc ngữ của chúng ta ngày nay. Nhưng chúng tôi phải nói ngay rằng, ngoài một vài sự biệt dị nhỏ mọn, còn thì chúng ta phải cắt nghĩa những điểm dị biệt khác không phải chỉ có sự bất toàn hay lúng túng, nhưng hoặc bằng những cách phát âm khác nhau của một miền, một địa phương, hoặc bằng những lề lối cổ.

Đây là một điểm quan trọng chúng ta phải lưu ý nhất là khi phán đoán về những tác phẩm cổ như những sách quốc âm của Đắc Lộ. Vị này đã đặt chân trước hết lên trên đất Quảng Nam. Mà như chúng ta đã biết, giọng Quảng Nam là giọng đặc biệt, tỉ như người miền đó không đọc Quảng Nam, mà lại đọc là Quảng Nôm, ăn cơm thì đọc tương tự như eng côm. Một tỉ dụ khác chúng tôi đưa ra đây để dẫn chứng sự phát âm khác biệt của địa phương, và để giải trí đôi chút.

Tại vùng Quảng Nam, có một linh mục tới hoạt động truyền giáo. Linh mục này chắc chắn không thuộc về địa phương. Một hôm, có viên quý chức đến gặp linh mục để tỏ thịnh tình và hình như ước muốn tòng giáo, nhưng, theo lời viên chức đó, thì ông không thể nhập đạo được “bởi vì – nguyên văn ông nói – ông có nhiều bò”. Vị linh mục hết đỗi ngạc nhiên, bởi vì đạo không hề phân biệt giai cấp, địa vị, giàu nghèo, cho nên việc có nhiều bò không thể là một cản trở được: có nhiều bò như ông chỉ tỏ ra là ông thuộc vào bậc giàu có. Song sau khi nghe giải thích, linh mục mới hiểu: chữ bà ông đã đọc là chữ bò, bởi thế có nhiều bò, có nghĩa là có bà nhớn, bà nhỏ, bà hai, bà ba…

Cho nên, khi chúng ta thấy trong Phép giảng tám ngày có những chữ như:

Nhín, nhít, rứt (Bắc: nhân, nhất, rất; Nam: nhơn, nhứt, rất), hoặc – hăọc, nhăọc, bàng, mạt.. hoặc – bậy, bà bua, bợ… hay – blời (trời, lời, giời), blai (trai, lai, giai); hoặc – mlẽ (lẽ, nhẽ), mlớn (lớn, nhớn), mlời (lời, nhời); hoặc- tlước (trước), tlộm (trộm), tlâu (trâu)… Và nhiều âm giọng tương tự, thì một phần nào, chúng ta phải cho việc phiên âm không phải chỉ có sự do dự, thiếu sót, song còn do cách phát âm của địa phương đó, của thời đại đó.

Thực ra, những sự khác biệt này đã được đính chính hay bổ túc trong hai tác phẩm khác: Tự điển và Văn phạm, bởi vì trong cuốn Phép giảng tám ngày, tác giả như bó buộc chỉ được sử dụng một lối viết, trái lại trong Tự điển và Văn phạm, tác giả có thể ghi nhiều cách phát âm khác nhau, như chúng ta sẽ thấy sau.

Quả vậy, trong Tự điển của Đắc Lộ khi mở vào trang có chữ ngọc thì tác giả nói: hãy coi chữ ngăọc, mở chữ thóc, tác giả nói: hãy coi chữ thăóc… Cũng vậy, nhiều âm ê trong đếy, ếy, đết… đã được đổi thành đấy, ấy, đất…

Riêng về âm ghép BL, trong blời, blai, blả thì vẫn còn y nguyên. Trái lại ML đã được đổi thành L hay NH như mlạt (nhạt), mlẽ (nhẽ), mlỡ (lỡ) mlầm (nhầm, lầm)… Âm ghép TL cũng được đính chính hay bổ túc và được viết là TR (Tự điển, từ cột 801 đến cột 839), nghĩa là trên gần 40 cột, người ta đã thấy TL thành TR như ngày nay.

