30/06/2010

Nghĩ về nhạc "sến" & ca khúc Sài Gòn trước năm 1975

Nhạc "sến" là nhạc gì?


 
"Nhạc sến": Ai nghe và vì sao gọi là sến?

Có lẽ trong đời bạn đã hơn một lần "bị" người khác bình phẩm: Sao mà "sến" quá đi! Khi bạn chỉ vừa mới hát một câu, thốt dăm ba tiếng hoặc ngay cả bộ đồ bạn đang mặc, bức tranh bạn vẽ, món quà bạn chọn... cũng có thể bị coi là "sến". "Sến" quả là muôn hình vạn trạng, nhưng nếu cắc cớ hỏi lại: "Sến" là gì ? thì e rằng người vừa bình phẩm cũng... ngắc ngứ vì không thể giải thích một cách thỏa đáng. Ở phạm vi chuyên đề này, chúng tôi chỉ xin lạm bàn về "nhạc sến" - một thực thể luôn hiện hữu trong dòng chảy âm nhạc mấy chục năm qua...

Tản mạn về nhạc sến
Chưa có một quy định "chuẩn" nào để phân biệt bản nhạc này thuộc loại "sến", bản kia không "sến" nhưng không biết do đâu mà hầu như tất cả các bản nhạc được sáng tác trước 1975 - nhất là những bản có điệu boléro, rumba, ballade... đều bị quy là nhạc sến (tiếng "sến" được hiểu theo nghĩa dè bỉu, mỉa mai, khinh thị...). Vậy thì "sến" là gì?

Theo ý kiến của nhiều lão làng trong giới ca nhạc thì "sến" do chữ sen (trong từ con sen: người giúp việc nhà) đọc trại mà ra. Trước 1954, chỉ có ở miền Bắc mới gọi "ô sin" là con sen, trong Nam gọi là "ở đợ". "Sến" thường là những cô gái quê con nhà nghèo, ít học phải ra tỉnh ở đợ, vì vậy trình độ hiểu biết cũng không cao. Do thường giúp việc cho chủ Tây hoặc trong các gia đình theo Tây học nên các cô được các nhà văn, nhà báo có óc hài hước thêm cho cái tên "Marie" phía trước để trở thành Mari-Sến. Sau 1954, "Mari-Sến" vào Nam. Dạo đó, nước máy chưa được đưa tới từng nhà, chiều chiều các Mari- Sến lại tụ tập quanh cái máy nước (fontaine) để hứng nước gánh về nhà, từ đó lại đẻ thêm cái tên "Mari-Phông ten". Trong khi đứng chờ đầy gánh nước, các cô thường vui miệng hát với nhau những câu đại loại như: "Anh ơi nếu mộng không thành thì sao? Non cao, biển rộng biết đâu mà tìm…" (Duyên kiếp - Lam Phương) hoặc: "Chiều nay có phải anh ra miền Trung, về thăm quê mẹ cho em về cùng..." (Quen nhau trên đường về - Thăng Long). Thế là thành... nhạc sến! Một sự hình thành quá đỗi "mơ hồ" nên cũng khó mà định nghĩa. Thôi thì, hễ loại nhạc nào mà các chị gánh nước mướn, các anh đạp xích lô, thợ thuyền (gọi chung là giới bình dân) khoái hát thì... đó là “nhạc sến”!

Hãy tạm bằng lòng "nhạc sến" là như vậy, nhưng sẽ thật sai lầm khi quan niệm "nhạc sến" với hàm ý khinh thị, chê bai bởi trong dòng nhạc bình dân này có rất nhiều tuyệt tác mà chưa chắc các nhạc sĩ dòng nhạc "hàn lâm" đã sáng tác được, như: Khúc ca ngày mùa (Lam Phương), Hoài thu (Văn Trí), Xóm đêm (Phạm Đình Chương), Ai lên xứ hoa đào (Hoàng Nguyên), Nắng chiều (Lê Trọng Nguyễn), Đường xưa lối cũ (Hoàng Thi Thơ), Nửa đêm ngoài phố (Trúc Phương), Thương hoài ngàn năm (Phạm Mạnh Cương), Nắng lên xóm nghèo (Phạm Thế Mỹ)...

"Tạm bằng lòng" như đã nói ở trên nhưng cũng còn có khá nhiều người "không bằng lòng chút nào" - họ là những người làm ra bài hát (nhạc sĩ) và những người hát (không cứ gì phải là ca sĩ). Nhạc sĩ sừng sộ: "Nhạc của tui được rộng rãi quần chúng hát. Lên non, xuống biển, len lỏi vào tận hang cùng ngõ hẹp, sức "công phá" như... sóng thần! Thử hỏi "nhạc hàn lâm" đã có sức hấp dẫn như thế chưa? Mục đích của âm nhạc là tạo được sự đồng cảm ở mọi tâm hồn, nhạc của tui đã đạt được điều đó và còn... hơn thế nữa! Thế thì sao lại gọi là “nhạc sến” ?". Người hát thì cải chính: "Sến thế nào được. Đó là loại nhạc dễ nghe, dễ hát và nhất là hợp với tâm trạng (tùy thời điểm) của tôi. Thế là tôi thích, tôi hát hoài: "Tôi với nàng (cóc cóc cóc cóc) hai đứa (cóc cóc cóc cóc) nguyện yêu nhau (cóc cóc cóc cóc). Tha thiết từ đây (cọc cọc cọc cọc) cho đến (cọc cọc cọc cọc) ngày bạc đầu (cọc cọc cọc cọc)...”.

Xem ra, cuộc tranh luận về "nhạc sến" chưa chắc đã dừng lại ở đây !

Hà Đình Nguyên


Nhạc sĩ Vinh Sử: "Sến" là do những người bày đặt... "chảnh"

* Anh có… tự hào khi được "phong" là "Vua nhạc sến" không? Và theo anh "nhạc sến" là gì?

NS Vinh Sử - ẢNh: Đào Ngọc Thạch
- Thú thật, cho đến bây giờ tôi cũng không biết ai đã "phong... vua" cho tôi, và "phong" từ bao giờ. Tự hào à? Biết nói thế nào nhỉ, nhưng rõ ràng chữ "vua" là... hơi bị hiếm! Đã là vua là... trên tất cả (cười). Còn về từ "sến", tôi không thể phân tích. Với tôi, không hề có “nhạc sến” mà chỉ có nhạc hay và nhạc dở mà thôi (đương nhiên nhạc hay mới có giá trị). Nếu từ "nhạc sến" là dùng để chỉ dòng nhạc dành cho giới bình dân thì tôi chịu lắm và tôi rất tự hào khi được rộng rãi quần chúng hát nhạc của mình.

* Nhưng nhạc của anh cũng phải "có cái gì đó" người ta mới "chỉ mặt, đặt tên" rằng… "sến" chứ ?

- Trước 1975, giới làm nhạc rất dễ kiếm tiền. Tiền tác quyền một bản nhạc có khi mua được chiếc xe hơi, nhạc sĩ lại được "đặt hàng" tới tấp, do vậy mới nảy sinh ra loại "nhạc thị trường". Giai đoạn này tôi cũng có sáng tác các ca khúc như: Nhẫn cỏ cho em, Yêu người chung vách, Trả nhẫn kim cương... Có thể từ loại nhạc này mà người ta gọi là "nhạc sến" cũng nên. Sau 1975, "e" nhạc của tôi có tính chất dân gian, mang âm hưởng cổ nhạc (3 Nam, 6 Bắc), chẳng hạn các nhạc phẩm: Tình ngoại, Bằng lòng đi em, Để tóc nàng ngủ yên, Qua ngõ nhà em, Làm dâu xứ lạ, Nhành cây trứng cá... Cái đẹp của quê hương mình sao mình lại không ngợi ca, tôn vinh mà lại dè bỉu là... "sến" ! Tôi nghĩ trừ những người bày đặt "chảnh", còn thì bất cứ ai có tinh thần dân tộc đều yêu mến dòng nhạc trữ tình quê hương.

* Và anh vẫn trung thành với khuynh hướng sáng tác nhạc bình dân đại chúng ?

- Tại sao không? Đó là "e" nhạc sở trường của tôi và tôi vẫn trung thành với khuynh hướng sáng tác đó cho đến bây giờ. Công chúng bình dân đón nhận nhạc của tôi một cách nhiệt tình thì tôi cũng phải có nhiệm vụ viết nhạc phục vụ giới bình dân. Tôi đã từng nói: "Bao giờ nước mình giàu, không còn người đạp xích lô, thợ hồ, ô sin... lúc đó tôi sẽ viết... nhạc sang" (cười). Mà nhạc của tôi cũng "phát triển" ra tận Hà Nội lận đó. Vừa rồi tôi ra ngoài đó, được anh em tiếp đón nhiệt tình lắm. À, còn chuyện này nữa, ca khúc Phượng Sài Gòn của tôi được Đài Truyền hình TP.HCM trả tác quyền đến... 9 triệu! Vậy thì hà cớ gì lại phải "chuyển tông" trong sáng tác.

Trần Công Bảo Anh (26 tuổi, ở đường Trần Văn Đang, P.9, Q.3 - TP.HCM): "Tôi đặc biệt yêu thích dòng nhạc trước 1975 (mà trong đó có rất nhiều bài hát bị cho là "sến") vì đó là những bản nhạc có hồn, đầy ý nghĩa và tâm trạng. Từ đó, tôi nảy ra ý tưởng sưu tầm loại nhạc này. Hiện nay bộ sưu tập của tôi đã có 1.776 bản nhạc tờ và khoảng mấy chục tuyển tập (tất cả đều được in trước 1975). Nhưng tôi không phải là trường hợp cá biệt mà hiện nay đang rộ lên phong trào sưu tầm nhạc cũ của nhiều bạn trẻ như tôi".

Đạo diễn Trần Ngọc Phong: "Tôi là người rất thích hát nhạc bình dân đại chúng (thực ra boléro cũng là một loại nhạc sang). Một nhóm bạn hữu ngồi nhậu bên vỉa hè, chuyền tay nhau ly rượu có cây đàn guitar, hát nhạc boléro thì thật là... tới bến! Đó là một dòng nhạc đầy tính tự sự, cám cảnh về thân phận, về cái nghèo và cả chuyện... thất tình! Theo tôi, không có bài hát nào là "sến" cả mà chỉ có cách thể hiện tâm trạng nếu nó "lâm ly, bi thiết" thì người ta cho là "sến". Thí dụ bài Đời tôi cô đơn, nếu được hát một cách nghiêm chỉnh thì rất dễ lay động hồn người nhưng nếu rên rỉ, èo uột thì... sến là cái chắc!".

H.Đ.N (thực hiện)


Huyền Nga (thực hiện)

Sến là gì? Tại sao? Như thế nào?

Giáo sư Ngôn ngữ học Cao Xuân Hạo: "Theo tôi, gốc của từ "sến" phải bắt đầu từ chữ "sen" trong nghĩa con sen, là đứa ở, con ở. Xuất phát của từ này ở miền Bắc, thời kỳ Pháp thuộc vào những năm 1930 - 1945; có thể xem là thời của Lý Toét và Xã Xệ, của văn chương Tự Lực Văn Đoàn. Từ "sen" đọc trại thành "sến" bởi sự khinh bỉ, là tầng lớp thấp, văn hóa kém. Còn nếu ứng dụng vào văn chương, nghệ thuật thì ám chỉ khẩu vị thấp hèn, ít có giá trị. Bàn riêng về chữ "sến" trong "nhạc sến", tôi nghĩ nghĩa gốc cũng vậy, không thay đổi nhiều lắm".

Dịch giả Nhật Chiêu : "Tôi nghĩ nhạc sến là một bộ phận cơ bản trong đời sống âm nhạc dành cho đối tượng thưởng thức bình dân, không thể thiếu. Không chỉ VN mà rất nhiều nước đều có loại hình giải trí dành riêng cho đối tượng đông đảo này. Trong rất nhiều "tình huống" cuộc sống, tình cờ "lạc vào" tôi lại thấy nhiều ca từ của nhạc sến rất có lý (!). Sự thật là chưa có ai buồn nghe nhạc sến mà chết cả nhưng đã có nhiều trường hợp thưởng thức "văn hóa" cao cấp lại tự tử ví dụ như trường hợp tác phẩm Những nỗi đau của chàng Goet-thơ của Gớt. Nói vui, theo tôi, nghe nhạc sến cũng như mặc áo chim cò, không hại ai".

Họa sĩ Trịnh Cung : "Trong tranh vẫn có "sến” chứ! Ví dụ như tranh của họa sĩ Lê Trung trước đây. Ông thường vẽ phụ nữ ngực tròn, mặc áo bà ba đội khăn hoặc nón rất Sài Gòn. Nói chung là bình dân. Nhưng chân dung các nhà văn như Hồ Biểu Chánh, bà Tùng Long... của ông thì vẫn đầy cá tính. Nhiều người nhớ ! “Nhạc sến” thường tập trung vào điệu boléro. Theo tôi, ngoài tính mòn, đơn điệu, boléro có ưu điểm là rất thích hợp với giọng nam của các ca sĩ Sài Gòn. Các nhạc sĩ như Lam Phương, Hồ Đình Phương, Thanh Sơn... là những cái tên được biết đến từ “nhạc sến”. Nói không quá, “nhạc sến” rất đặc trưng cho đời sống thị dân”.

Đông Dương (ghi)


Ca sĩ nói gì về “nhạc sến” ?

Ca sĩ Hương Lan: Âm nhạc có nhiều dòng khác nhau: nhạc dân ca, nhạc trữ tình..., nhưng không có dòng nhạc sến. Tôi không biết những người hay dùng từ sến để chê một bài nào đó, họ có hiểu "sến" là gì hay không; hay cái gì không thích thì đều cho là "sến". Cũng như từ "cải lương" vậy, đó là một loại hình nghệ thuật, sao mọi người có thể tùy tiện sử dụng mỗi khi muốn chê cái gì đó (sao sến quá, sao cải lương quá). Tôi xem đó là sự chọc ghẹo, coi thường và nhục mạ rất tệ hại, nếu không nói là vô văn hóa. Nhưng đó là khán giả chê. Đáng buồn hơn, ngay cả người trong giới cũng nói như vậy. Các em dù có nổi tiếng đến đâu, hát nhạc sang thế nào thì cũng đừng nên coi thường các loại nhạc khác .

Ca sĩ Ngọc Sơn: Đáng ngạc nhiên là nhạc trẻ, nhạc pop hiện đại đôi khi cũng bị người nghe "liệt" vào hàng “sến” (vì họ không thích). “Sến” là hình thức áp đặt, và những người nói từ này thường hiểu “sến” là nhà quê, là nghèo; chẳng lẽ nhà quê hay nghèo là có tội, là bị chê? Có "quê" thì mới phân biệt được với "tỉnh" chứ! Mà tôi cũng coi mình và âm nhạc của mình là sến đấy, hay nếu ai có nói tôi sến, tôi càng thích; vì tôi luôn đứng về phía người dân lao động nghèo - họ cũng thường bị gọi là sến khi hay nghe loại nhạc tình cảm ướt át, và tôi luôn bảo vệ loại nhạc đó.

Ca sĩ Thùy Trang: Người ta hay dùng từ "sến" khi nói đến những ca khúc trữ tình ủy mị. Nhưng lời của nhiều bài nhạc trẻ bây giờ nghe còn... (nếu được nói) sến hơn dòng nhạc tôi đang hát. Nhiều người vẫn cho rằng nhạc trẻ mang tính thị trường, nhưng thực tế chỉ tồn tại một thời gian nào đó; còn nhạc quê hương, trữ tình, mà bị gọi là sến, thì vẫn sống mãi đó thôi. Âm nhạc như một món ăn tinh thần, mà 9 người 10 ý, làm sao chiều hết được! Cho đến giờ này, tôi vẫn rất tự tin khi hát loại nhạc mà tôi đã chọn.

