30/04/2010

30/4 và Gia tài của mẹ

SỰ KIỆN 30 THÁNG TƯ
Sẽ cần thêm bao nhiêu thời gian/Để Ba mươi tháng tư thôi là ngày “Quốc hận”?/Sẽ cần thêm bao nhiêu tháng năm/Để “Quốc giỗ” cho những người tử trận/Không phân biệt thắng - thua, được - mất.
        
           35 năm. Không biết bao nhiêu bài viết ngắn dài đủ cả, không thiếu cả những công trình nghiên cứu quốc gia, quốc tế dài ngoằng ngoẵngnhìn nhận về sự kiện 30 tháng Tư 1975. Hóa giải- hòa giải cũng nghe đến ù lỗ tai rồi.
          Tôi đọc cũng nhiều, đọc kỹ. Nhưng quả thật ít cái nào tạo được ấn tượng đặc biệt nơi tôi bằng mấy câu ngắn giản đơn này. Không nhớ đã dẫn mấy câu sau bao nhiêu lần trên các bài viết của mình. Xin một lần nữa dẫn lại. Tác giả là chị Thanh Chung, một phụ nữ Việt hiện đang làm việc cho tổ chức Quĩ nhi đồng Liên hiệp quốc (UNICEP) tại New York. Một phụ nữ Việt thấp nhỏ, giản dị đến khiêm nhường nhưng đã cho tôi nhiều ấn tượng mạnh, dù chỉ một lần ngồi với nhau tại New York, vội vã một cốc cà phê và bữa cơm trưa.
Sẽ cần thêm bao nhiêu thời gian
Để Ba mươi tháng tư thôi là ngày “Quốc hận”?
Sẽ cần thêm bao nhiêu tháng năm
Để “Quốc giỗ” cho những người tử trận
Không phân biệt thắng - thua, được - mất.
(THANH CHUNG)
          Cũng trong bài của chị Thanh Chung (bấm xem theo đường dẫn ở cuối bài), một comment của bạn đọc Đặng Kim Toàn khiến tôi… ứa nước mắt:
          “Ngày TT Thiệu qua đời, dù là “nguyên thủ của tôi” nhưng tôi không khóc, tôi chỉ bùi ngùi trước sự mất còn của một nhân vật lịch sử và hiểu rằng, ông chỉ là một phần quá khứ của tôi chứ không phải tương lai.
          Ngày Thủ tướng Võ Văn Kiệt mất tôi lại khóc, bởi tôi biết cái cơ hội xoá đi cảnh tượng “triệu người vui cũng có triệu người buồn” sẽ không còn nữa… Và thật thế, 30/4 năm nay, 35 năm sau ngày thống nhất đất nước, “đất nước” lại chong đèn kết hoa, lại diễu binh mừng chiến thắng !
          Bao giờ “đừng thêm những tháng tư” ? Bao giờ “để vết thương kéo da non thay vì vỡ toạc” ? Ai - cấp lãnh đạo nào thay Thủ tướng Võ Văn Kiệt để làm được những điều mà ông Kiệt đã từng trăn trở ?
          Tôi là “nguỵ”, ba tôi là Đại tá Sư trưởng QĐNDVN. Năm 1975 tôi ở tù 7 năm và bây giờ đang định cư tại Mỹ. Ba tôi 82 tuổi đang chờ tôi từng ngày…
          Có cuộc chiến nào “tàn ác” như cuộc chiến VN ?
          35 năm rồi. Tại sao cứ đến dịp là lại đào xới thêm, sao không đóng lại để chìa bàn tay ra với nhau? Không thiếu đất nước, dân tộc trên thế gian này cùng cảnh ngộ như ta, cũng chiến tranh, cũng cắt chia, cũng hi sinh mất mát, cũng… hận thù! Nhưng họ bỏ qua, xóa nhòa để dang tay kéo ôm  nhau được.
          Còn chúng ta? Hình như đây là điểm yếu nhất của người Việt, của dân tộc Việt?
 
          Đọc toàn bài của chị Thanh Chung theo đường dẫn này: Sẽ cần thêm bao nhiêu thời gian?