Như vậy, ức thuyết của chúng tôi, khi nói rằng Đắc Lộ đã ghi các âm vận Việt ngữ theo một địa phương, hoặc theo một thời đại, là một ức thuyết có căn bản. Căn bản này, chúng tôi sẽ khai thác trong tác phẩm thứ ba của Đắc Lộ, đó là quyển Văn phạm Việt ngữ cũng của giáo sĩ Đắc Lộ.

Quả vậy, trong chương nhất, khi nói về âm vận Việt ngữ theo mẫu tự La tinh, tác giả đã hơn một lần bàn đến sự phát âm khác nhau tuỳ địa phương của một vài từ ngữ. Như trong mục nói về chữ L, ngài viết:

“Người Bắc còn đọc chữ L dính liền với mấy phụ âm khác nhau nhu BLẢ (giả hay trả hay lả); lại có một vài miền hay làng đọc chữ T thay vì chữ B như TLẢ (trả hay lả hay giả); người ta còn thêm vào sau M như MLẼ (lẽ); đôi khi song kể là hiếm, sau P như PLĂN (lăn), kẻ khác chỉ đọc có LĂN mà không thêm P; trường hợp gặp nhiều hơn cả đó là thêm T vào L như TLẢ (giả, trả, lả), TLE (tre)”.14

Như vậy, việc phiên âm của giáo sĩ Đắc Lộ không phải ở trong giai đoạn ngập ngừng, nhưng chính là do sự cẩn thận và khảo sát tường tận của một học giả. Cũng vậy, khi bàn về chữ R, ngài viết:

“R còn dùng dính sau chữ T, song trong trường hợp này R không còn phải là R nữa, song đọc chung với T một cách khác, đầu lưỡi dính vào khẩu cái làm một chút tiếng, như TRẢ; người ta hay lẫn TR với TL”.15

Với hai thí dụ trên đây, chúng ta không thể chối bỏ sự hiểu biết rành mạch của tác giả, mặc dầu trong quyển Phép giảng ngài đã buộc lòng phải chọn một giải pháp độc nhất vì thực dụng.

Vậy ngoài sự hiểu biết và ghi nhận tường tận những cách phát âm khác nhau của nhiều địa phương, mà chúng tôi vừa trình bày, để phán đoán về sự nghiệp văn hóa của Đắc Lộ trong việc thành lập chữ quốc ngữ, chúng ta còn phải chú trọng đến mấy điểm sau này.

Thứ nhất, cũng trong chương nhất quyển Văn phạm, chúng ta biết thêm rằng: trong khi làm công cuộc ghi chép các âm vận Việt ngữ, nhiều lần tác giả theo lề lối đã thông dụng trong các sách. Thật vậy, khi bàn về chữ F và chữ PH, sau khi đã nói lên lý do chọn PH thay vì F, tác giả thêm một lẽ nữa đó là sự thông dụng trong các văn thư. Ngài viết:

“Ở trong tự điển, chúng tôi không dùng chữ F mà sẽ chỉ dùng chữ PH, vì các sách đã chép đều quen dùng như vậy”. 16

Một lần nữa, khi giáo sĩ Đắc Lộ đề cập tới chữ G và khi nói riêng về những vần ghép GIA, GIU, GIƠ, GIƯ đọc như tiếng Ý (theo ngài thôi, thực ra không thể đọc như tiếng Ý được), ngài viết:

“In libris jam scriptis ita usu invaluit… Như thế vừa tiện lợi hơn vừa hợp với thói quen đã dùng trong các sách”.

Mà các sách đây là gì? Nếu không là những bản chép tay như mấy văn kiện hiếm hoi đã thất lạc, hoặc chúng tôi đã phân tích ở trên, hay bộ tự điển Việt –Bồ của Gaspar d’Amaral và Bồ-Việt của Antonio Barbosa hiện nay không còn, song Đắc Lộ đã nhắc tới trong bài tựa của bộ Việt-Bồ-La?