Ca sĩ Quang Dũng: Tôi không hề phân biệt sang - sến, quan trọng là ca sĩ hát như thế nào để lay động được cảm xúc của người nghe. Có những bài bị cho là sến nhưng tôi vẫn chọn để hát lại (như bài Thành phố mưa bay của ca sĩ Tuấn Vũ), theo cách của mình, và vẫn được đón nhận. Mà nhạc bị quy vào sến vẫn có chỗ đứng trong lòng khán giả suốt mấy chục năm nay. Chị Hương Lan là một thần tượng của tôi, và tôi thường nghe những bài nhạc quê hương trữ tình của chị.

N.Vân (ghi)


Sến mà không sến, không sến mà sến

Sang hay sến ?



Nhà thơ Đỗ Trung Quân (bìa trái) trong một chương trình ca nhạc - ảnh: C.T.V
"Nói chú đừng giận, bài Phượng hồng phổ thơ của chú sến chảy nước", chàng trai 20 tuổi tóc tai kiểu hip-hop nói thẳng thừng. Tôi, người viết xem chừng đề tài hấp dẫn nên cũng đề nghị thẳng thừng theo kiểu "những nốt nhạc vui": "Mời bạn nói". Và tôi đã lắng nghe. Ra là thế ! Thế hệ trẻ 8X hôm nay không thể tin nổi, không thể chấp nhận nổi có một gã nào đó trạc tuổi mình suốt một năm dài ngồi cạnh bàn, học cùng lớp để ý cô bạn gái mà vẫn cứ: "bài thơ còn trong cặp... giữa giờ chơi mang đến lại mang về...". Nhát gái đến thế, "yếu" đến thế thì "sến" là cái chắc. Bây giờ, chỉ cần một cú nhắn tin chớp nhoáng là alê hấp! Ra cà phê hộp ngồi ngay. Yêu à? Tỏ tình à? Đây, nhanh gọn lẹ: "Anh là number one, vừa đẹp trai lại vừa dễ thương...". Không yêu nữa cũng chẳng sao: "thà như thế, thà rằng như thế...", "không yêu hết tình còn nghĩa...". Đỡ lôi thôi, đỡ mất thì giờ, khỏi mang tiếng "sến".

Vậy là rõ! Chỉ mới 2 thập niên thôi, Phượng hồng của Vũ Hoàng từng làm thổn thức bao nhiêu thế hệ nay đã trung niên. Hóa ra vụ "nhát gái" có vô khối người giống như gã nhà thơ họ Đỗ. Người bạn U60 của tôi gầm lên: "Nó dám nói thế à? Âm nhạc của tụi nó nghe tai này lọt qua tai kia, có ai nhớ nổi một câu không chứ?...". Tôi can rằng đừng nổi nóng, thế hệ khác nhau là tất yếu. Cũng nên lắng nghe ý kiến khác với mình chứ. Nhạc sĩ Vũ Hoàng có buồn không? Tôi thì không, tôi cần nghe ý kiến của những 8X hôm nay.

Sến hay sang ?

Vậy, các bạn trẻ. Tôi tạm tiếp nhận những ca khúc sôi động, tưng bừng hôm nay của các bạn là sang nhé. Tôi chỉ kể một câu chuyện cũ, chuyện của một người đã từng có thời tuổi trẻ.

Thuở ấy, tôi nghe Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Ngô Thụy Miên... tôi cũng đã từng cười vào những bài hát boléro: "Mưa ướt lạnh trong đêm... Đứng bên thềm ga vắng… hắt hiu ngọn đèn vàng em tiễn anh…". Tôi từng bĩu môi: "Gác lạnh về khuya cơn gió lùa… trăng gầy nghiêng bóng cài song thưa… nhớ ai mà ánh đèn hiu hắt… gác trọ buồn đơn côi, phố nhỏ vắng thêm một người…" và tất nhiên sẽ lắc đầu khi nghe: "đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn…", "anh nghèo nên không nhẫn kim cương, tặng em nhẫn cỏ bình thường…". Và thêm nữa, một ca khúc không sang dù chưa chắc sến: "Lòng mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào... tình mẹ êm ái như đồng lúa chiều rì rào… lời ru man mác êm như sáo diều rì rào… tiếng ru êm đềm mẹ hiền năm tháng triền miên…" vân vân và vân vân... - những ca khúc lời lẽ không ẩn dụ tượng trưng, không triết học cao siêu chỉ được xếp vào loại bình dân hay gọi là sến cũng được.

Ta hãy thử làm một sự sắp xếp nho nhỏ: đặt những ca từ sến ấy bên cạnh những ca từ được gọi là sang.

Quả thật, thế giới trong thời đại ta đang sống đã trở nên nhỏ hẹp, đời sống sôi động, nhịp sống nhanh, tiện nghi, phương tiện vật chất nhiều. Cách sống, cách nghĩ cũng đã khác thì âm nhạc chẳng cần phải cứ là boléro, thành ngữ chỉ nhạc sến mới là sến. Ngay đến: "Trả lại em yêu khung trời đại học...", "Em tan trường về… anh theo Ngọ về... chân anh nặng nề, lòng anh nức nở…", rồi: "Gửi gió cho mây ngàn bay… gửi bướm đa tình về hoa…" và "Đêm qua mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ" trong cách suy nghĩ nhanh gọn lẹ, hiệu quả hoặc không hiệu quả của số đông nhạc sĩ trẻ, một bộ phận người nghe trẻ thì hôm nay, những Phạm Duy, Nguyễn Văn Tý, Đoàn Chuẩn - Từ Linh,... đều thành sến tất tần tật chứ còn gì nữa.

Bao nhiêu thập niên trôi qua, người ta thường quan niệm sến là dùng cho bình dân, là nông thôn, là ngoại ô đèn vàng hiu hắt... Thật vậy không? Đúng thế không? Người viết không dám kết luận, chỉ thấy rằng có vô khối người "con nhà giàu học giỏi" hẳn hoi, có bằng cấp hẳn hoi, ở ngay giữa lòng thành phố rực sáng hẳn hoi, cứ bật karaoke lên là nhạc sến đấy thôi! Mà "sến" không chừng đã trở thành "sang" mất rồi. Ai dám bảo chỉ dành cho người bình dân nữa nào.

Đỗ Trung Quân

Việt Báo (Theo_Thanh_Nien)



Nguyenvantuan.net:
 
Bàn về nhạc sến
Tập tin:TranThienThanh.jpgTôi không phải là fan của nhạc sến, nhưng thỉnh thoảng vẫn nghe nhạc sến. Thật ra, tôi thấy rất khó phân biệt đâu là nhạc sến, và đâu là nhạc sang, bởi vì lằn ranh quá mong manh, nhất là trong bối cảnh âm nhạc Việt Nam. Hôm nay thấy trên báo Sức khỏe và Đời sống, cơ quan ngôn luận của Bộ Y tế, có bài “Nhạc sến biến dị” của Vương Tâm bàn về nhạc sến thời trước 1975 ở trong Nam. Chúng ta phải ngạc nhiên một tờ báo y tế của Bộ Y tế lại quan tâm đến … nhạc sến! Cũng là một bài báo lạ.

Nhưng trước hết, chúng ta cần phải biết “sến” là gì và nhạc sến là loại nhạc nào? Trong bài viết, tác giả không trả lời hai câu hỏi đó. Thay vào đó, tôi để ý đến đoạn như “Riêng dòng nhạc Sến, những điệu thức Bolero, Ballade... gắn với nội dung lời ca bi lụy, thất tình, đau khổ về số phận trớ trêu của kiếp nghèo, tập trung vào những chia ly và mất mát trong tình yêu. Lời hát não nề, than vãn cầu mong được bù đắp. Nhạc thì được phát triển giàu chất tự sự lê thê, buồn bã khai thác âm hưởng cổ nhạc theo hướng yếm thế, ru ngủ lòng người tạo nên cảm giác chán chường bế tắc.”
Tôi thấy một đoạn văn ngắn này có nhiều vấn đề cần phải xem xét lại. Trước hết, tôi không hiểu “điệu thức” là gì. Còn nhạc thì làm sao giàu chất tự sự được? Có lẽ tác giả muốn nói đến ca từ giàu chất tự sự chăng?
Điều làm tôi ngạc nhiên là tác giả cho rằng nhạc sến khai thác cổ nhạc! Nên nhớ rằng cổ nhạc như vọng cổ viết theo điệu ngũ cung (hò, xự, xang, xê, cống -- tương đương với ngũ hành là kim, mộc, thủy, thổ, hỏa), không phải như loại “tân nhạc” với thể điệu boléro có 7 nốt (do, re, mi, fa, sol, la, si). Mấy năm sau này tôi thấy có nhạc sĩ (như Minh Vy chẳng hạn) có công soạn tân nhạc nhưng mang âm điệu ngũ cung (như ca khúc Vọng cổ buồn chẳng hạn), và theo tôi đó là một nỗ lực rất đáng khen và khuyến khích.
Còn tác giả viết nhạc sến là những bài có điệu boléro, ballade, … chính là lấy từ chữ của một bài viết trên Thanh niên vào năm 2005. Trong bài báo trên tờ Thanh niên, tác giả Hà Đình Nguyên viết: “Chưa có một quy định "chuẩn" nào để phân biệt bản nhạc này thuộc loại "sến", bản kia không "sến" nhưng không biết do đâu mà hầu như tất cả các bản nhạc được sáng tác trước 1975 - nhất là những bản có điệu boléro, rumba, ballade... đều bị quy là nhạc sến (tiếng "sến" được hiểu theo nghĩa dè bỉu, mỉa mai, khinh thị...).”
Nếu những cho rằng chia li và mất mát trong tình yêu là “sến”, thì tôi không biết tác giả có xem nhật kí của Bác sĩ Đặng Thùy Trâm là sến không? Tôi e rằng định nghĩa “sến” của tác giả chưa ổn mấy. Thật vậy, nếu định nghĩa theo nội dung (như đau khổ về số phận, trớ trêu của kiếp nghèo, những chia ly và mất mát trong tình yêu) thì tôi nghĩ một số bài “nhạc đỏ” cũng có thể xem là … sến, vì cũng có những chia li, nhưng trắc trở trong tình yêu, thân phận trong những bài “nhạc cách mạng”.
Điều làm tôi cực kì ngạc nhiên là tác giả liệt kê ca khúc Giết người trong mộng của nhạc sĩ Phạm Duy vào hàng nhạc sến! Không hiểu tác giả bài viết có biết qua hay có nghe qua ca khúc này chưa mà nói đó là một bài nhạc sến. Xin nói cho tác giả biết rằng ca khúc này thật ra là Phạm Duy phổ từ thơ của Hàn Mặc Tử đấy. Trong bài Hành khất, thi sĩ Hàn Mặc Tử viết:
Làm sao giết được người trong mộng
Để trả thù duyên kiếp phụ phàng ?

và nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy lấy hai câu này để viết thành một ca khúc rất hay theo nhịp 4/4. Bài đó rất thịnh hành thời trước 1975. Tôi chưa nghe ai nhận xét rằng đó là một bài nhạc sến cả.
Tưởng cần nhắc lại rằng trước đây cũng có một ông nhạc sĩ trong nước (là con của cụ Nguyễn Xiển) viết rằng ca khúc Mùa thu chết của Phạm Duy là xuyên tạc cách mạng tháng 8! Chưa hết, ông nhạc sĩ này còn viết rằng Phạm Duy từng là bộ trưởng văn hóa thời Nguyễn Văn Thiệu! Đúng là “hết ý”. Hình như mấy ông viết mà không chịu tìm hiểu hay làm nghiên cứu về chủ đề mình viết.
Đến đây thì chúng ta cần phải đặt câu hỏi “sến” là gì? Giáo sư Cao Xuân Hạo giải thích nguồn gốc chữ sến như sau: "Theo tôi, gốc của từ ‘sến’ phải bắt đầu từ chữ ‘sen’ trong nghĩa con sen, là đứa ở, con ở. [...] Từ ‘sen’ đọc trại thành ‘sến’ bởi sự khinh bỉ, là tầng lớp thấp, văn hóa kém. Còn nếu ứng dụng vào văn chương, nghệ thuật thì ám chỉ khẩu vị thấp hèn, ít có giá trị. Bàn riêng về chữ ‘sến’ trong ‘nhạc sến’, tôi nghĩ nghĩa gốc cũng vậy, không thay đổi nhiều lắm". Có thể xem thêm bài của Hoàng Phủ Ngọc Phan để biết thêm “câu chuyện”.
Báo Thanh Niên viết tiếp: "[…] Thôi thì, hễ loại nhạc nào mà các chị gánh nước mướn, các anh đạp xích lô, thợ thuyền (gọi chung là giới bình dân) khoái hát thì... đó là “nhạc sến”! Thật vậy, chúng ta chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh nào để phân định rạch ròi giữa nhạc sến và nhạc sang. Trước năm 1975, người ta ngầm hiểu với nhau rằng “nhạc sến” chỉ những ca khúc “bình dân”, với điệu nhạc như vừa nói trên (boléro, rhumba, ballade, có khi cả slow), lời nhạc đơn giản đi thẳng vào những câu chuyện tình cảm éo le, tình nhân xa nhau (em thì ở “hậu phương”, còn anh ra “tiền tuyến”), hay chuyện cha mẹ không đồng ý cho cưới vì anh nghèo mà em thì giàu sang, v.v…
Theo tôi, nhạc sến có 3 đặc điểm chính như sau: nhạc điệu đơn giản, cách hát thì sướt mướt, và lời giản dị. Đặc điểm thứ nhất thì quá rõ ràng, vì phần lớn những bài ca mà người ta cho là sến thường dễ chơi. Chỉ cần một cây guitar là đủ. Còn âm điệu thì chỉ cần một hợp âm cũng đủ, hay nhiều lắm là 3 hợp âm. Thử so sánh bài Người yêu cô đơn với bài Áo anh sứt chỉ đường tà thì thấy bài nào dễ chơi hơn!
Đặc điểm thứ 2 là cách hát thường ngọt ngào, sướt mướt, và đau khổ. Không có cách diễn này thì không phải là nhạc sến. Nghe Chế Linh, Thanh Tuyền, Phương Dung, Hoàng Oanh, Thanh Thúy, v.v… thì sẽ thấy đặc tính này. Riêng Thanh Thúy mà ca nhạc của Trúc Phương thì ôi thôi nói mùi mẩn làm sao (và sến nữa)!
Đặc điểm thứ 3 có lẽ là “lợi hại” nhất là lời ca đơn giản, đi đẳng vào vấn đề. Nhạc sến không có những câu triết lí cao siêu, mà toàn là những câu chữ ngay cả anh tài xế xích lô và chị bán hàng cá có thể hiểu được:
Tại anh đó nên duyên mình dở dang
em nào mộng mơ quyền quý cao sang
hay