ĐỪNG THÊM NHỮNG THÁNG TƯ…
NGUYỄN TRỌNG TẠO
Lại một tháng Tư sắp qua. 35 tháng Tư qua và hơn thế nữa. Sao người Việt hận thù nhau vẫn còn ghê gớm thế. Tôi đọc trên báo, trên mạng thấy chả ai chịu ai, chả cờ nào chịu cờ nào. Cờ đỏ sao vàng bay khắp cùng nước Việt. Cờ vàng ba sọc phấp phới quận Cam… Một đoàn người hô “đả đảo Việt cộng, đả đảo cộng sản”. Dân ta sao cứ đả đảo dân ta? Và cả một chiến sách “chống diễn biến hòa bình” không mệt mỏi. Hòa bình ai chả muốn. Vậy mà lâu nay tôi vẫn không hiểu tại sao lại “chống diễn biến hòa bình”? Có từ gì hay hơn, rõ hơn không? Nếu chống những người âm mưu phản bội lại dân tộc thì cũng nên nói rõ ra, chứ cứ nói lờ mờ thế thật khó mà hiểu nổi. Có lẽ giống ngày xưa đã từng chống “Nhân Văn – Giai Phẩm”, toàn là từ đẹp. Thật lạ.

*Chống xâm lược thì tất nhiên cả dân tộc phải chống rồi. Chống Pháp, rồi chống Mỹ, rồi chống Bành trướng Bắc Kinh. Gọi là chiến tranh vệ quốc thì tất nhiên là chính nghĩa. Nhưng Pháp cút rồi Mỹ rút, chiến tranh vẫn cứ xảy ra trên đất nước thân yêu. Bọn ngoại bang thật hiểm ác, chúng trang bị vũ khí cho dân ta đánh dân ta. Ừ thì biết là hai phe đối đầu, nhưng dân ta thì khổ, thì chết chóc tang thương. Phải mất hơn 20 năm dân tộc mới đi qua được chiếc cầu Hiền Lương dài 194 mét. Không thể tính được bao nhiêu xác người Việt thì vắt qua được 1 mét cầu. Và dòng sông chia cắt ấy ám ảnh như một “dòng sông máu” trong lịch sử dân tộc. Có lẽ câu thơ Xuân Diệu viết ngày đầu chia cắt đã ám vào máu dân tộc này: “Dòng sông Bến Hải chảy qua tim”! Vậy mà sau bao nhiêu tang thương ấy, ta được tôn đứng tuyến đầu cho phe này phe kia, lại bị chính cái anh phe mình ra đòn Bành trướng, rồi một anh nữa lại lệnh cấm vận ta. Ngẫm mà đau.

Chiến tranh Việt Nam-Kỷ niệm 40 năm Mậu Thân 1968 by tlvna.Hãy cảnh giác trò “tọa sơn quan hổ đấu”. Hãy cảnh giác ngoại bang. Cái khó của những ông vua là làm sao yên dân, và ngoại bang luôn thân thiện. Vậy mà câu nói của Phu-xích luôn văng vẳng đâu đây: “Hãy cảnh giác!”.

Vậy thì dân tộc này phải hòa giải. Đó là con đường không thể khác, con đường sống.

Vẫn biết đánh nhau thì kẻ thua người thắng. Nếu không có kẻ thua thì ai thắng được đây. Phải tung hô người chiến thắng. Nhưng cũng phải cám ơn kẻ bại trận chứ. Uýt-man lớn, bởi ông đã viết nên hai câu thơ này:

Hãy nổi kèn lên tung hô đoàn quân chiến thắng trở về!
Hãy nổi kèn lên chúc mừng những người thua chết chìm dưới đáy biển sâu!

Thắng thua thì cũng đã rồi. Vậy mà vẫn cứ đau. Nguyễn Duy đã có lúc đau quá mà thốt lên: “nghĩ cho cùng mỗi cuộc chiến tranh/ phe nào thắng thì nhân dân đều bại”. Là nói như Xi-mô-nốp: “Người ta sinh ra không phải để làm lính“. Chiến tranh là bắn giết. Nhưng than ôi, họ đều là những con người!

Cứ tưởng đất nước thống nhất rồi chỉ toàn niềm vui. “Non sông thu về một mối” như bài diễn văn chiến thắng đã đọc, nhưng lòng người đã thu về một mối hay chưa? 35 năm vẫn còn trăm mối tơ vò.

Trước khi qua đời, ông Võ Văn Kiệt đã rất đau đớn mà thốt lên: “Ba mươi năm rồi, mà sao dân tộc này vẫn chưa hòa giải đươc?”. Câu nói đó cũng là một thú nhận sự bất lực của ông, vì ông từng là Thủ tướng nước này. Nhưng, đó là một lời than có thể chia sẻ được nếu ta vì dân tộc muốn thu về một mối. Tôi chia sẻ với ông vì tôi đã từng nghĩ: Một dân tộc mà lũ trẻ không biết mơ mộng và người già không biết sám hối, đó là một dân tộc bất hạnh. Hãy trân trọng sự sám hối.