Nhưng thực ra giáo sĩ không phải chỉ bảo tồn những thói quen đã có, như trên chúng ta đã thấy, ngài còn sửa chữa những tập quán không thiết yếu trong việc phiên âm Việt ngữ.

Thật vậy, cũng trong chương nhất quyển Văn phạm khi ngài bàn giải về chữ I, ngài chủ trương bỏ hẳn ký hiệu hai chấm đặt trên chữ I, tỉ như mầy thì viết là mầð, lấy thì viết là lấÿ, cũng như khi nói về chữ U và riêng khi nói về chữ ghép ÂU, AO, ngài đề nghị bỏ ký hiệu hai chậm đặt trên U hay O, như thói quen vẫn có. Lý do ngài đưa ra đó là để tránh sự phiền phức về các dấu đã khá phức tạp trong Việt ngữ phiên âm, và cũng là các cách làm rối công việc.

“ad vitandam signorum multiplicitatem… Ne multiplicentur signa quae pariant confusionem”.

Điểm này phù hợp với một văn kiện mà chúng tôi đã đề cập tới ở trên, khi phân tích và học hỏi về công thức Việt ngữ phiên âm vào năm 1645, trong văn kiện ấy, người ta thấy viết hai câu này với dấu hai chấm trên chữ U, chữ I và chữ Y.

“Tẵ rửa mầð… Tẵ lấÿ tên…”

Trong một bản viết tay khác vào thời kỳ này, gồm có một bên là chữ nôm, một bên là chữ quốc ngữ, người ta thấy viết chữ vậy với I hhai chấm vậĩ.17

Ông Hoàng Xuân Hãn cũng đã phát giác một tài liệu viết tay năm 1659, trong đó “âm Y đứng sau chữ âm khác hầu hết đổi sang ð, ví dụ vậy thì viết vậð…”18

Điểm sau cùng chúng tôi muốn đem bàn giải ở đây là một điểm bao quát tất cả công cuộc nghiên cứu chữ quốc âm: giáo sĩ đã biết tận dụng hết các lợi khí có trong nhiều thứ tiếng cổ cũng như kim tại Âu châu, chứ không phải riêng một thứ chữ độc quyền nào.

Thật vậy, khi đọc kỹ quyển Văn phạm của giáo sĩ Đắc Lộ, người ta thấy tác giả, trong khi nghiên cứu âm vận Việt ngữ, đã không bị ám ảnh bởi một hình ảnh độc tôn nào. Với tinh thần phổ quát, với sự hiểu biết nhiều ngôn ngữ cổ kim, có thể nói ngài là con người quốc tế. Như trên, chúng tôi đã nói ngài biết tiếng Do Thái, tiếng Hy Lạp, tiếng La tinh, ngài còn biết tiếng Pháp, tiếng Ý và tiếng Bồ Đào Nha. Bởi thế, với ý chí đi tìm sự thật và sự ích lợi cho người Việt Nam, ngài đã đem tất cả những kiến thức về các ngôn ngữ ấy để tìm ra cách ghi âm vận cho tường tận, xác đáng, tỉ như:

Q thì đọc như tiếng La tinh trong QUA hay QUI.

X thì đọc như tiếng Bồ, hoặc như Sc của tiếng Ý.

R không đọc cuồn cuộn như tiếng Bồ, song đơn như tiếng Ý.

PH đọc như chữ PHI trong tiếng Hy Lạp.

U đọc như tiếng La tinh.

B đọc như chữ Bêta Hy Lạp, nhất là như chữ Beth Do Thái.

NG đọc như Ngaðn của tiếng Do Thái…

Dấu sắc, huyền, ngã lấy trong dấu sắc, huyền, ngã Hy Lạp, dấu nặng lấy ở chữ iota dưới, còn dấu hỏi thì lấy ở chấm hỏi La tinh. Riêng về Pháp ngữ chúng tôi không thấy tác giả đề cập tới một cách tỏ tường, mà thực ra, âm vận Việt ngữ thích hợp với âm vận La ngữ và mấy tiếng trực thuộc La ngữ như Ý, Bồ hơn là Pháp, trừ trường hợp chúng tôi đã trích ở trên về chữ sang.