Một hôm tôi đên tìm em

để từ giã lên đường
Gửi lại phố phường

chuyện đôi mình thương mai xa cách ngàn phương
Cuộc đời sương gió,

chiến chinh nơi miền xa qua những vùng xa lạ quá
Quê hương bao la,

những chiều đóng quân ven rừng,
gặp hoa trắng ngày xưa thương em nói sao cho vừa
(bài Người em xóm đạo)
Làm sao bảo anh xích lô và chị bán bún mắm hiểu được nhưng câu như sau:
Ta thấy em trong tiền kiếp với mặt trời lẻ loi
hay
Ôm lòng đêm nhìn vầng trăng mới về
nhớ chân giang hồ
Ôi phù du

từng tuổi xuân đã già
một ngày kia đến bờ
đời người như gió qua


hay
Từ giã hoàng hôn trong mắt em
tôi đi tìm những phố không đèn
Thật ra, có mấy người gọi là (hay tự xưng là) “trí thức” hiểu được những câu trên? Tôi nghĩ không nhiều đâu. Có thể họ nghĩ rằng họ hiểu, nhưng trong thực tế thì họ không hiểu. Có phải viết ra những câu chữ làm người ta phải vò đầu bức tóc để suy nghĩ nó có nghĩa là gì là sang chăng? Tôi nghi ngờ lắm.
Người ta tưởng rằng phải dùng từ ngữ của Tây, của Tàu thì mới sang, còn nói thẳng như người Nam bộ là … sến. Đã có quá nhiều người nói những danh từ sang, những thuật ngữ khoa học, nhưng nếu hỏi thật thì có bao nhiêu người nói những thuật ngữ đó hiểu họ nói cái gì hay hiểu thuật ngữ đó có nghĩa là gì. Kinh nghiệm của tôi cho thấy con số hiểu không nhiều đâu. Nói đến đây tôi nhớ đến ngày xưa khi học toán, thầy cứ giảng “tuyến tính” và chúng tôi cứ cấm đầu cấm cổ nói “tuyến tính” mà chẳng hiểu nguồn gốc của thuật ngữ này. Đến khi sang đây, sách tiếng Anh viết rõ ràng là straightline (đường thẳng). Ôi, dễ hiểu làm sao! Đường thẳng thì nói huỵch tẹt ra là đường thẳng, mắc mớ gì mà nói tuyến tính để làm đau đầu học trò? Đọc sách Kinh Dịch của người Việt dịch tôi chẳng hiểu gì, nhưng đọc sách dịch của người Tây phương dịch thì rất dễ hiểu. Nhạc sến có ca từ đơn giản đi thẳng vào vấn đề, và theo tôi xu hướng đó không có gì là có hại cả. Vậy thì xin đừng trách sến nhé!
Trong bài báo trên Sức khỏe và Đời sống, tác giả nói đến ảnh hưởng tiêu cực của nhạc sến như sau: “Những nỗi đau yếm thế, cô đơn và than vãn trong nghèo túng là màu sắc điển hình cho dòng nhạc Sến đã làm ảnh hưởng tới tâm lý người nghe và làm thui chột những khát vọng lớn lao và hướng tới tương lai.” Nhưng rất tiếc tôi không thấy tác giả trưng bày bằng chứng cho câu phát biểu này. Theo tôi thì nhạc sến cũng có công làm giàu ngôn ngữ Việt đó chứ. Xin dẫn chứng một vài bài:
Con đường xưa em đi
vàng lên mái tóc thề
ngõ hồn dâng tái tê
anh làm thơ vu qui
khách qua đường lắng nghe
chuyện tình ta đã ghi

(bài Con đường xưa em đi)
hay
chiều nào nâng li bôi
tình vừa mới chấp nối
chia li mà không nói nhau một lời
để rồi bao năm sau
phong sương mòn vai áo
nhớ cố nhân muốn tìm tạ lòng nhau
(bài Chuyện đêm mưa)

cũng có những ca từ trữ tình ra phết đó chứ.
Đọan này của tác giả làm tôi sợ nhất: “Các nhà quản lý văn hóa của ta rất cân nhắc trong việc cấp phép cho các ca khúc này được phổ biến ở Việt Nam. Nhưng đây là chỉ cấm đối với các ca sĩ trong nước chứ các chương trình lậu ở hải ngoại hàng ngày vẫn được đưa về.” Nghe cứ như là thời bao cấp. Câu phát biểu còn hàm ý kiểm soát và quản lí tư tưởng văn nghệ của người dân. Nếu tư tưởng là tự do hoạt động cao quí nhất của con người thì khống chế và kiểm soát tư tưởng là một hành động bỉ ổi nhất, bởi vì hành động đó làm cho người ta trở thành nô lệ (do nô lệ là người mất tự do tư tưởng). Có lẽ tác giả nghĩ rằng phải kiểm soát định hướng sáng tác, cơ quan tuyên truyền bảo phải thích hoặc ghét cuốn sách nào, khúc nhạc nào, phim nào, thì người dân sẽ thích hoặc ghét những sách đó, khúc nhạc đó, phim đó. Tôi nghĩ rằng đây là một suy nghĩ sai. Trong thực tế, chúng ta thấy sau 1975, nhiều ca khúc sáng tác trước 1975 ở miền Nam bị cấm lưu hành, nhưng trong xã hội thì những ca khúc này vẫn sống và sống mạnh, thậm chí còn lan tràn ra tận ngoài Bắc. Thử vào các quán karaoke thì biết ngay. Theo tôi, không nên tìm cách pha trộn văn chương với tuyên truyền, hay biến nghệ thuật thành chính trị được. Ngày xưa, Mạnh Tử từng nói “quân chi thị thần như thổ giới, tắc thần thị quân như khấu thù” (Vua mà coi bề tôi như cỏ rác thì bề tôi coi vua như khấu thù). Bây giờ mình không có vua với thần dân, nhưng có mấy “ông văn hóa” và người dân, và tôi nghĩ câu nói vẫn còn tính thời sự của nó.
NVT

Hôm trước tôi cũng có đọc bài của tác giả Nguyễn Thụy Kha viết về những ca khúc trước 1975 ở miền Nam, và cũng thấy tác giả có vẻ hời hợt khi nhận xét về một nền tân nhạc mà tôi nghĩ là khá phong phú. Nhưng trách như thế chắc cũng không công bằng, bởi vì làm sao nhận xét cho đến nơi đến chốn bằng một bài viết ngắn. Dù gì đi nữa, tôi vẫn thấy thú vị khi đọc ý kiến của một người “miền ngoài” nhận xét về nhạc ở miền Nam.

Hôm nay, đọc thấy bài của bác Lê Quốc Trinh phàn nàn tác giả Thụy Kha đã chính trị hóa vấn đề (tôi hiểu vậy đúng không bác Trinh?) và không công bằng với nền tân nhạc miền Nam. Tôi cũng đồng ý với nhận xét của bác Trinh về sự không công bằng, nhưng tôi không chắc là tác giả Thụy Kha chính trị hóa vấn đề.

Các nhạc sĩ miền Bắc thường nhận xét rằng nhạc miền Nam “sến” và thiếu tính hàn lâm. Hình như bác Tô Hải có lần cũng nhận xét như thế. Thì đúng là có sến thật (điều này thì chẳng ai tranh cãi), nhưng tôi nghĩ nhạc sến cũng đáp ứng nhu cầu của đa số người dân lúc đó. Thử hỏi một chị bán bún riêu bên đường hay anh đạp xích lô mà nghe “Trên hai vai ta đôi vầng nhật nguyệt” thì chắc chẳng “phê” bằng nghe câu “Ước gì nhà mình chung vách, hai đứa mình thức trắng đêm nay.” :-)

Là người lớn lên dưới chế độ “Mĩ Ngụy” :-) và có thời ở lại sau 1975, tôi có nhận xét như thế này: nhạc thời trước 1975, tuy có yếu tố tuyên truyền, nhưng mang tính nhân bản hơn, phong phú hơn, và hấp dẫn hơn là nhạc miền Bắc. Cũng là “Tình ca”, nhưng tôi sao mê bài của Phạm Duy hơn là bài của Hoàng Việt. Nghe nhạc của Phó Đức Phương cũng thích lắm, nhưng tôi vẫn không bỏ được và thấy không mê hoặc bằng nhạc của Phạm Duy, Trịnh Công Sơn, Từ Công Phụng, Cung Tiến, v.v… Cho đến bây giờ, dù nền tân nhạc đó đã bị khai tử 35 năm, nhưng những ca khúc ra đời trong thời chiến đó vẫn còn sống trong người dân. Trong khi đó, những ca khúc “hùng tráng” với màu đỏ hình như rất ít ai ca, ngoại trừ trong những lúc họp đoàn thể hay chi bộ. Nếu lấy sự sống của ca khúc làm một thước đo về giá trị “vị nhân sinh”, tôi nghĩ sự tồn tại của những ca khúc thời trước 1975 là một minh chứng cho yếu tố nhân bản.

NVT

Ghi thêm ngày 12/5/2010: một bạn đọc gửi cho một đường link đến bài viết về nhạc lính thời trước 1975 ở đây: http://damau.org/archives/12005. Tôi chưa đọc hết, nhưng chỉ lướt qua thì thấy bài viết công phu hơn nhiều so với bài của tác giả Nguyễn Thụy Kha. Thành thật cám ơn bạn Tam Ho.

===

http://danluan.org/node/4953

Nghĩ gì về ca khúc Sài Gòn trước năm 1975
Lê Quốc Trinh
Tôi là một Việt kiều xa quê hương hơn 40 năm trời, nhưng trong tâm tư không bao giờ quên những hình ảnh quê nhà, nhất là những giai điệu tân nhạc mà tôi hằng ấp ủ say mê hồi còn ở miền Nam, trước năm 1975. Nhân đọc bài "Góc nhìn chiến tranh trong ca khúc SG trước 1975" của tác giả Nguyễn Thuỵ Kha đăng trên Tuần Việt Nam (21-04-2010), tôi cảm thấy tình cảm quê hương bị gián tiếp xúc phạm nặng nề, do đó cần thấy phải viết lên vài hàng góp ý với tác giả.
Trước hết xin nói rõ tôi chỉ là một kỹ sư quèn, say mê tân nhạc Việt Nam, kiến thức âm nhạc không dồi dào, nhưng cũng tạm đủ để trao đổi, tôi xin các nhạc sĩ yêu mến thời VNCH (những người quá cố và những người còn sống hiện nay trong nước và hải ngoại) cho phép tôi "múa rìu qua mắt thợ" một lần.

Đọc lướt qua bài "Góc nhìn chiến tranh trong ca khúc SG trước 1975" tôi có cảm tưởng tác giả Nguyễn Thuỵ Kha cố tình diễn giải vấn đề dưới một cái nhìn chính trị chủ quan một chiều rất dễ bị độc giả thuộc giới am tường người ta đánh giá là thô thiển. Mở đầu là một câu phân biệt thể chế chính trị hai miền: "Sau hiệp định Geneve 20/07/1954, ...Ở miền Bắc là Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà. Ở miền Nam là chính quyền Việt Nam Cộng Hoà". Cách phân biệt này cho thấy ngay tính chất giả dối của chính sách "hoà hợp hoà giải dân tộc" như thế nào trên một website của Nhà Nước.

Có lẽ đứng trên quan điểm một "giải phóng quân" mà tác giả đã phân định tình hình "âm nhạc chiến tranh" ở miền Nam thành ba giai đoạn trước 1975, như sau:

- Giai đoạn thứ nhất, từ 20/07/1954 đến 20/12/1960: Ngày thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam;

- Giai đoạn thứ hai, từ 20/12/1960 đến 1965: Khi Mỹ đổ quân ồ ạt vào các vùng chiến thuật;

- Giai đoạn thứ ba, từ 1965 đến 30/04/1975: Ngày thống nhất đất nước;
Hãy tiếp tục đọc để xem tình hình âm nhạc miền Nam phát triển ra sao theo nhịp độ "giải phóng đất nước".

Giai đoạn thứ nhất (20/07/1954 đến 20/12/1960):

Tác giả kể tên một số nhạc sĩ có tên tuổi ở miền Nam, sống và sáng tác dưới chính thể VNCH như: Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng, Chung Quân ...hay các nhạc sĩ tham gia quân đội như Lam Phương, Anh Việt, Văn Phụng, Nguyễn Văn Đông ...nhưng tuyệt nhiên không nghe tác giả nhắc gì về những nhạc sĩ "sống và chiến đấu trong bưng theo Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam”. Có thể đây là một thiếu sót của tác giả hay vì sự thật là ...không có (?). Tiếp theo, tác giả đã có vài đoạn ca ngợi các nhạc sĩ miền Nam để nói lên sự thật rằng: "các nhạc sĩ miền Nam (VNCH) sáng tác nhạc ca ngợi người lính VNCH trong nhiệm vụ bảo vệ đất đai và bảo vệ cuộc sống thanh bình của thường dân". Chỉ tiếc là tác giả không giải thích vì lý do gì mà người lính VNCH lại phải gian khổ nhọc nhằn như thế? Ai đã xâm phạm đất đai miền Nam? Ai đã đe doạ cuộc sống người dân miền Nam? Tiếc thật, bài viết quá ngắn nên không biểu lộ hết ý tác giả.

Tiếp theo đó, tác giả nhận xét nhạc VN trong giai đoạn 1: "Những giai điệu không khoẻ khoắn lắm nhưng cũng đầy những cảm xúc với ca từ: "Người đi khu chiến thương người hậu phương - Thương màu áo gửi ra sa trường ..."(Chiều Mưa Biên Giới, Nguyễn Văn Đông). Đọc đến đây thì tôi cảm thấy hơi lùng bùng khó hiểu: thế nào là giai điệu khoẻ khoắn? Phải chăng ý tác giả muốn nói nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông hơi uỷ mỵ, không dám đưa những ca từ "mạnh bạo, dũng cảm, sắt máu" vào giai điệu nhạc giống như nhạc miền Bắc (ví dụ: Bác Cùng Chúng Cháu Hành Quân, Giải Phóng Miền Nam). Thực ra thời buổi đó xuất hiện rất nhiều bản hùng ca, nhạc vui, nhạc tình cảm quê hương, mang tính chất vui tươi khoẻ mạnh động viên thanh thiếu niên yêu quê hương đất nước, ví dụ: Khoẻ Vì Nước, Quyết Tiến, Học Sinh Hành Khúc, Việt Nam Minh Châu Trời Đông, Hè Về, Rạng Đông, Nhạc Rừng Khuya, Khúc Ca Mùa Hè, Bức Hoạ Đồng Quê, Khúc Ca Ngày Mùa, Hương Lúa Miền Nam, Miền Nam Mưa Nắng Hai Mùa, Khúc Hát An Tình, Tình Quê Hương, Nắng Chiều, Hoa Soan Bên Thềm Cũ, Chiều Biên Khu, Lá Thư Người Chiến Sĩ, Thương Người Chiến Binh, Cung Đàn Muôn Điệu, Đoàn Người Lữ Thứ, vv...mà tác giả cố ý bỏ quên chăng? Tác giả không biết rằng thời đó, nhiều bản hùng ca, hay Sử Ca sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (thập niên 40-50), trong Nam được hát tự do thoải mái, nhưng ngoài Bắc thì cấm tuyệt (ví dụ: Hội Nghị Diên Hồng, Bạch Đằng Giang, Trên Sông Bạch Đằng, Nước Non Lam Sơn, Đêm Mê Linh, Đêm Lam Sơn, Bóng Cờ Lau, Ải Chi Lăng, Trưng Nữ Vương).

Tác giả nhắc sơ qua vài bài ca khí thế hùng mạnh, giai điệu sục sôi trong hàng ngũ quân giải phóng, như "Hành Khúc Giải Phóng", "Bài Hát Giải Phóng Quân", "Giờ Hành Động" ...ô hay! Chí có thế thôi sao? Rồi dựa lên đó tác giả quay lại phê phán nhạc SaiGon thời đó yểu điệu, yếu ớt, than vãn, thở than qua vài ca khúc như: Tiễn Bước Sang Ngang (Hoàng Trọng), Hương Xưa (Cung Tiến), Tình Anh Lính Chiến (Lam Phương) và Bến Hàn Giang (Dương Thiệu Tước). Như vậy tác giả chắc chưa từng nghe những ca khúc mang tính chiến đấu mạnh hơn và tình cảm hơn, ví dụ "Anh Đi Chiến Dịch" của Phạm Đình Chương (Anh đi chiến dịch xa vời; Lòng súng nhân đạo cứu người lầm than; Thương dân nghèo, ruộng hoang cỏ cháy; Thấy nỗi xót xa của kiếp đoạ đầy ... Anh đi!). Bài này tôi đột nhiên được nghe phát thanh ầm ỹ trong một quán cà phê hồi về thăm nhà ở tp HCM (2008), đối diện là trụ sở Uỷ Ban Nhân Dân Phường, vừa uống cà phê sữa đá vừa thưởng thức nhạc SG (trước 1975) trong một bối cảnh XHCN 2008. Tâm trạng vui buồn khó tả!

Thực sự, giới nghệ sĩ miền Nam thời đó sống dưới chính thể VNCH được hưởng bầu không khí tự do dân chủ thoải mái, cho nên họ sáng tác nhạc với hết cả tấm lòng yêu quê hương đất nước, yêu đồng loại, họ đâu có bị ép buộc gò bó trong những khuôn khổ cứng ngắc, do đó không thể nào tìm thấy những giọng điệu "khát máu, tràn đầy hận thù, máu kêu trả máu, đầu kêu trả đầu" giống như nhạc ngoài Bắc thời chiến tranh chống Mỹ cứu nước.

Giai đoạn thứ hai (1960-1965):

Lạ thật! Tôi chẳng tìm thấy chi tiết nào do tác giả trình bày trong giai đọan "can thiệp của quân đội Mỹ" vào miền Nam. Chẳng lẽ tác giả cố tình quên hay bị "báo chí lề phải" kiểm duyệt gắt gao mà tự nhiên để chừa một khoảng trống khá lớn trong bài viết ... thôi thì tôi đành bỏ qua "giai đoạn 2" để đọc kế tiếp "giai đoạn thứ ba".

Giai đoạn thứ ba (1965-1975):

Xin phép trích nguyên si đoạn văn này để quý vị độc giả thưởng thức:

-"Giai đoạn thứ ba, trong khi cả miền Bắc vừa chống chiến tranh phá hoại bằng không lực Mỹ, vừa dốc lòng dốc sức chi viện miền Nam giành độc lập và thống nhất tổ quốc trong một không khí âm nhạc hừng hực ý chí chiến đấu và phải nhận thấy rằng đó là thứ âm nhạc cực "rock", thì tâm tư người lính Việt Nam Cộng Hoà, người dân miền Nam nhìn vào cuộc chiến tranh tàn khốc này bị phân hoá đến cực độ".

Nghe tác giả nhận xét nhạc miền Bắc thời chiến là một thứ cực "rock", tôi rất ư ngạc nhiên, chẳng hiểu "rock" ở đây có nghĩa gì? Nghĩa tốt hay nghĩa xấu? Tác giả có thể giải thích rõ ràng chăng? Còn nhận định rằng "nhạc miền Nam bị phân hoá cực độ" thì tôi có thể góp ý vài giòng. Kể từ khi quân đội Mỹ chính thức đổ bộ xuống Đà Nẵng, công khai tham gia các trận chiến cùng với sự hiện diện của các nước khác (Nam Hàn, Úc, Tân Tây Lan) thì bầu không khí tang tóc bắt đầu tràn ngập thành thị, rồi nhiều phong trào học sinh sinh viên nổi lên đòi hỏi chấm dứt chiến tranh, nhạc phản chiến xuất hiện cùng lúc với nhạc tình ca, nhạc sến (Bolero, Rumba, Slow Rock), gây nên một tình trạng không đồng nhất, không có đuờng hướng chung rõ rệt, chứ không có nghĩa là phân hoá. Tác giả đã đứng trên lập trường một "đảng viên CS" hay "giải phóng quân" nhận xét theo chiều hướng tuyên truyền cứng ngắc, nói thế thì thử hỏi hiện nay nền tân nhạc ở VN đi về đâu so với thời kỳ trước 1975? Nhạc "giải phóng quân miền Nam" ra sao sau ngày lịch sử 30-04-1975? Tình trạng âm nhạc miền Bắc ra sao sau ngày Giải Phóng 30-04-1975? Tôi sẽ có một bài khác trình bày chi tiết về chủ đề này.

Bây giờ, thử đặt một giả thuyết rằng nếu tất cả văn nghệ sĩ, nhạc sĩ và toàn thể dân chúng miền Nam nhất quyết "chiến đấu chống Cộng tới giọt máu cuối cùng", tất cả mọi bài ca đều mang tính chất "sắt thép, máu, lửa, hận thù sôi sục" thì chưa hẳn tình hình biến đổi nhanh chóng như ngày 30-04-1975. Hãy nhìn sang tình hình nước Đại Hàn hồi giữa thập niên 50, trận tử thủ ở bên bờ sông Lục Đầu, nếu không có TQ can thiệp bằng chiến thuật "biển người cuồng tín" tràn qua biên giới thì tình đã thế khác hẳn. Vậy thì đề nghị tác giả Nguyễn Thuỵ Kha đừng nên suy luận kiểu một chiều như vậy, đừng nên kiêu ngạo đứng trên tư thế kẻ chiến thắng để đè bẹp dân tộc, có hay ho gì đâu khi hai miền xung đột nội chiến, để cho mọi thế lực cường quốc hưởng lợi trên thân xác nhân dân VN. Rồi đây lịch sử sẽ vạch trần sự thật cho thấy ai là kẻ hiếu chiến, ai là kẻ phản quốc "cõng rắn cắn gà nhà", trào lưu truyền thông phổ biến trên mọi Trang Mạng Internet chính là tiếng nói chân thật nhất của mỗi người dân, sẽ chấm dứt thời kỳ tuyên truyền một chiều, bưng bít thông tin của chế độ Cộng Sản.

"Những ca khúc da vàng"

Đến đây đột nhiên tác giả chuyển hướng đề cập đến phong trào "Ca khúc da vàng" mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là người chủ xướng từ đầu thập niên 60. Có một chi tiết làm cho tôi bật phì cười, không hiểu tác giả lý luận ra sao mà dám nói rằng “tình khúc Nhìn Những Mùa Thu Đi của họ Trịnh, dịu dàng nhưng mới mẻ, đã tiếp sức cho học sinh, sinh viên Huế kiên cường đấu tranh chống đàn áp Phật tử năm 1963”. Tôi đề nghị tác giả phân tích bài ca "Nhìn Những Mùa Thu Đi" cho biết yếu tố nào, cụm từ nào đã động viên tinh thần tranh đấu của học sinh, sinh viên Huế chống Pháp Nạn thời đó (1963)?

Tác giả có vẻ tâng bốc họ Trịnh quá sa đà, đến độ viết như sau: "Khi dạy học ở Bảo Lộc, việc Mỹ đổ quân vào miền Nam và đánh phá miền Bắc đã khiến Trịnh Công Sơn có một kỳ nghỉ hè như bị cuông bức. Ông đã trốn vào rừng sâu để viết ra tập "Ca khúc da vàng" với khát vọng hoà bình chát bỏng. Năm 1967, ông đã xuất bản lậu tập ca khúc này ở SaiGon và cùng Khánh Ly đi du ca kêu gọi hoà bình. Chính góc nhìn này đã hoà nhập Trịnh Công Sơn vào phong trào "Hát cho đông bào tôi nghe" rừng rực".

Tôi đã từng nghe những ca khúc da vàng nóng bỏng đó, nhất là bài "Gia Tài Của Mẹ", "Huế SaiGon Hà Nội", hay "Người Con Gái Việt Nam Da Vàng", và rõ ràng giòng nhạc họ Trịnh được truyền bá sâu rộng trong giới trẻ thời đó, không hề bị ngăn cấm, tập nhạc này được chính quyền VNCH cho xuất bản tự do, làm gì có chuyện "in lậu". Sau cùng tác giả đưa ra nhận định rằng: "Có lẽ nhờ vậy mà sau 30/04/1975, giữa những ca khúc một thời loang ra miền Bắc, Trịnh Công Sơn vẫn là nỗi ám ảnh đáng kể nhất". Ám ảnh ai? dân chúng miền Bắc? hay chính quyền CS miền Bắc? Tại sao bị ám ảnh? Tôi biết rõ rằng giờ đây, mỗi lần giới nghệ sĩ Việt Nam trong nước mỗi lần muốn tổ chức ngày lễ "giỗ Trịnh Công Sơn" vẫn thường phải long trọng xin phép chính quyền, đệ trình một danh sách những ca khúc để cho chính quyền kiểm duyệt, và đương nhiên nhiều ca khúc TCS hãy còn bị "cấm phổ biến" ở Việt Nam hiện nay. Giờ đây, trong bối cảnh xã hội VN đang bị suy thoái, vấn nạn đạo văn, đạo nhạc, đạo tranh, đạo sách lan tràn khắp nơi, lớp trẻ nhà giàu được gửi học trường ngoại ngữ đắt tiền, nói tiếng Anh, tiếng Pháp như gió, nhưng lại không biết viết tên VN của mình ra sao, do đó khi ngồi nghe bản nhạc "Gia Tài Của Mẹ" tôi mới thấm thía nỗi đau của một dân tộc đang đánh mất dần bản sắc: "Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu; Một trăm năm nô lệ giặc Tây; Hai mươi năm nội chiến từng ngày; Gia tài của Mẹ: một bọn lai căng; Gia tài của Mẹ: một lũ bội tình".

Kết luận:

Bài viết "Góc nhìn chiến tranh trong ca khúc SG trước 1975" của Nguyễn Thuy Kha trình bày quá nhiều sơ hở, ý tưởng rời rạc, mâu thuẫn mang cảm quan của một người không sống thật trong xã hội miền Nam thời kỳ chiến tranh, nhiều nhận xét quá phiếm diện, đưa đến nhiều sai lầm ngộ nhận về một nền âm nhạc cực thịnh của đất nước.

Trong khuôn khổ bài phê bình này, tôi chỉ có thể phản hồi những ý tưởng của tác giả Nguyễn Thuy Kha, hy vọng rằng trong một bài khác tôi sẽ trình bày rõ hơn quan điểm của tôi, một người sống và say mê âm nhạc miền Nam thời kỳ trước 1975.

Lê Quốc Trinh, kỹ sư Canada (Quebec, 05/05/2010


--------------
tranhung09

Xin còn gọi tên nhau (nhạc)

Mười năm tình cũ



Kiếp nào có yêu nhau - Khánh Hà thể hiện


Ca sy Duc Tuan hat tai phong tra năm 2008




Xin còn gọi tên nhau

--------------

Tình ca Trịnh Công Sơn



Đoá hoa vô thường



Hoa vàng mấy độ


Tình nhớ


Tình sầu


Gọi tên bốn mùa


Ru ta ngậm ngùi




Em đi bỏ mặc con đường



Chiếc lá thu phai



--------------

Nguyenvantuan.net - một địa chỉ tin cậy !

Nguyenvantuan.net - Chủ trang nhà này là một người Việt đang sống và làm việc ở Sydney (Úc). Một địa chỉ tin cậy, là nhà khoa học, với những bài viết trên cơ sở chứng cứ, lập luân rõ ràng, đầy tính thuyết phục. Mời Bạn xem đôi lời tự giới thiệu của tác giả. Hãy tìm đến để cảm nhận tri thức và so sánh với các bài đầy cảm tính của giới trí thức, văn nghệ sĩ trong nước.

Về chủ nhân trang web
Rất hân hạnh chào đón bạn đọc ghé qua trang nhà mới của tôi. Trước đây, tôi có một trang blog cá nhân ở http://tuanvannguyen.blogspot.com. Thoạt đầu chỉ là nơi ghi nhật kí cá nhân, nhưng sau này thành địa chỉ ... công cộng.
Vì số lượng bài vở trong trang blog hơi nhiều, blog không còn thuận tiện để tra cứu các bài lưu trữ, nên tôi chuyển sang trang web cá nhân này. Cho đến nay, tôi chưa có thì giờ chuyển tất cả những bài viết trong trang blog sang trang web mới, nhưng trong tương lai, tôi sẽ dần dần sẽ chuyển hết sang "nhà mới".
Có lẽ bạn đọc thắc mắc chủ nhân trang nhà là ai, nên có lẽ tôi phải có vài dòng về mình. Nói về bản thân rất khó, vì văn hóa Á đông mình rất "nhạy cảm" với những ai nói về cái mà người Tây cho là "cái tôi đáng ghét", nhưng tôi cố gắng đây.
Chủ trang nhà này là một người Việt đang sống và làm việc ở Sydney (Úc), nhưng quê quán ở Kiên Giang, Việt Nam.  Xa hơn chút, nguyên quán của tôi là Bình Định.  Quê ngoại tôi ở xã Mỹ Quang, huyện Phù Mỹ, còn quê nội tôi ở xã Phước Thành, huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định. Dù ở đâu thì tôi vẫn là người Việt.
Tôi hiện đang làm việc ở Viện Nghiên cứu Y khoa Garvan, hình như được xem là viện nghiên cứu y khoa hàng đầu của Úc và trên thế giới, nhưng tôi cũng là người của trường y thuộc Đại học New South Wales. Lĩnh vực tôi quan tâm là di truyền dịch tễ học loãng xương và một số bệnh nội tiết. Một số công trình nghiên cứu của tôi có thể xem qua trang PubMed (chú ý rằng phần lớn những bài của tác giả "TV Nguyen" không phải của tôi).
Một trong những ước mơ của tôi là tìm những gene có liên quan đến loãng xương để giúp cho việc tiên lượng bệnh tốt hơn. Tôi và đồng nghiệp đã có vài thành công nhất định, đã phát triển được một mô hình tiên lượng gãy xương (có người gọi là Nguyen's model) và mô hình này được áp dụng toàn cầu tại www.fractureriskcalculator.com. Tuy gọi là "calculator", nhưng để có nó chúng tôi phải bỏ ra 20 năm với nhiều triệu đô-la để phát triển thành một mô hình tiên lượng. Các công trình liên quan đến mô hình này có thể xem qua tại đây. Nhóm của tôi cũng đã tìm ra vài gene liên quan đến loãng xương. Nhưng đường vẫn còn dài, vẫn còn học hỏi nhiều, mà thời gian của mình còn lại thì chẳng bao nhiêu. Mấy năm gần đây, tôi quan tâm đến vấn đề loãng xương trong nước, và đã có vài hợp tác có ích. Một trong những "sản phẩm" của hợp tác đó là Hội nghị Strong Bone Asia năm 2008 tại TPHCM.
Tôi từng sống và làm việc bên Âu châu, Mĩ, và Úc. Tôi rất thường đi công tác ở rất nhiều nơi trên thế giới, từ Mĩ, Âu sang Á, thậm chí Trung Đông. Khoảng 10 năm qua, tôi có dịp về quê (Việt Nam), trước là thăm nhà, sau là làm việc, hợp tác với đồng nghiệp trong nước. Đi rồi về, giông giống như "một cõi đi về" mà nhạc sĩ Trịnh Công sơn đã viết.  Trong những chuyến công tác xa đó, tôi có dịp quan sát nhiều, và suy nghĩ về quê hương mình. Một số ghi chép và cảm nhận của tôi trong những chuyến đi đó được ghi lại trong trang web này. Các bạn có thể xem đó là tâm tư của tôi vậy.
Nếu bạn đọc cần liên lạc tôi, thì có thể điền vào phần "liên lạc" trên tệp đầu của trang web. Vì chuyện "cơm áo gạo tiền", nên tôi có thể chậm trễ trả lời các bạn, nhưng tôi hứa là sẽ trả lời. Khi liên lạc tôi, các bạn làm ơn ghi tên họ thật (cái này hơi khó!) và đừng gọi tôi bằng bất cứ danh xưng nào; chỉ gọi tên là đủ. Tôi không bao giờ ưa (nếu không muốn nói là ghét) những danh xưng phù phiếm.
Tôi cũng nhân cơ hội này cám ơn đồng nghiệp của tôi là Nguyễn Đình Nguyên, người đã có sáng kiến lập ra trang web cá nhân này. Nguyên chính là người thiết kế trang web và chỉ tôi rất nhiều thủ thuật làm web. Không có Nguyên giúp đỡ thì không có trang web "bề thế" như thế này. Nếu các bạn thấy một điểm gì hay trong trang web này thì đó là công của Nguyên chứ không phải của tôi; nếu các bạn thấy có gì không hay thì đó là trách nhiệm của tôi.
Một lần nữa, cám ơn các bạn đã ghé qua trang nhà này.
NVT
(Ghi chú nhỏ: Một số các bài viết trong trang web này có sử dụng các hình ảnh trích từ internet. Vì mỗi hình ảnh trích lại trên internet đều có đường link gốc, nên tôi không ghi lại nguồn trích bằng chữ nữa, mong bạn đọc thông cảm)

--------------

"Bố già" Trần Chánh Nghĩa

(Bài của nhà báo Đức Hiển)
 
Hôm nay đi vô cơ quan, thì nhận được cuốn sách “Năm tháng Ngược xuôi” của anh Trần Chánh Nghĩa gửi tặng.