Bởi thế, theo thiển ý chúng tôi, thì đây là một trong lý do chính làm cho công cuộc phiên âm của giáo sĩ Đắc Lộ19 đạt tới kết quả và là kết quả bền bỉ, bất chấp cả thời gian. Tác giả không trói buộc mình vào một hệ thống nào riêng biệt, một ngôn ngữ nào độc tôn, trái lại căn cứ vào cách phát âm đặc biệt của Việt ngữ, ngài đã tìm trong hết các ngôn ngữ mà ngài được biết ngõ hầu ghi cho xác đáng. Nếu tiếng này không phù hợp thì ngài dùng đến tiếng kia, nếu âm vận ngôn ngữ này xem ra phiền toái, thì ngài không ngần ngại cầu cứu đến ngôn ngữ khác, mặc dầu ngôn ngữ ấy không phải ngôn ngữ riêng của ngài, tiếng mẹ đẻ của ngài. Quả thật, con người quốc tế, tinh thần quốc tế của ngài đã giúp ngài rất nhiều và vì thế công cuộc đã thành tựu và như trên chúng tôi đã nói, sẽ thành tựu lâu bền.

Để kết luận, trước hết chúng tôi phải thú thực rằng việc nghiên cứu về chữ quốc ngữ trong các tác phẩm của giáo sĩ Đắc Lộ mới còn trong thời kỳ phôi thai. Tuy nhiên, chúng ta cũng đã nhận ra mấy điểm chủ chốt sẽ quy hướng mọi công cuộc tìm tòi sau này, và đó cũng là điều cho chúng ta xem thấy rõ những thiếu sót hay sai lầm thường gặp trong mấy sách giáo khoa hoặc khảo cứu vội vàng về chữ quốc ngữ của giáo sĩ Đắc Lộ. Vậy căn cứ vào những tài liệu viết tay cũng như sách in kể ở trên, chúng ta có thể biết về việc thành lập chữ quốc ngữ những chi tiết sau đây:

1. Sự thành hình Việt ngữ phiên âm đã nằm trong một tình trạng chung, đó là chí hướng phiên âm các tiếng tượng hình tại Á châu vào thế kỷ XVI-XVII. Thực ra, người ta đã thấy công cuộc ấy được thực hiện trong Nhật ngữ và Hoa ngữ. Riêng về Hoa ngữ phiên âm, trước chúng ta gần nửa thế kỷ, người ta đã sáng chế ra các ký hiệu để ghi các thanh.

2. Không kể công cuộc dùng mẫu tự La tinh để phiên âm những tiếng kể trên, trước giáo sĩ Đắc Lộ, tại Việt Nam đã có những ướm thử, những dò dẫm, những việc sơ khởi phiêm âm Việt ngữ, như chúng ta đã thấy những tài liệu vào năm 1631, 1645 và như hai tác phẩm của hai giáo sĩ người Bồ nay nguyên bản đã thất lạc, song giáo sĩ Đắc Lộ đã sử dụng để soạn quyển Tự điển Việt-Bồ-La của ngài.

3. Tuy nhiên, với niên hiệu 1651, niên hiệu phát hành cùng một bận ba quyển: Phép giảng tám ngày, Tự điển Việt-Bồ-La và Văn phạm Việt ngữ, giáo sĩ Đắc Lộ đã tỏ ra không những là người đã dấn mình theo trào lưu chung. Ông đã đạt tới đích, nhờ vào năng khiếu đặc biệt của ông trong vấn đề hiểu biết các sinh ngữ cũng như từ ngữ, và nhờ vào tinh thần có thể nói là của một công dân quốc tế của ông, nhờ vào trí óc không lệ thuộc vào một hệ thống từ ngữ nào của ông, nghĩa là không bắt Việt ngữ lệ thuộc vào một khuôn khổ ngôn ngữ nào, song khai thác hết khả năng của những từ ngữ khác, nhất là bằng vào trực giác sâu sắc nhất của ông về các âm thanh không những chung cho cả nước, song riêng cho từng miền, từng địa phương.