Gần sáu chục tuổi, anh mới chính thức là phóng viên (của báo điện tử Vietnamnet), mới thấy bố già này bền bỉ với nghề cỡ nào. Mấy chục năm này anh làm cộng tác viên.
Bố bền bỉ, tỉ mỉ, trong sáng, cẩn thận. Tụi trẻ còn lâu mới theo kịp.
Nhanh nhẹn, lao xốc, một cái “tin còi” bố cũng sẵn sàng trăm cây số đi, trăm cây số về, trong khi khối thằng đáng tuổi con cháu bố chúng nó ngồi xào chẻ , share cho nhau. Ngày mai nó bắt bạn đọc mua mười tờ báo để đọc một cái tin như coppy and paste. Tụi phóng viên Tòa án, năm đứa đi dự năm  phiên tòa rồi chiều chúng nó email cho nhau, thêm mắm dặm muối thành ra mỗi đứa có 5 cái tin.
Bố già thì không.
Bố già sẵn sàng alo cho một thằng nhóc con mới vào nghề: “Thằng cu, chỗ này cháy chợ, chỗ kia sập cầu!”. Nhưng đừng hòng đứa nào nói: Bố cho con cái ảnh hoặc bố làm dùm con cái tin hoặc cho con mượn bản thảo. Tao báo tin cho mày, còn viết thế nào, khai thác làm sao, là nghĩa vụ của mày.
Bố yêu nghề mà lận đận với nghề. Năm nay chẵn sáu mươi tuổi, tính trong số những người lấy báo làm nghề ở cái nước Việt này,  bố và Phan Lữ Hoàng Hà có thâm niên làm cộng tác viên lâu nhất nước. Mấp mé sáu mươi bố mới làm phóng viên. Nhưng cách làm việc của bố, bố đáng là thầy dạy của rất rất nhiều những nhà báo có thẻ, phóng viên bậc năm bậc bảy ở các báo.
Chỗ nào có cháy là có bố già. Mà bố già đã có mặt là ngày mai sẽ có tin.
Đâu sáu bảy năm trước, một bữa đang ngồi với ông bạn ở PV 11 công an Đồng Nai thì có tin báo tai nạn lớn. Công an tỉnh nhận tin sớm nhất. bèn  nói Tòa soạn khỏi cử phóng viên vì tôi đang ở Biên Hòa, chạy xuống Trảng Bom có mấy chục cây. Đến nơi đã thấy bố có mặt.
Lại một buổi tối khác, mình đi từ Madagoui về, cận tết, trời lạnh cóng. Nghe có vụ chiếc xe 46 chỗ nhét hơn 100 người, có người xỉu, một hành khách ngồi trên xe nhắn tin cho tòa soạn. Bèn alo báo cho cảnh sát tuần tra chặn dừng chiếc xe rồi mình cũng vừa kịp tới. Chưa kịp rút máy ảnh ra đã thấy bố ngồi sau xe do con trai chở đến nơi. Cẩn thận chụp chừng năm kiểu ảnh, hỏi năm hành khách, hỏi cảnh sát xong bố lại lầm lũi 70 km về Sài Gòn.
Giờ mình làm tòa soạn. Có những buổi chiều mình nhận sáu bảy cái tin y hệt nhau của sáu bảy tác giả, PV của báo mình, của báo bạn và CTV gửi tới. Có khi còn thấy cái ảnh dung lượng chỉ 30KB, biết ngay đồ chôm trên mạng.
Khi đó mình vừa bực, vừa buồn, vừa thương hại các tác giả ấy quá. Chập chững vào nghề đã giỏi ăn cắp và cắt dán, họ muốn tự biến mình thành một nhà báo kiểu gì đây?
Sách của bố Nghĩa là tập hợp những tin, bài chọn trong số đã đăng báo. Bố cũng nói đó không phải là những tác phẩm lớn lao gì. In, để kỷ niệm những tháng năm xuôi ngược với một cái nghề mà bố đã sống gần trọn đời với nó. Một "cuộc tình" hạnh phúc mà lận đận.
Nhưng sẽ sai lầm nếu nhìn cuốn sách chỉ là tập hợp những bài báo cũ. “Tác phẩm” lớn nhất ở đó là thái độ sống, làm việc chuyên nghiệp của một nhà báo “nghiệp dư”. Người tỉ mỉ và có trách nhiệm với từng cái tin nhỏ.
Giá mà tất cả những nhà báo khác đều có thái độ nghiêm túc, tình yêu nghề nghiệp nồng nàn như bố Nghĩa.


--------------

Thương trường là cõi Phật?

Kinh doanh là dấn thân, thương trường là cõi Phật?

Kinh doanh là một cách dấn thân. Lúc này, thương trường cũng là cõi Phật. Đó cũng là một cách tu, thậm chí tu như thế còn phiền nhiễu gấp mấy trong chùa, nhưng nhờ đó thành quả cũng lớn hơn.
Nghe chủ đề buổi thuyết trình "Văn hóa Phật giáo trong kinh doanh", những tưởng sẽ được doanh nhân Tạ Thị Ngọc Thảo chia sẻ về cách thức áp dụng triết lý, văn hóa Phật giáo trong kinh doanh, hay chí ít là kinh nghiệm của bản thân bà -  vừa là Phật tử, vừa là doanh nhân. Nhưng bất ngờ, Phật tử Tạ Thị Ngọc Thảo lại chọn một cách tiếp cận hoàn toàn khác: "Chùa làm kinh doanh trong phạm vi có thể - tại sao không?"
Đối tượng cụ thể mà bà Tạ Thị Ngọc Thảo hướng đến trong Tuần văn hóa Phật giáo được tổ chức gần đây là chùa Huế, như bà tự nhận: Mong muốn được "khơi dậy tinh thần kinh doanh của một vùng đất văn hiến, đó là tỉnh Thừa Thiên - Huế". Bởi theo bà, Huế có quá nhiều lợi thế. Người Huế luôn tự hào và yêu quý nhất mực mảnh đất này, nhưng Huế còn nghèo quá, mà lý do cụ thể nhất là thu nhập bình quân đầu người thấp - 1.030 USD/ người và tỷ trọng nông nghiệp quá cao 14,5%
Tuần Việt Nam đã có cuộc trao đổi với bà Tạ Thị Ngọc Thảo sau buổi thuyết trình có phần gây tranh cãi này.
Phật muốn chúng sinh giàu có
- Vì sao bà lại chọn nói về đề tài "Chùa làm kinh doanh trong phạm vi có thể - tại sao không?"
- Nếu chỉ lo cho đời sống của chùa thì hiện nay hầu như các chùa đều có thể tự túc được, không phải trông cậy nhiều vào nguồn cúng dường.
Nhưng để phụng sự xã hội, nhất là các tăng ni dấn thân phụng sự xã hội, thì phải trông vào các nguồn khác, trong đó có nguồn cúng dường, nguồn doanh nghiệp tài trợ... Một trường hợp cụ thể trong hoạt động của giới tu hành hiện nay ở Huế là Phòng khám từ thiện Tuệ Tĩnh đường - nơi khám chữa bệnh cho hơn 250 bệnh nhân nghèo mỗi ngày, thì nguồn thu để duy trì hoạt động luôn là vấn đề đau đầu.
Kinh tế phát triển thì không sao, nhưng khi kinh tế suy thoái như hiện nay thì nguồn cúng dường cho chùa bị giảm. Nguồn kinh phí cho công việc phúc lợi xã hội cũng đương nhiên phải giảm. Bác sĩ giám đốc rất lo sẽ đến lúc Tuệ Tĩnh đường phải đóng cửa. Nếu tình huống đó xảy ra thì trước mắt là 250 bệnh nhân nghèo không có nơi để khám bệnh.
Để những công trình phúc lợi, từ thiện của Phật giáo hoạt động được bền vững thì nhà chùa phải chủ động được nguồn tài chính, nghĩa là phải có hoạt động kinh doanh để lấy lãi nuôi những hoạt động phúc lợi này.
Khi đặt ra vấn đề kinh doanh với giới tu hành thì không chỉ Phật tử, cư sĩ, mà xã hội nói chung cũng dễ phản ứng, trong khi đó kinh doanh như thương gia Lương Văn Can định nghĩa là: "Sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ của mình như phương tiện để giải quyết những vấn đề xã hội và làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn", thì kinh doanh có gì là sai trái mà không được làm? Trong cách nhìn của tôi, đó cũng là một cách tu.
Nữ doanh nhân - Phật tử Tạ Thị Ngọc Thảo
Hơn nữa, trong giới luật có cấm con của Phật tích lũy tài sản, phát sinh lợi nhuận, nhưng con Phật có hai chúng, chúng xuất gia và chúng tại gia. Đức Phật lại rất ủng hộ sự giàu có của chúng sinh. Trong kinh Phật có nói về y báo và chánh báo. Y báo là dựa vào cái mình nương tựa. Nếu bạn được nương tựa vào người chồng làm kinh doanh giàu có lương thiện, cha mẹ là người phúc đức, con của bạn là đứa trẻ thông minh đạo hạnh, thì người ngoài sẽ nhận ra ngay y báo bạn tốt. Bạn đã gieo phúc và bây giờ được nhận.
Còn chánh báo thì sao? Đức Phật nói trong khi người ta còn phải ở những căn nhà lụp xụp bên cạnh đống rác hôi hám, thì bạn được ở ngôi nhà khang trang, được thưởng thức những hoa thơm, trái ngọt, ăn những bữa cơm ngon, sống trong không khí trong lành. Đó cũng là do bạn là người trước đó đã gieo phúc rất nhiều và nay được nhận. Nói như thế để thấy quan điểm của Đức Phật là ủng hộ sự giàu có.
Với những người xuất gia, Đức Phật khuyên sống thanh bần, vì không muốn con Phật vướng vào những thường tình đó sẽ làm hạn chế sự phụng sự cho đạo pháp, cho chúng sinh. Nhưng những người con Phật có tóc và chúng sinh thì Phật luôn luôn ủng hộ họ giàu có.
Văn hóa Phật giáo trong kinh doanh là thế nào?
- Bà có nghĩ khi trình bày đề tài này tại Huế sẽ vấp phải những phản ứng không?
- Trình bày đề tài chùa làm kinh doanh nơi đất Huế, với tôi là sự thử thách, thậm chí tôi xem đây là một đề tài đột phá tư duy, nhưng không thể không nói. Tôi nghĩ, may mà bây giờ mưa thuận gió hòa, đời sống của tăng ni và của người dân chưa đến nỗi quá khó khăn.
Nhưng nếu có một biến cố đột biến xảy ra, chẳng hạn suy thoái kinh tế trầm trọng, thiên tai dịch họa ụp đến bất thường thì mọi chuyện đều thay đổi. Đến lúc này nếu chùa không có cơ sở kinh doanh để chủ động một nguồn thu, duy trì những công trình phúc lợi xã hội mà chùa đang điều hành, thì đời sống của hàng ngàn tăng ni và dân nghèo ở Huế có thể sẽ bị chao đảo.
Kinh doanh không hề là vấn đề xấu. Vấn đề là ta sử dụng đồng lợi nhuận đó như thế nào, có đủ sức điều khiển đồng tiền, làm chủ bản thân không? Cái đó thì không phải do tiền, đổ thừa cho đồng tiền là không đúng.
Hơn lúc nào hết, trong thời hội nhập hiện nay, chủ động được nguồn thu để làm từ thiện, bớt lệ thuộc vào nguồn cúng dường, thông qua đó tạo việc làm và cơ sở vật chất, thu hút nguồn năng lực trung và cao cấp, góp phần tăng GDP thì chính là văn hóa Phật giáo trong kinh doanh.
Trước khi trình bày đề tài "Chùa làm kinh doanh trong phạm vi có thể - tại sao không?" tôi rất lo, vì chỉ cần hai từ kinh doanh giữa Tuần lễ văn hóa Phật giáo thì đã là "nhạy cảm" rồi. Tôi đã thiền 2 tiếng trước buổi thuyết trình, vì tôi chuẩn bị một tinh thần giao lưu căng thẳng hơn. Ngay cả trong lúc trình bày tôi cũng thiền. Sau khi trình bày xong đến phần giao lưu tôi cũng thiền. Tôi hoàn toàn tỉnh thức trong mọi lời nói của mình.
Tôi cũng được biết, bài nói chuyện đó gây nhiều sự bàn cãi. Nhưng sau khi thầy Trừng, thầy của rất nhiều tăng ni ở đây. Thầy dạy ở Học viện Phật giáo, vốn là người rất khó tính mà thầy công nhận đây là một đề tài mới, cần thiết, thì tôi nhẹ người, vì đấy chính là tiếng nói phản hồi của Huế. Cũng có lẽ Đức Phật phù hộ nên Huế nhẹ nhàng đón nhận.
Tôi mới nhận ra rằng lúc này tôi nói là đúng thời cơ. Nói sớm thì không hay, nói chậm nữa thì qua mất cơ hội. Đưa đề tài này ra lúc này là rất hợp duyên.
- Vậy theo bà, những người không phải Phật tử của Huế có thể tiếp nhận điều gì từ buổi thuyết trình của bà?
- Tôi lại nghĩ những người chưa phải Phật tử, kể cả Phật tử cũng thấy rằng chùa chủ động kinh doanh là vấn đề cần thiết, nhưng họ không thích những người mặc áo lam lại trực tiếp đứng ra mua bán, đụng chạm với đồng tiền.
Nhưng con Phật có hai chúng, chúng xuất gia và cư sĩ tại gia. Bởi thế tôi mới đề xuất giải pháp, nếu trong hàng ngũ cư sĩ có những người có ý tưởng kinh doanh đứng ra thành lập một công ty với HĐQT là các nhà sư thì có làm sao đâu?
Những việc gì thật sự đụng đến tiền bạc thì giới cư sĩ làm, còn những việc phụng sự xã hội thì các thầy các sư làm được chứ. Rõ ràng ở đây, những người con Phật cả hai chúng xuất gia và tại gia đều biết rằng đồng lợi nhuận đó sẽ như nước Cam Lồ rưới vào những quãng đời bất hạnh.
Kinh doanh cũng là một cách dấn thân. lúc này, thương trường cũng là cõi Phật. Đó cũng là một cách tu, thậm chí tu như thế còn phiền nhiễu gấp mấy trong chùa, do đó thành quả cũng lớn hơn.
Muốn làm từ thiện hiệu quả nhà chùa cũng cần tự chủ được về tài chính. Ảnh minh họa
Luật nhân - quả luôn ứng nghiệm - Vậy còn những doanh nhân không phải Phật tử, cũng không định kết hợp với nhà chùa làm kinh doanh, thì có thể áp dụng văn hóa Phật giáo như thế nào?
- Văn hóa dân tộc ta được xây dựng trên nền tảng văn hóa Phật giáo, nên tất cả những gì lợi cho mình, lợi cho người, đem niềm vui đến cho mình, đem niềm vui đến cho người, hoặc sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp mà có lợi cho người tiêu dùng; sự giàu có của mình góp thêm vào sự giàu có của đất nước, tiền bạc của số người giàu được chia sẻ lại cho số người còn người nghèo, để khoảng cách giàu nghèo rút ngắn lại, thì đó chính là văn hóa Phật giáo. Bất cứ doanh nghiệp nào áp dụng như thế thì giàu một cách bền vững, vì họ làm chủ "thụ dụng" (hưởng thụ và sử dụng đồng tiền mình làm ra).
Ngược lại, nếu sự giàu có của mình xâm phạm đến quyền lợi của người khác, đến môi trường, cào cấu vào thiên nhiên rồi trốn thuế, gian lận thương mại, rút ruột công trình để làm giàu cho mình, thì không có cách gì bền vững, không chóng thì chày sẽ đổ vỡ. Theo đúng thuyết nhân quả, gieo gì sẽ gặt nấy.
Là một doanh nhân, không cần phải là doanh nhân Phật tử, nếu ngay bây giờ không nghĩ đến chuyện gieo, nghĩ đến nhân duyên, coi chừng sẽ gặp ác báo. Vì thuyết nhân quả là quy luật khách quan do Đức Phật phát hiện ra, chứ không phải vấn đề tâm linh mơ hồ.
- Ngoài những "hậu quả" về mặt vật chất, còn những hậu quả về mặt tinh thần thì sao?
- Tôi xin kể một trường hợp cụ thể của một người bạn mà tôi không muốn nhắc tên. Người bạn này có một chuỗi nhà hàng chuyên bán thịt thú rừng, giàu có lắm vì họ mua thú rừng của người dân tộc với giá rất rẻ, rồi bán lại với giá rất đắt. Họ có hai người con, một trai, một gái, 18 tuổi và 19 tuổi. Vậy mà cả hai con liên tục ra đi, một người tháng trước xe đụng chết, người con còn lại tháng sau xe đụng chết. Hai vợ chồng nhận ra ngay vấn đề, dẹp ngay chuỗi hàng quán đó, tức thì sám hối. Đó là nhân quả đồng thời.
Tôi có đọc những lá thư của những người tử tù là cán bộ rất lớn bên Trung Quốc. Họ kể rằng khi chỉ một chữ ký của họ để uốn một con đường từ hướng Tây qua hướng Nam là họ có được cả chục triệu đô la, do đó họ không kềm lòng được. Họ cũng có ý trách luật pháp không giúp cho họ ngăn chặn việc làm giàu quá dễ dàng như vậy. Họ có nói giá luật pháp chặt chẽ hơn, họ được giám sát nghiêm ngặt hơn, giá họ không kiếm tiền dễ như thế, thì họ đâu đến nỗi?
Khi họ có được đồng tiền dễ dàng như vậy, thì vợ của họ theo trai, con của họ thấy tiền nhiều quá thì xài phí phạm, ăn chơi sa đọa, dẫn đến đứa thì nhiễm bệnh thời đại, đứa thì làm gái... Chính bản thân họ liên tục thấy cô đơn, họ mới đi tìm những người tình nhỏ ở Đài Loan.
Để giữ những người tình nhỏ đó họ phải dùng những đồng tiền tham nhũng kiếm được, cho đến một ngày những người tình nhỏ quỵt hết những đồng tiền đó, rồi  họ bị bắt, và bây giờ thì bị tử hình. Họ kết luận, những đồng tiền kiếm được không trong sạch làm cho lương tâm luôn bị day dứt, không bao giờ có được một giờ vui thật sự trong đời.
Họ ao ước nếu cuộc đời còn rộng tay với họ, nhà nước hãy cho họ đến một vùng nào đó xa xôi hiểm trở cũng được, để họ có điều kiện cày cuốc kiếm ra từng mẩu khoai, miếng ăn, để có thời gian họ sám hối. Nhưng một mưu cầu nhỏ nhoi như thế không còn kịp nữa vì vay thì phải trả, đó là luật nhân quả.
Vậy thì doanh nhân hãy kinh doanh theo văn hóa Phật giáo, hãy gieo những hạt giống tốt lành, để thu hoạch nhiều quả ngọt.
- Trên thế giới đang xuất hiện nhiều doanh nghiệp, với họ mục tiêu quan trọng nhất là phụng sự xã hội, dường như giống triết lý của đạo Phật. Người Việt mình thường tự nhận là theo đạo Phật, nhưng trong kinh doanh lại chưa theo được văn hóa Phật giáo. Vì sao vậy?
- Tôi nghĩ rằng hiện nay một số doanh nhân đang gặp khủng hoảng về triết lý sống, vì vậy họ sống theo bản năng, nặng về phần xác, nhẹ về phần hồn. Đã thế pháp luật hiện nay chưa đủ chặt chẽ để buộc những người này phải sống, làm việc và kinh doanh theo pháp luật.
Quan sát xã hội tôi thấy không chỉ một số doanh nhân mà đại bộ phận người dân cũng gặp khủng hoảng về triết lý sống. Tại sao xã hội ta hiện nay có quá nhiều người bị khủng hoảng về triết lý sống? Đây là một câu hỏi lớn mà những người có trách nhiệm phải cùng tìm câu trả lời

Nhà sư có nên kinh doanh?

Người Phật tử muốn đặt chân vào lĩnh vực kinh doanh thì cần phải được định hướng bằng những giá trị xuyên suốt của Phật giáo để không đi chệch mục đích tốt đẹp ban đầu.
>> Kinh doanh là dấn thân, thương trường là cõi Phật?
LTS: Ngay sau khi đăng tải bài viết của doanh nhân Tạ thị Ngọc Thảo: "Kinh doanh là dấn thân, thương trường là cõi Phật?", Tuần Việt Nam chúng tôi nhận được bài viết của Đại đức Thích Thanh Thắng bàn xung quanh chủ đề này. Tuần Việt Nam xin trân trọng đăng tải.
5 loại bất thiện sinh kế không nên làm
Người Phật tử quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế, bởi lẽ chất lượng cuộc sống cần phải được nhìn nhận thẳng thắn và khách quan trên cả hai bình diện vật chất và tinh thần. Sự giàu có của người Phật tử trong một quốc gia mà dân số chủ yếu theo Phật giáo không chỉ đánh giá chất lượng phát triển của một nền kinh tế mà còn chỉ ra những mục tiêu, đích hướng làm giàu thông qua những việc làm ích mình, lợi người và ích lợi cho cả hai.
"Nhà sư có nên làm giàu hay không?" luôn luôn là một đề tài nóng hổi, thu hút nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên, cũng cần xét đến quan niệm về việc "làm giàu" khi xã hội Việt Nam thời trung cận đại chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng Nho giáo. Và trong những thời điểm lịch sử cụ thể, xã hội cũng từng xem nhẹ vai trò của thương gia, thậm chí có cái nhìn không mấy thiện cảm về người giàu.
Có người viện giải "cái giàu" luôn kéo theo nó những hệ quả của tệ nạn, bất công, hay do quá đầy đủ về hưởng thụ vật chất mà làm tiêu mòn những giá trị tinh thần. Song thực tế không phải lúc nào cũng như vậy. Nếu người giàu có được sự dẫn dắt của một lý thuyết nhân bản mà không vướng bận quá nhiều vào những "quan điểm" làm giàu thì sẽ tạo ra những phương thức quản trị mới nhắm đến hạnh phúc của con người nhiều hơn.
Chính từ trong bản chất, Phật giáo cho rằng kinh tế cần phải được nhìn nhận như lĩnh vực mang lại sự ấm no, hạnh phúc, mà ấm no và hạnh phúc không bao giờ tách rời nhau ở bất kỳ mô hình kinh tế nào.
Dung hoà giữa phát triển kinh tế và văn hoá, tâm linh đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ và cả lòng từ bi nữa. Người Phật tử muốn đặt chân vào lĩnh vực kinh doanh thì cần phải được định hướng bằng những giá trị xuyên suốt của Phật giáo để không đi chệch mục đích tốt đẹp ban đầu.
Có nghĩa rằng sản phẩm nào được cung cấp ra thị trường cũng cần phải đáp ứng những tiêu chí cơ bản về giá trị nhân đạo, nhân văn và phải bảo đảm tối đa cho môi trường sống. Và chính vì dựa trên những giá trị nhân bản của Phật giáo mà việc quản lý kinh tế được đi theo đích hướng hạnh phúc và an lạc trong việc tạo ra của cải, gìn giữ của cải và sử dụng của cải.
Những người mang danh là Phật tử không thể thực hiện những mục tiêu kinh doanh xa rời những nguyên tắc đạo đức Phật giáo. Ảnh minh họa
Có năm loại bất thiện sinh kế mà Đức Phật khuyên người Phật tử không nên làm đó là: Kinh doanh vũ khí; buôn bán người; bán động vật đến các lò mổ; buôn bán rượu và các chất gây nghiện, gây say; kinh doanh chất độc hại.
Bên cạnh đó, Ðức Phật cũng nói rất rõ về vấn đề hạnh phúc vật chất, hạnh phúc tinh thần qua việc làm giàu, tiết kiệm, sử dụng của cải một cách hợp lý và thực hành thiện pháp. Cụ thể trong kinh Trường A Hàm, Ðức Phật dạy thanh niên Sigàla nên bỏ ra 1/4 tiền lời để tiêu dùng hàng ngày, dành 1/2 tiền lời để mở rộng đầu tư kinh doanh, và 1/4 còn lại để phòng ngừa sự bất trắc.
Kinh Tăng Nhất A Hàm chép lại sự kiện Ðức Phật giảng pháp cho trưởng giả Cấp Cô Ðộc về bốn điều hạnh phúc của người cư sĩ:
1) Hạnh phúc khi toại hưởng một nền kinh tế vững chắc, hoặc một tài sản dồi dào được tạo ra bằng những phương kế công minh chính trực.
2) Hạnh phúc khi được tiêu dùng tự do cho mình, cho gia đình, cho bằng hữu thân quyến và cho những việc phước thiện.
3) Hạnh phúc khi không có nợ nần.
4) Hạnh phúc được sống một cuộc đời ngay thẳng, trong sạch, không tạo ác bằng tư tưởng, lời nói và hành động.
Ðức Phật cũng không quên nhắc nhở Đại trưởng giả Cấp Cô Độc rằng hạnh phúc vật chất không bằng 1/16 của hạnh phúc tinh thần do đời sống lương thiện mang lại.
Thực tế, "kinh tế nhà chùa" được hình thành (tự giác hay tự phát) cũng không nằm ngoài sự chung sức của cả hai chúng tại gia và xuất gia. Vì vậy, trí tuệ của những người Phật tử cần phải được áp dụng vào thực tiễn cuộc sống.
Nhưng mục tiêu kinh doanh luôn phải dựa trên tinh thần của Bát chánh đạo. Cụ thể là Chánh nghiệp cũng như thực hành lời dạy của Đức Phật về những việc làm ích mình, lợi người và ích lợi cho cả hai. Một số nhà kinh tế học đã đánh giá sự phát triển của một quốc gia không chỉ dựa trên chỉ số GDP mà còn dựa trên chỉ số hạnh phúc, sự thỏa mãn tinh thần, và đã có những nhà nghiên cứu kinh tế đánh giá sự phát triển kinh tế thông qua những nguyên tắc cơ bản của Phật giáo.
Đức Phật hiểu rất rõ về giá trị của việc đảm bảo đời sống vật chất. Kinh Cakkavattisìhanàda Sutta có nói: Nghèo khổ là kết quả của sự bại hoại luân thường đạo lý và tội ác như trộm cắp, gian tham, hiếp dâm, thù oán, hung ác. Trong kinh Kùtadanta-Sutta, thuộc Trường A Hàm, Ðức Phật khuyến cáo rằng, muốn cho con người từ bỏ ác nghiệp thì phải cải thiện kinh tế xã hội.
Nên giúp giống và mọi vật liệu cần thiết về canh nông cho tá điền, cho dân cày; giúp vốn cho các thương gia và nghiệp đoàn; trả tiền thù lao thích đáng cho lao công. Khi dân chúng được giúp phương tiện để làm ra hoa lợi đủ xài, thì họ vừa lòng, không âu lo phiền muộn. Dĩ nhiên xứ sở sẽ được thanh bình và không còn trộm cướp, án mạng nữa.
Từ những tư liệu chỉ ra ấy, không ít những bài nghiên cứu đề cập đến lĩnh vực "kinh tế học Phật giáo" và vai trò của các nhà sư trước xu thế chung của thời đại. Và có người đã đặt ra câu hỏi: Chùa làm kinh doanh trong phạm vi có thể, tại sao không? Vấn đề nhấn mạnh ở đây chính là "phạm vi có thể", tức những phạm vi phù hợp với giáo luật và năng lực của các nhà sư.
Không xa rời nguyên tắc đạo đức Phật giáo
Làm kinh tế để có nhiều điều kiện hơn đóng góp cho phúc lợi xã hội. Đó là những điều đã được đặt ra từ rất lâu trong đời sống tu viện ở một số truyền thống Phật giáo trên thế giới. Thực tế người Phật tử đã, đang và vẫn sẽ làm kinh tế dựa trên những mục tiêu tốt đẹp đó.
Nếu đặt vấn đề người Phật tử làm kinh tế thì Đức Phật đã đặt ra cách đây hơn 2.500 năm. Vấn đề ở đây là vai trò chủ động của các nhà sư trong nền kinh tế.
Các nhà sư làm kinh tế, dĩ nhiên đòi hỏi phải thoát ra ngoài tiêu chí "có nhiều tiền". Bằng không hãy để điều đó cho những người tại gia làm, và họ có thể làm tốt hơn các nhà sư. Vậy phải chăng, thực tế xã hội đang có những khuyến khích nhà sư làm kinh tế như một sự hướng tâm cho xã hội bằng các dự án phát triển lối sống cộng đồng, tác động đến những mục tiêu kinh tế đang có nguy cơ làm tổn hại đến các giá trị nhân đạo, nhân văn và môi trường sống?
Những người mang danh là Phật tử không thể thực hiện những mục tiêu kinh doanh mà xa rời những nguyên tắc đạo đức Phật giáo. Phật giáo tồn tại dựa trên tinh thần cơ bản là "khế lý, khế cơ", tức khả năng "nhập thế", thích ứng cao với những đòi hỏi của thời đại, nên không thể đơn thuần xem các giá trị Phật giáo là tĩnh tại, bất biến, bởi vốn dĩ những giá trị gì mất đi hay còn lại luôn cho người ta những trải nghiệm quý báu.
Hầu hết mọi người đều có thể nói một cách dễ dàng điều ước của mình: Ước gì lúc này tôi có thật nhiều tiền để giúp đỡ người khác. Nhưng có thực khi có nhiều tiền thì người ấy sẽ giúp đỡ người khác không? Người Phật tử chắc chắn không thể thất hứa với chính mình nếu trong tâm anh ta luôn luôn nuôi dưỡng chí nguyện làm giàu để cứu giúp người.
Đó không phải là "vận may" do một đấng tối cao nào ban phát mà là tinh thần nhân đạo đã được nuôi dưỡng một cách thường xuyên, liên tục để đến lúc nào đó, nó mới trổ quả. Điều đó khác với một người giàu "muốn" trở thành một nhà nhân đạo hay muốn lấy tiếng cho thương hiệu của mình một cách phù phiếm.
Sự giàu có của anh ta phải trải qua một giai đoạn đổi thay (thậm chí đấu tranh) trong nhận thức khi tiếp cận những lời dạy cao cả của Đức Phật về lòng từ bi, vị tha, để anh ta có thể sử dụng của cải của mình một cách hữu ích nhất cho cộng đồng. Anh ta cần phải hiểu, chừng nào xã hội còn làm giàu cho anh ta nhiều hơn cái anh bỏ ra để trợ giúp cho người khác thì anh vẫn chưa thực sự trở thành "người giàu" đúng nghĩa. Đó là chưa kể nhiều người trở nên giàu có do làm ăn phi pháp, gây nhiều tổn hại cho con người và môi trường sinh thái.
Sự giàu có về tiền bạc cần trải qua một quá trình kinh doanh chính đáng, và đồng tiền không thể được sử dụng một cách tuỳ tiện, lãng phí. Một nhà sư có thể làm kinh tế? Sẽ là quá sớm để nói đến vấn đề hiệu quả khi guồng quay "tiền bạc" luôn luôn đi về phía tha hoá, và liệu các nguồn lực kinh tế có được do uy tín đạo đức có đủ sức cạnh tranh với những khắc nghiệt của nền kinh tế thị trường?
Những lĩnh vực như "trà đạo", "hoa đạo"... các nhà sư có thể làm hiệu quả, lại quảng bá được hình ảnh Việt Nam. Ảnh minh họa, nguồn: rfviet.com
Lúc đó "sản phẩm" mà các nhà sư đưa ra phải là những sản phẩm đáp ứng tất cả những nhu cầu tối thiểu của thị trường, tức sản phẩm thiết thực và hữu ích cho cộng đồng. Có thể lập một ngân hàng nhà chùa dành cho người nghèo, mà trước tiên việc hỗ trợ vốn vay cho những Phật tử nghèo trên căn bản của những ràng buộc về mặt đạo đức và niền tin, cũng như tư vấn đầy đủ cho những việc làm ngắn và dài hạn của người Phật tử, để đồng tiền có thể sinh lời đủ sức nuôi sống họ. Xin ví dụ về việc phát triển "đài hoá thân" (hỏa thiêu) trên diện rộng, vừa phải đưa vào đó những lý thuyết, phong tục của Phật giáo, vừa tuyên truyền cho những lợi ích về việc hoả thiêu bằng điện rất có lợi cho môi trường sống, giảm chặt gỗ trên rừng, giảm ô nhiễm nguồn nước ngầm, giảm chi phí tang ma... Hay đơn giản như các lĩnh vực như "trà đạo", "hoa đạo"... với những sản phẩm nông nghiệp có giá trị thương hiệu. Những lĩnh vực này, các nhà sư hoàn toàn có thể làm một cách hiệu quả, song song với việc quảng bá hình ảnh đất nước con người Việt Nam.
Không có biểu tượng thuộc về của riêng ai trong tinh thần phục vụ con người và làm thăng hoa cái đẹp. Nếu một nhà sư có thể làm tốt vấn đề chăm sóc môi trường thì bản thân công việc kinh doanh đó là một trong những hiệu quả của nhận thức tu hành khi có thể đưa những giá trị xuyên suốt và giá trị thời điểm của Phật giáo đi vào cuộc sống, chứ không phải là những lý thuyết khô khan mà mỗi khi nói ra người ta chỉ biết lắc đầu "nói thì hay" nhưng không thấy làm.
Các lý thuyết kinh tế luôn luôn thay đổi và bổ sung những lý luận mới. Duy chỉ mục đích làm giàu được soi sáng bởi một định hướng giá trị Phật giáo là không thay đổi trong ý nghĩa làm lợi cho cuộc sống của chính con người. Và mối quan tâm chính của kinh tế Phật giáo chính là hạnh phúc hay an lạc (an lạc thụ dụng, an lạc sở hữu), song song với những hoạt động kinh tế phù hợp luật pháp quốc gia.
Nhà sư có bổn phận và trách nhiệm hướng dẫn đúng đắn cho người Phật tử về mục đích làm giàu và hiểu được giá trị đích thực của hạnh phúc. Nhà sư có thể trở thành những nhà tư vấn phát triển trên tinh thần đạo đức học Phật giáo, cùng với với quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Một sản phẩm do một người Phật tử kinh doanh mà dựa trên những thang giá trị của Phật giáo chắc chắn phải là một sản phẩm hữu ích.
Và rõ ràng trong mối tương quan, phụ thuộc lẫn nhau giữa các mối quan hệ xã hội, không thể nói rằng nhà sư đang không làm kinh tế. Vì đỉnh cao của sự phát triển kinh tế vật chất cũng gắn với những nhu cầu cơ bản của con người trong một đích hướng hạnh phúc. Nếu chỉ nhìn đơn thuần "làm kinh tế" giống như một sự mặc cả mua bán theo kiểu cạnh tranh "ta sống, nó chết" trong thương trường thì không thể hiểu hết được những giá trị mà Phật giáo hướng đến.
Làm kinh tế theo quan điểm Phật giáo
Nhà sư làm kinh tế không nhất thiết phải là người ngồi bán sản phẩm và đếm tiền. Mà có thể là nhà quản trị, hay nhà tư vấn về sức khoẻ tinh thần cho những nhân viên đang mệt mỏi, lo âu, bất an trong đời sống. Và với những phương pháp thực hành hữu hiệu, công ty nào áp dụng sự rèn luyện Phật giáo vào trong quản trị kinh doanh thì hiệu quả kinh tế mang lại cũng không hề nhỏ.
Chẳng hạn một công ty có thể ký kết hợp đồng với các nhà sư về các khoá tu thiền, hay các buổi thuyết giảng về đạo đức công dân, triết lý sống hay tạo thêm niềm tin vào xã hội... thì đó chính là nhà sư đã tham dự vào công việc chung của một guồng máy kinh tế. Và chỉ có như vậy mới tạo ra sự bình đẳng trong cơ cấu khách quan của "kiến trúc thượng tầng" xã hội.
Sự đảm bảo cho các giá trị được xuất hiện mà đem đến niềm tin, sự an lạc thì chính khi ấy sản phẩm sẽ tiến dần đến cái đẹp và sự thăng hoa, bởi sản phẩm không đơn thuần chỉ mang một công dụng thuần vật lý hay chỉ là "cái hữu ích" mà còn tiến tới cái đẹp, cái cao cả.
Nhà sư có thể tư vấn sức khỏe tinh thần cho những nhân viên đang mệt mỏi, lo âu. Ảnh minh họa
Chính lý do này mà từ lâu, một đất nước có 2.000 năm văn hoá Phật giáo lại gặp phải những khủng hoảng trong lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, triết lý sống. Và thật khó để xác định một nền đạo đức quốc gia, trong khi Phật giáo có khả năng bù đắp rất nhiều vào khoảng trống của một nền luân lý xã hội.