Bởi đó, trừ một vài điểm nhỏ mọn mà tôi không kịp đem trình bày trong bài này, việc phiên âm của giáo sĩ Đắc Lộ kể là đầy đủ và cặn kẽ. Những lối viết cách phát âm dị biệt mà chúng ta thấy trong Phép giảng tám ngày một phần lớn có thể được giải thích theo cách đọc của địa phương hoặc của thời đại: thực ra một số đã được tu chỉnh hay bổ túc trong tự điển và đã hơn một lần được biện bạch rõ ràng trong quyển Văn phạm Việt ngữ như chúng tôi đã trình bày trên đây. Điều này không có gì lạ; bởi vì ngày nay, trong nhiều miền, vẫn còn tồn tại những cách đọc khác nhau, phương chi Việt ngữ cách chúng ta hơn ba trăm năm nay? Những chỗ thiếu sót, những khuyết điểm trong chữ quốc ngữ của giáo sĩ chỉ là nhỏ bé. Ngoài ra, xét cho xác đàng, công cuộc phiên âm của ông kể khá đầy đủ hoàn toàn Việt Nam theo nhu cầu khoa học, lại thích hợp và giản dị. Bởi đó, chúng tôi có thể tin cậy vào sự trường tồn của nó, bất chấp thời gian và những biến chuyển mà người ta muốn tạo nên.

Chú thích

(1) Ch.B.Maybon, Histoire moderne du pays d’Annam, Paris, 1919 tr.36

(2) Dương Quảng Hàm, Việt Nam Văn học sử yếu, Hà nội, 1950 tr.183

(3) Đào Duy Anh, Việt Nam văn hóa sử cương, Sài gòn, 1951 tr.270

(4) Lê Thành Khôi, Le Vietnam, Histoire et Civilisation, Paris 1955, tr.292.

(5) H.Bernard, Pour la compréhension de l’Indochine et de l’Occident, Paris, 1950, tr.19.

(6) P.Huard et P.Durand, Connaissance du Vietnam, Paris, 1954 tr.52.

(7) Christoforo Borri, Relatione della nuova missione… al Regno della Cocincina, Romae, 1631.

(8) Thực ra cũng có thể lập luận rằng vào thời này đã có các dấu và ký hiệu, nhưng khi đem in tại Âu châu, người ta không sẵn có các dấu đó.

(9) Theo bài của Thanh Lãng, Những chặng đường của chữ viết quốc ngữ, trong Đại học số 19, tháng 2, năm 1651, tr.6-30, thì văn kiện này hoặc đã được sao lại, hoặc viết vào 1654. Tuy nhiên có thể coi là tài liệu 1645.

(10) Trong văn phảm Việt ngữ, khi đề cập tới NG cuối, tác giả đã trưng một câu tiếng Pháp “le sang est beau”, tr.4.

(11) Xem, A.De.Rhodes, Divers Voyages et Missions… Lille, 1854 tr.29.

(12) Xem Hoàng Xuân Hãn, Girolamo Majorica… trong Archivum Historicum Societatis Iesu, XXII, 1953, tr.206.

(13) A.De.Rhodes, Divers Voyages et Missions… tr.73, Hoàng Xuân Hãn, Girolamo Majorica… trong Archivum Historicum Societatis Iesu, XXII, 1953, tr.203-214.

(14) Xem Thanh Lãng, Biểu nhất lãm văn học cận đại, Sài gòn, 1959, tr.30.

(15) Thanh Lãng, Biểu nhất lãm… tr.32

(16) ibid, tr.27

(17) Archivum Historicum Societatis Iesu, Jap.Sin.S, f.78v

(18) Hoàng Xuân Hãn, Một vài văn kiện bằng quốc âm tàng trữ ở Âu châu, trong Đại học số 10, 1959, tr.110.