"Tri và hành" hợp nhất, chính là vận dụng hiệu quả những nguyên tắc giáo lý theo đúng con đường Chánh nghiệp. Vì bản thân sự hiện diện và kết thúc cuộc đời tu hành của nhà sư cũng được đánh giá bằng những "công đức" (có thể gọi là những đóng góp phúc lợi) mà nhà sư ấy đã tạo ra cho đời sống hạnh phúc của xã hội: Vì hạnh phúc của số đông.
Nếu một công việc kinh doanh có thể tạo ra hạnh phúc cho số đông thì không cần phải đặt câu hỏi: Nhà sư làm kinh tế - tại sao không? mà chắc chắn lúc đó chúng ta sẽ đặt câu hỏi: Làm thế nào để kiếm được nhiều tiền giúp ích cho cộng đồng mà vẫn giữ được sự an lạc, thanh thản như các nhà sư? Đó mới là đích hướng cho những câu hỏi liên quan đến việc làm kinh tế theo quan điểm Phật giáo.
Nên kinh doanh dựa vào thực tiễn các giá trị hơn là để ý vào các nguyên tắc tranh luận nên hay không nên, bởi con đường Bồ tát đạo là con đường dấn thân vào các lĩnh vực cuộc sống để làm lợi cho cuộc sống, mà nhà sư không thể dửng dưng.
Tăng nguồn "vốn xã hội" chính là làm kinh tế một cách hiệu quả, nói như Phật hoàng Trần Nhân Tông của báu đó vốn sẵn đủ trong mỗi người, đừng nhọc lòng tìm kiếm ở bên ngoài. Thúc đẩy sự tự thắp sáng, tự điều chỉnh của mỗi cá nhân, chính là khai mở nguồn vốn xã hội sẵn đủ đó. Chẳng hạn, những thiệt hại về kinh tế do nạn phá thai, do tàn phá môi trường, do tai nạn giao thông, do hôn nhân đổ vỡ... không chỉ giảm tốc nền kinh tế mà còn gia tăng sự đau khổ trong đời sống tinh thần.
Nhà sư có thể tham gia một cách hiệu quả vào lĩnh vực này bằng các dự án cụ thể, khi ấy họ thực sự tham dự vào guồng máy phát triển kinh tế quốc gia bằng chính thước đo của hạnh phúc. Vấn đề ở đây là những cơ chế pháp luật và giáo luật nào sẽ được áp dụng để thúc đẩy những nhà sư và người Phật tử tham gia vào các dự án có khả năng định hướng và làm đổi thay lối sống cộng đồng.
Trong kinh Kutadana - Trường Bộ kinh, Đức Phật nói với vua Mahàvijita rằng: "Những vị nào trong quốc độ của nhà vua nỗ lực về nông nghiệp và mục súc, tôn vương hãy cấp cho những vị ấy hạt giống và thực vật. Những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực về thương nghiệp, tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vốn đầu tư. Những vị nào trong quốc độ nhà vua nỗ lực quan chức, tôn vương hãy cấp cho những vị ấy vật thực và lương bổng. Khi những người này chuyên tâm vào nghề riêng của mình thì sẽ không nhiễu hại quốc độ nhà vua. Và khi ngân quỹ nhà vua được dồi dào, quốc độ sẽ được an cư lạc nghiệp".
Khủng hoảng triết lý sống thì cần phải có những triết lý có khả năng chống lại sự khủng hoảng này. Và Phật giáo gần đây, không phải ngẫu nhiên được Liên Hiệp Quốc lựa chọn như một nguyên tắc sống, có khả năng định hướng cho sự phát triển hài hòa. Sự thâm nhập giữa kinh tế và cạnh tranh giống như một "cuộc chiến" giành thị phần. Chính vì vậy nguồn gốc của những tư tưởng "bạo lực" trong kinh tế đã trở thành một quán tính sống mà sau này người ta lý thuyết hoá nó trở thành những "quy luật".
Không dễ để trở thành nhà quản trị kinh tế tài ba
Sự cạnh tranh trong lợi nhuận đã khiến cho thế giới trở nên mất cân bằng và thiếu sự dung hòa. Chính sự thiếu dung hoà trong cạnh tranh kinh tế đang dẫn đến sự thiếu dung hoà trong các lĩnh vực khác của cuộc sống. Hãy nhìn vào cách người ta đi đường, xếp hàng trong mua bán, tranh nhau lên tàu xe... thì sẽ tỏ mờ nhận ra những tác động của việc khủng hoảng triết lý sống.
Vì vậy giữ vai trò dung hoà để làm cho nguồn vốn xã hội tự phát sinh thì đó chính là mục đích phát triển nền kinh tế xanh. Kinh tế xanh là kinh tế đảm bảo được những yếu tố phi bạo lực, phi cưỡng đoạt. Lợi nhuận là một sự chia sẻ cho những hoạt động vì lợi ích cộng đồng. Nguyên tắc đạo đức quốc gia là một phần để chuyển biến nền kinh tế khi theo đuổi những mục đích hài hoà và hạnh phúc. Một phần đáng kể đó là một nền kinh tế cạnh tranh bình đẳng, minh bạch, công khai, ít những tiếng than thở về bóc lột, tham nhũng, hối lộ, chạy chức quyền, chạy dự án... Đó cũng chính là một nền kinh tế giảm thiểu khổ đau.
Trong kinh Ánh sáng hoàng kim, Đức Phật giảng: "Quốc dân tạo ác nghiệp, quốc vương không cấm đoán, thế là phi chánh pháp, không đúng cách trị đuổi. Thấy ác mà không chặn, phi pháp tự tưới lớn, thế là trong vương quốc, gian trá ngày càng nhiều. Quốc vương thấy quốc dân, làm ác mà không ngăn, thì chư thiên Đạo Lợi, cùng sinh ra phẫn nộ. Nên quốc chính thương tổn, dối trá lan khắp nước, bị ngoại thù xâm lược, huỷ diệt cả quốc vương. Nhà ở với đồ dùng, tài sản đều tan hoang, nịnh và láo đa dạng, chiếm đoạt hại lẫn nhau...".
Trả lời câu hỏi xu hướng sống hiện nay của con người luôn hướng về lòng vị tha hay ích kỷ thì sẽ trả lời được câu hỏi cho một nền đạo đức quốc gia. Và chính nó sẽ tháo gỡ cho cuộc khủng hoảng triết lý sống mà nhiều người đang cảnh báo. Khắc phục trước tiên chính là ưu tiên cho văn hoá, nhằm cân bằng lại sự phát triển kinh tế đã khiến cho chiếc đòn gánh đời sống trở nên mất cân bằng nghiêm trọng.
Sự mất cân bằng đó lại chính là cơ sở của những xung đột xã hội ở các tầm mức khác nhau. Chính vì vậy cần phải hiểu vấn đề nhà sư "làm kinh tế" bằng cách khai mở nguồn vốn xã hội sẵn đủ ở nơi mỗi con người, không phân biệt là tại gia hay xuất gia. Nguồn vốn đó có sinh lời hay không, còn tuỳ thuộc vào khả năng và sự nỗ lực dấn thân của mỗi cá nhân vì những giá trị và ích lợi chung của cộng đồng.
Do đó, nếu chỉ hiểu đơn giản, hạnh phúc chỉ là sự tìm kiếm vật chất, hay cần phải làm giàu tiền bạc cho thật nhiều để giúp đỡ người khác, thì chính bản thân nền kinh tế sẽ trở nên khập khiễng. Đó không phải là một nền kinh tế mà các quốc gia tiến bộ mong đợi, và khi đánh giá sự tăng trưởng GDP cũng nên tiến hành song song với việc đánh giá sự tăng trưởng của chỉ số hạnh phúc quốc gia.
Quyền "chiến thắng chính mình" được thử thách qua các trở ngại, đó là bản lĩnh được tôi rèn của bất cứ nhà kinh doanh nào muốn bước chân vào thương trường, nhà sư cũng không ngoại lệ. Như vậy, người dấn thân không thể mơ hồ về khả năng của mình hay ỷ lại vào một sự ban phát vô hình. Quyền tự chủ con người khi làm ra đồng tiền cũng chính là quyền tự chủ của con người khi sử dụng đồng tiền.
Và quyền tự chủ ấy không cho phép lãng phí đồng tiền vào "lòng thương hại" không do mình tự chủ, ở đó lòng từ bi phát khởi ngay khi ích lợi được chia sẻ một cách có trí tuệ và hữu ích. Lười biếng, ưa hưởng thụ mà mong bước chân vào làm giàu thì chính bản thân nó đã trái ngược với các nguyên tắc nhân quả trong hành động.
Nếu chỉ hiểu đơn giản, hạnh phúc chỉ là sự tìm kiếm vật chất, hay phải làm giàu tiền bạc cho thật nhiều để giúp đỡ người khác, thì chính bản thân nền kinh tế sẽ trở nên khập khiễng. Ảnh minh h
Vấn đề cần đặt ra là sự ích kỷ trong bản thân mỗi con người có thể khiến nhà sư kiếm tiền và sử dụng đồng tiền đúng mục đích hay không? Điều đó tồn tại chủ yếu vào triết lý sống mà các giá trị Phật giáo đã tạo nên trong quá trình nhà sư nhận thức và trải nghiệm đời sống tu hành trước những cảnh bất hạnh hay khổ đau của đồng loại.
Nhà sư có triết lý sống thì bước vào kinh doanh sẽ không khủng hoảng, nao núng ngay cả khi nhà sư không thể làm tốt hơn để duy trì một công ty. Nhưng nếu nhà sư tham dự vào nền kinh tế bằng trách nhiệm xã hội và những ràng buộc của cơ sở pháp lý thì nhất định sẽ không cho phép nhà sư thất bại, vì đồng tiền đó là công sức của rất nhiều người.
Không dễ để một nhà sư trở thành nhà quản trị kinh tế tài ba. Cũng không dễ để nhà sư quản lý hết các bộ óc thế tục, bởi tiến trình "thế tục hoá" diễn ra ngay trong chính bản thân nhà sư, đặc biệt khi các mối quan hệ xã hội thân tộc, huyết tộc còn ảnh hưởng nặng nề. Sự tham lam, ích kỷ và lối sống hưởng thụ thực dụng chính là rủi ro lớn nhất trong kinh doanh của người tu hành. Dù giáo lý Phật giáo luôn mang đậm tinh thần "khế lý, khế cơ" nhưng đứng trước pháp luật mọi người đều bình đẳng.
Cho nên chúng ta khó có thể khuyến khích nhà sư làm kinh tế theo cách suy nghĩ đơn thuần là làm giàu của cải. Vì bản thân nhà sư muốn tham dự vào guồng máy kinh tế, nhà sư cần phải được đào tạo về cơ bản những lĩnh vực thuộc về kinh tế học (nói theo tinh thần Phật giáo là "ngũ minh").
Và nếu như vậy chắc chắn sẽ xảy ra sự phân loại trong các nhà sư và dẫn đến phá vỡ dần cấu trúc của tăng đoàn, bởi vốn dĩ người Phật tử luôn đòi hỏi nhà sư cần phải chú trọng nhiều hơn đến việc làm giàu cho đời sống tinh thần, cũng như hạnh phúc tinh thần của chúng sinh.
Nhà sư không nên làm kinh tế, vì...
Nhà sư muốn chạy đuổi theo thế gian qua sự cạnh tranh kinh tế, thì bản thân nhà sư phải xác định được, hay chí ít có một lý thuyết về giá trị làm điểm tựa cho những mục đích kinh tế xanh, làm lợi cho cộng đồng. Có thể thông qua nhà sư mà huy động các nguồn vốn xã hội để thực hiện những mục tiêu này. Lúc đó, cần phải nhắc đến những giá trị xuyên suốt mà Đức Phật đã chỉ dạy.
Ngay cả khi làm kinh tế để yêu nước, làm lợi cho tổ chức... cũng không thể đi ngoài những mục tiêu của kinh tế "phi bạo lực", và không thể làm kinh tế để khai thác kiệt quệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, chống lại tự nhiên, hay chống lại tương lai lâu dài của loài người.
Không những thế cần tuân thủ luật Phật và những nguyên tắc của Tăng đoàn về việc thụ dụng của cải. Nếu tài sản kinh doanh chỉ thuộc về sở hữu của cá nhân nhà sư đó thì sẽ dẫn đến những hệ quả tiêu cực, nếu không muốn nói là di hại cho mai sau. Thế nên, việc kinh doanh của nhà sư phải được hiểu như việc thực hành Bồ tát đạo, trong đó có sáu nguyên tắc: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Tài sản đó cần được tư tưởng "Bố thí ba la mật" dẫn dắt với một cộng đồng Tăng già có uy tín đảm bảo.
Trong kinh Bố thí, Đức Phật dạy: "Các Tỳ Kheo, có hai loại bố thí - tài thí và pháp thí; trong hai loại bố thí này, pháp thí là cao nhất. Các Tỳ kheo, có hai sự phân phát: Phân phát của cải và phân phát đạo pháp; trong hai sự phân phát này, phân phát đạo pháp là cao nhất. Các Tỳ kheo, có hai cách giúp đỡ (nhiêu ích - anuggaha): Giúp đỡ của cải và giúp đỡ đạo pháp; trong hai cách giúp đỡ này, giúp đỡ đạo pháp là cao nhất".
Ở Kinh Tăng Nhất A Hàm, Ðức Phật cho biết có bốn pháp đưa con người đến hạnh phúc trong đời hiện tại:
1)     Phải mẫn cán và cương quyết, tận tâm và hăng hái trong nghề nghiệp, bất cứ nghề nào, và phải thông thạo nghề ấy.
2)     Phải gìn giữ lời lãi chính đáng làm ra do mồ hôi công sức của mình, đừng để cho kẻ gian tham trộm cắp.
3)     Phải có bạn lành, trung thành, học thức, đạo đức, quảng đại, trí tuệ để giúp mình giữ vững con đường chân chính và xa lánh nẻo tà.
4)     Phải tiêu xài cho có chừng mực, tùy theo hoa lợi của mình. Không phung phí, không bủn xỉn, nghĩa là chẳng nên tích trữ vì bủn xỉn và cũng chẳng nên buông thả xa hoa. Nói cách khác, phải sống cho vừa phải với tài sản sự nghiệp của mình.
Không thể làm kinh tế để khai thác kiệt quệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, chống lại tự nhiên. Ảnh minh họa
Ðức Phật chỉ dạy bốn đức để đưa đến sự hạnh phúc: a) Phải có đức tin và tín nhiệm nơi giá trị cao thượng của đạo đức, tinh thần và trí tuệ. b) Không sát sinh hại vật, không trộm cắp, không lường gạt, không tà dâm, không nói dối, không sử dụng các chất gây nghiện, gây say. c) Phải bố thí, quảng đại, không tham luyến. d) Phải khai thông tuệ giác để tận diệt nguồn gốc của sự khổ hầu tiến đến đạo quả Niết Bàn.
Kinh tế Phật giáo còn được nhìn nhận trong những lý giải vô thường, mà chính dân gian đã đúc kết "không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời". Nên hiểu "họ" và "đời" ở đây là một sự phiếm chỉ cho những khả năng thay đổi bất ngờ và vai trò của cá nhân trong việc duy trì và sử dụng tài sản. Sự huỷ hoại của cải có thể đến trong một vài giờ, một vài năm, cho đến một vài chục năm. Hiện thực chỉ ra, trong khi nắm giữ của cải, sự do dự khi chia sẻ (kinh tế) giữa ngôi chùa lớn với ngôi chùa nhỏ, đã cho thấy không đơn giản để nhà sư làm kinh tế khi những động lực hành Bồ tát đạo còn chưa thuần thục.
Bằng không, việc nhà sư làm kinh tế cũng không ngoài cuộc chạy đua để dồn tụ của cải nhằm phát triển ngôi chùa của mình giống như một "công ty" không hơn không kém. Nếu không trả lời được câu hỏi này, có lẽ nhà sư không nên làm kinh tế, vì trước sau, chính nhà sư là người sẽ khoét sâu thêm khoảng cách giàu nghèo vốn đang gia tăng trong xã hội, mà vốn dĩ của cải được nhìn nhận theo tinh thần Phật giáo là luôn luôn vô thường, không bền vững.
Mặt khác, những cơ sở pháp lý hay hệ thống kinh tế liên quan, chưa có nhiều điều kiện để nhà sư phát triển mô hình "kinh tế xanh" của mình, đặc biệt khi nó được các đối tượng cạnh tranh khác nhắm tới vì mục đích lợi nhuận chứ không phải vì xây dựng một giá trị nhân văn hay một nền đạo đức quốc gia.
Nhà sư không bao giờ là người đứng ngoài mọi nền kinh tế, nên việc tham dự của nhà sư vào nền kinh tế không ai có thể phủ nhận hay ngăn cản, nhưng khi nhà sư đã dấn thân trực tiếp "kinh doanh" thì sẽ không thừa khi lặp lại câu hỏi: Làm cái gì, làm như thế nào và làm ích lợi cho ai?