(19) Hoặc của tất cả lớp người đi trước Đắc Lộ, song tất cả đã được kết thành một hệ thống in thành sách lần đầu tiên ký tên Đắc Lộ là tác giả.

www.dunglac.net - Mạng Lưới Dũng Lạc, góp tư liệu xây nhà Văn Hóa Công Giáo
Nguyễn Khắc Xuyên 
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------

Quốc ngữ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bài này nói về hệ thống chữ viết trong tiếng Việt. Quốc ngữ còn có nghĩa là ngôn ngữ chính thức
Chữ Quốc Ngữ (Nôm:��國語), viết tắt là Quốc Ngữ, là hệ thống chữ viết chính thức hiện nay của tiếng Việt. Hệ thống này được xây dựng dựa trên chữ cái Latinh (cụ thể là trực tiếp từ chữ cái Bồ Đào Nha) thêm các chữ ghép và 9 dấu phụ — 4 dấu tạo ra các âm mới, và năm dấu còn lại dành cho thể hiện thanh điệu của từ. Hai loại dấu phụ có thể được viết cùng trên một chữ cái nguyên âm.

Bảng chữ cái

Bảng chữ cái tiếng Việt có 29 chữ cái, theo thứ tự:
A Ă Â B C D Đ E Ê G H I K L M N O Ô Ơ P Q R S T U Ư V X Y
a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y
Ngoài ra, có 9 chữ ghép đôi và 1 chữ ghép ba.
CH GH GI KH NG NGH NH PH TH TR
Trước đây, các chữ ghép này được coi như một chữ cái độc lập và có thể được tìm thấy trong từ điển cũ. Ngày nay chúng không được coi là chữ cái độc lập mà là chữ ghép; ví dụ trong việc xếp thứ tự, "CH" nằm giữa "CA" và "CO" trong các từ điển hiện đại.
Các chữ cái "F", "J", "W" và "Z" không có trong bảng chữ cái tiếng Việt, nhưng có thể bắt gặp trong các từ vay mượn từ tiếng nước ngoài. "W" thỉnh thoảng được dùng trong viết tắt thay "Ư".

[sửa] Nguyên âm

Ngoài các nguyên âm đơn, trong tiếng Việt còn có nguyên âm đôinguyên âm ba.
Có mối liên hệ phức tạp giữa nguyên âm và cách phát âm của chúng. Một nguyên âm có thể biểu thị cho vài cách phát âm khác nhau, tùy theo nó nằm trong nguyên âm đơn, đôi hay ba; và nhiều khi các cách viết nguyên âm khác nhau tượng trưng cho cùng một cách phát âm.
Ví dụ yi có thể dùng thay cho nhau trong nhiều trường hợp. Đã có quyết định của Bộ Giáo dục Việt Nam vào năm 1984, quy định dùng i thay cho y. Quy chuẩn này không áp dụng cho các nguyên âm đôi và nguyên âm ba, cũng như ngoại trừ tên riêng; nhưng vẫn có hạn chế trong việc thực thi trong cuộc sống. Trường hợp các từ có phụ âm đầu là qu, sử dụng vần y thì sẽ đúng hơn.
Bảng sau cho biết các cách phát âm có thể tương ứng với từng cách viết nguyên âm:
Cách viết Phát âm Cách viết Phát âm
a  /ɐː/, /ɐ/, /ɜ/ o  /ɔ/, /ɐw/, /w/
ă  /ɐ/ ô  /o/, /ɜw/, /ɜ/
â  /ɜ/ ơ  /əː/, /ɜ/
e  /ɛ/ u  /u/, /w/
ê  /e/, /ɜ/ ư  /ɨ/
i  /i/, /j/ y  /i/, /j/
Bảng sau cho biết các cách viết có thể tương ứng với từng cách phát âm nguyên âm đơn:
Nguyên âm đơn
/i/
  • thông thường i: /si/ = .
  • thỉnh thoảng y: /mi/ = Mỹ.
  • luôn là y nếu
    1. bắt đầu một chữ Hán Việt: /iɜw/ = yêu .
  • (Chú ý là cả iy đều cũng có thể dùng biểu thị cho /j/.)
/e/
  • ê
/ɛ/
  • e
/ɨ/
  • ư
/əː/
  • ơ
/ɜ/
  • /ɜ/
/ɐː/
  • a
/ɐ/
/u/
  • u
/o/
  • ô
/ɔ/
  • o
 