Sao lại đặt câu hỏi: "Thương trường là cõi Phật?"

Cuộc sống không chấp nhận sự nửa vời, mập mờ
Cuộc sống có vô số những câu hỏi khác nhau. Một quá trình triền miên với những câu hỏi cũ và mới. Những câu hỏi dễ trả lời, những câu hỏi không dễ hoặc không thể có câu trả lời. Có câu hỏi do cuộc sống hằng ngày đặt ra. Lại có câu hỏi chung chung, vu vơ, giải đáp cũng được mà không cũng chẳng sao.
Loại câu hỏi thứ nhất gắn với một vấn đề nảy sinh có thật, nó đòi hỏi phải được giải đáp ngay càng sớm càng tốt. Loại câu hỏi thứ hai thực chất giống như một giả thuyết, câu hỏi được tung ra cốt để ướm thử, để thăm dò - những câu hỏi mở.
Thế nên có người đặt câu hỏi "Nhà chùa có nên làm kinh doanh hay không?" Nhà chùa xưa nay phấn đấu để sao cho thoát khỏi cả vòng luân hồi, nữa là lại sa vào lĩnh vực kinh doanh vốn gắn liền với tham, sân, si. Người hỏi chắc đã biết câu trả lời. Thế mà người ta vẫn cứ hỏi.
Ở bên cạnh chúng ta, những quốc gia theo đạo Phật đâu có thấy bao giờ họ đặt câu hỏi kiểu này. Nhà văn Nguyên Ngọc kể về các nhà sư đi khất thực mỗi sớm mai ở Luang Prabang (Lào): "Trước khi các sư đến, người ta nâng giỏ xôi lên ngang trán, lầm rầm khấn vái. Không phải bố thí mà là dâng hiến. Các sư đi thành đoàn dài, người hai bên đường cung kính dâng thức ăn. Khi các sư đã đi qua rồi, người ta vẫn ngồi yên hồi lâu, chắp tay và nhắm mắt. Một khoảnh khắc vọng về cõi vô thường, mỗi sáng lại được chạm nhẹ vào đấy trước khi dấn vào cuộc lầm bụi hằng ngày" (nguồn: Báo Tuổi Trẻ Tết 2010).
Nhà chùa xưa nay phấn đấu để sao cho thoát khỏi cả vòng luân hồi, nữa là lại sa vào lĩnh vực kinh doanh vốn gắn liền với tham, sân, si. Ảnh minh họa
Có người lại đề xuất nhà chùa có thể làm kinh doanh trong phạm vi có thể. Họ đặt câu hỏi, "Tại sao không?". Rồi giải thích rằng bởi vì thị trường có nhu cầu nên nhà chùa có thể cung cấp những sản phẩm không có đối tượng cạnh tranh, chẳng hạn, du lịch tâm linh, công viên nghĩa trang cao cấp (có "kỷ lục cao cấp" không đấy?). Thật là một phát biểu lủng củng, ý trước phủ nhận ý sau! Bài học vỡ lòng của kinh doanh là tuân thủ quy luật cung - cầu và cố gắng tạo lợi nhuận tối đa. Thị trường cạnh tranh dữ dội nhất nhiều khi mới là thị trường có lợi nhuận nhiều nhất. Cuộc sống không chấp nhận sự nửa vời, mập mờ. Hoặc bố thí hoặc kinh doanh. Cái gì nửa vời, nửa nạc nửa mỡ thì đều dễ bị người khác lợi dụng. Rồi thì nhà chùa có khi chẳng được cái gì, tiền mất mà uy tín cũng mất.
Lại có người đề cập: "Văn hóa Phật giáo trong kinh doanh". Đây từng là một vấn đề tranh luận lớn giữa thuyết duy văn hóa (culturalist) và thuyết duy cấu trúc (structuralist). Thuyết duy văn hóa coi trọng cái chủ quan, đề cao giá trị cổ truyền bất biến trong khi thuyết duy cấu trúc coi trọng cái khách quan, đề cao luật pháp và bộ máy hành chính liên tục được cải tiến (mô hình thuần lý/pháp luật - the rational/legal model hay còn gọi là mô hình Anh/Mỹ - The Anglo-American model).
Nhưng văn hóa không hoàn toàn mang tính tiền định (deterministic) và không phải là một quá trình tĩnh. Mặt khác, không phải ai cũng thích và cũng có khả năng kinh doanh. Thuyết duy văn hóa thay thế cá nhân bằng một cái gì đó chung chung, trừu tượng, do đó nó không đáng tin.
Nơi con người hướng tâm đến cõi Phật
Cuộc khủng hoảng tài chính của châu Á năm 1997 là một ví dụ về sự thất bại của thuyết duy văn hóa. Châu Á phải trả giá đắt cho sự kiêu ngạo và tự mãn với cái gọi là "những giá trị châu Á" (Asian values"). Kể từ sau đó hầu hết các quốc gia châu Á đều lựa chọn mô hình thuần lý/pháp luật.
Trung Quốc vẫn tiếp tục đề cao những giá trị châu Á (gia đình, quan hệ cá nhân (guanxi), sĩ diện (mianzi), quan niệm "đầu gà hơn má lợn" v.v.) nên đã đi đến một thứ chủ nghĩa tư bản móc ngoặc hay còn gọi là chủ nghĩa tư bản cánh hẩu (crony capitalism).
Ấn Độ - một quốc gia có nhiều điểm giống Trung Quốc (đất rộng người đông, dùng phát triển kinh tế để tự khẳng định mình) đã đi theo mô hình thuần lý/pháp luật (người ta phân biệt rạch ròi giữa Phật giáo và kinh doanh), và trên thực tế Ấn Độ phát triển bền vững hơn, hiệu quả hơn, ít móc ngoặc, tức ít tham nhũng hơn Trung Quốc (so sánh tỉ lệ lợi nhuận ròng giữa hai quốc gia này: Ô-tô: Trung Quốc 17,4%, Ấn Độ 20,6%. Năng lượng: Trung Quốc 17,6%, Ấn Độ 21,4%. Phần mềm: Trung Quốc 6,5%, Ấn Độ 27,3%. Hàng hóa: Trung Quốc 8,1%, Ấn Độ 17,2%... (Nguồn: Tạp chí The Economist ngày 8/12/2005).
Nhưng hãy thử hỏi giờ đây nhà chùa có thua kém gì xã hội bên ngoài. Chùa chiền dễ dàng mọc lên ở khắp nơi, các địa phương thi nhau tôn tạo, sửa chữa chùa cũ, có khi đập cũ để xây mới hoặc xây mới hoàn toàn từ đầu. Hình ảnh nhà sư lái ô tô, đeo kính râm nhãn hiệu thời thượng giờ đây không phải là hiếm. Có chùa khi có việc còn huy động được cả tàu bay, ô tô sang trọng tiền tỉ. Đời sống kinh tế đi lên thì nhà chùa cũng được hưởng lợi, chẳng nên nỡ thắc mắc, xét nét chuyện này.
Cả xã hội như đang ở trong những cơn sốt. Sốt đất đai. Sốt dự án. Sốt vàng. Sốt chứng khoán. Sốt chạy trường cho con, sốt chạy điểm, sốt chạy ghế... Hiếm ai thoát khỏi cái tâm lý sợ mất phần, sợ mình không đến lượt, sợ người khác được phần to hơn. Từ chuyện nhỏ cho tới chuyện lớn. Từ việc ăn uống, nói năng, đi lại, điều khiển xe cộ trên đường phố, lên xuống tàu xe, ra vào thang máy... cho tới xoay sở làm ăn...
Ai ai cũng vội vã, hối hả, cuống cuồng cứ như thể sợ đến lượt mình được gọi tên mà lại vắng mặt! Ở các thành phố biển, hễ mảnh đất nào ở vị trí thuận lợi, bãi biển nào đẹp đẽ hấp dẫn thì y như rằng đã có chủ hoặc đã có đại gia "xếp gạch" từ trước. Người dân muốn tắm biển phải mua vé vào cửa. Còn nếu muốn tắm miễn phí thì cứ tới những khu vực vừa xấu vừa bẩn vì ở gần cửa sông ....
Cả xã hội chạy theo cơn sốt: sốt đất, sốt chứng khoán... Ảnh minh họa
Cuộc sống xã hội sôi động, hừng hực, xô bồ ấy từng ngày từng giờ từng phút ùa từ bên ngoài vào nhà chùa theo đủ mọi cách, theo đủ mọi con đường. Nhà chùa chống chọi thế nào? Chỉ có nhà chùa mới có thể trả lời. Tất nhiên con người phải sống cuộc sống của mình mỗi ngày. Không thể thoái thác - bởi "có thực mới vực được đạo". Song, nhà chùa không phải là nơi dành cho sự "phú quý sinh lễ nghĩa", không phải là nơi người ta tới đó để lễ tạ vì cầu được ước thấy. Nhà chùa không phải là nơi để cầu lộc, dù người ta gọi lái đi là "lộc rơi lộc vãi". Nhà chùa là nơi để con người hướng tâm đến cõi Phật, ngộ ra, hoặc tỉnh thức những điều tốt đẹp ở bên trong tâm hồn.
Nếu đặt câu hỏi: "Kinh doanh là dấn thân, thương trường là cõi Phật?", rất có thể, một ngày nào đó người ta lại tiếp tục đặt thêm một câu hỏi nữa. Ví dụ: "Liệu nhà chùa có được phép làm ăn lớn hay không?"


Nguồn: Tuanvietnam

--------------

Gài độ