Bảng sau cho biết các cách viết có thể tương ứng với từng cách phát âm nguyên âm đôi và ba:
Nguyên âm đôi & ba
Phát âm Cách viết Phát âm Cách viết
Nguyên âm đôi
/uj/ ui /iw/ iu
/oj/ ôi /ew/ êu
/ɔj/ oi /ɛw/ eo
/əːj/ ơi /əːw/ ơu
/ɜj/ ây, ê /ɜw/ âu, ô
/ɐːj/ ai /ɐːw/ ao
/ɐj/ ay, a /ɐw/ au, o
/ɨj/ ưi /ɨw/ ưu
/iɜ/ ia, ya, iê, yê /uɜ/ ua, uơ
/ɨɜ/ ưa, ươ    
Nguyên âm ba
/iɜw/ iêu, yêu /uɜj/ uôi
/ɨɜj/ ươi /ɨɜw/ ươu
/iɜ/
  • ia nếu không có phụ âm nằm sau /miɜ/ = mía
  • nếu có phụ âm nằm sau /miɜŋ/ = miếng
  • thay i bằng y tại đầu từ hoặc sau môt chữ cái nguyên âm:
    • ya: /xwiɜ/ = khuya
    • : /xwiɜn/ = khuyên; /iɜn/ = yên
/uɜ/
  • ua nếu không có phụ âm nằm sau /muɜ/ = mua
  • nếu có phụ âm nằm sau /muɜn/ = muôn
/ɨɜ/
  • ưa nếu không có phụ âm nằm sau /mɨɜ/ = mưa
  • ươ nếu có phụ âm nằm sau /mɨɜŋ/ = mương
 

[sửa] Phụ âm

Chữ ghép "GH" và "NGH" được dùng thay "G" và "NG" ngay trước "I", để tránh nhầm lẫn với chữ ghép "GI". Vì lý do lịch sử, chúng cũng được dùng trước "E" và "Ê".
Đa số các phụ âm được dùng giống như trong nhiều ngôn ngữ dùng chữ cái latinh khác, với các ngoại lệ:
  • "CH" là âm vòm tắc vô thanh [c] hay âm tắc sát [ʧ].
  • "Đ" đọc giống "D" như trong nhiều ngôn ngữ, nhưng có thể có thêm âm tắc cổ họng vô thanh ngay trước hoặc cùng lúc phát âm phụ âm này.
  • "D" và "GI" đọc giống [z] theo giọng Bắc, và giống [j] theo giọng Nam.
  • "V" đọc giống [v] theo giọng Bắc, và giống [j] theo giọng Nam.
  • "KH" là âm vòm mềm sát vô thanh [x].
  • "NG" là âm vòm mềm mũi [ŋ].
  • "NH" khi đứng đầu chữ là âm vòm mũi [ɲ], khi đứng cuối chữ thì mang hai giá trị khác nhau ở hai miền (Bắc: [ŋ], Nam: [n]).
  • "PH" đọc giống /f/.
  • "TH" là âm hơi [tʰ].
  • "TR" là âm đầu lưỡi vòm cứng theo giọng Nam và đọc giống "CH" theo giọng Bắc.

[sửa] Cấu trúc

Một đơn vị từ tiếng Việt chỉ chứa một âm tiết. Mỗi đơn vị từ chứa nhiều nhất là ba phần:
  1. Phụ âm đầu (có thể không có)
  2. Nguyên âm cùng thanh điệu (luôn có)
  3. Phụ âm cuối (có thể không có; chỉ có thể là một trong c, ch, m, n, ng, nh, p, t).

[sửa] Thanh điệu

Tiếng Việtngôn ngữ thanh điệu, nghĩa là nghĩa của một từ phụ thuộc vào thanh điệu của từ đó. Có sáu thanh điệu; trong đó thanh ngang không ghi dấu phụ, còn các thanh khác có dấu phụ ghi tại nguyên âm.
...



Gài độ