Thật khó mà hòa giải được ngay khi phân định thắng bại. Nhưng nếu người chiến thắng dám dang rộng vòng tay, thì người ngã ngựa không sợ mình bị giết. Tôi không nhớ hai từ “hòa giải” xuất hiện sau thống nhất bao năm nhưng hình như cũng chỉ mới đây thôi. Có còn hơn không. Muộn còn hơn không. Tuy vậy, hòa giải thì không thể nói suông. Phải bằng những hành động thực tế. Điều này thì ông Hồ Chí Minh trước đây là một bậc thầy. Ông thu phục được dân chúng, thu phục được nhiều trí thức nhân sĩ Việt ở nước ngoài, còn thu phục được cả đồng minh. Đã làm chính trị thì phải cao mưu, thậm chí thủ đoạn, nhưng cái tâm sáng thì nó sẽ tỏa ra. Ông chọn dương ngọn cờ “độc lập dân tộc” là thượng sách. Dù nhân bất thập toàn, nhưng làm người lãnh đạo hay làm lãnh tụ thì phải vì nghĩa lớn. Người ta trách ông giả làm Trần Dân Tiên để viết về mình, nhưng khi biết điều đó, tôi coi cuốn sách ông viết là một “hồi ký” thì thấy ông viết rất giỏi bởi động cơ và hành động của ông không có gì xấu, mà ngược lại, ông nói về tinh thần yêu nước. Ông nói và làm không khác nhau là mấy.

Lãnh đạo ta đang học gương ông Hồ, nhưng học trò thì cũng ba bảy học trò. Thậm chí có học trò suốt đời lưu ban.

Tuy vậy, không phải tất cả lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay không muốn “hòa giải dân tộc”. Hòa giải là nguyện vọng cấp thiết của người Việt Nam dù trong hay ngoài nước. Nhưng cái bí nhất là chưa “hóa giải” được. Mà muốn hòa giải được, trước hết phải hóa giải đã. Chúng ta phải làm tuần tự mới hy vọng đươc, phải giải quyết cái dấu “sắc” trước đã, rồi cái dấu “huyền” sẽ đến. Nếu không giải quyết hóa giải hận thù, hóa giải quan niệm dân chủ thì thật khó để tiến tới hòa giải dân tộc được.

Nhìn ngược lịch sử Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua, vấn đề “hóa giải” hiện nay đang là một nan đề. Trước hết là ứng xử của nhà cầm quyền với những người từng “ở phía bên kia” hay đang “ở phía bên kia”. Phải có cái nhìn trọng thị. Tốt nhất là hãy nói không phân biệt, như Mỹ nói không phân biệt chủng tộc, và Obama được bầu làm Tổng thống là một minh chứng. Tức là không chỉ nói suông, mà nói đi đôi với làm mới dựng được lòng tin giữa muôn dân. Nên nhìn tổn thất trong cuộc chiến tranh trước 1975 là tổn thất chung của dân tộc dù bên này hay bên kia chiến tuyến. Hãy cầu siêu cho cả những người chiến bại. Hãy tuyên dương những người có hành động giữ nước dù họ ở phía nào.

Thiển ý của tôi thì những người Việt chiến bại trước đây, nếu vì lợi ích dân tộc, vì hòa hợp tiến bộ thì cũng đừng cố chấp những sai lầm của kẻ chiến thắng. Bất kỳ công dân nào mang hộ chiếu Việt Nam đều có quyền ứng cử và bầu cử. Hãy tin vào nhân dân, họ nghèo khổ nhưng tâm lớn, họ phận hèn nhưng minh triết.

Tôi biết vài điều tôi nói chỉ là muối bỏ biển. Nhưng đó là vì lòng tôi muối mặn. Hãy hóa vàng đi hỡi hận thù ích kỷ. Hãy hòa vào nhau hỡi dòng máu Lạc Hồng. Mẹ Việt Nam không thể vui khi anh em thù hận. Không ai mong có thêm những tháng Tư thù hận vẫn còn vương…

Nguồn: Nguyễn Trọng Tạo ' blog



TUỲ BÚT THÁNG TƯ
Vũ Ngọc Tiến

Nhà văn Vũ Ngọc Tiến
Giờ đã là giữa tháng 4/2010, sắp đến ngày tròn 35 năm đất nước thống nhất từ đỉnh cổng trời Hà Giang đến đất mũi Cà Mau. Cái giá phải trả cho sự kiện này không nhỏ: 1,1 triệu liệt sĩ, trong đó 500 ngàn người có mộ được quy tập đủ danh tính, 300 ngàn người phải chịu nằm dưới mộ vô danh và 300 ngàn người vẫn chưa tìm thấy hài cốt. Ở phía bên kia cuộc chiến, các con số tương đồng cũng đâu có thua kém và họ cũng là con dân nước Việt cả thôi! Là người viết văn, nhưng có thói quen điều tra xã hội học, ghi chép lại làm lưng vốn cho ngòi bút của mình nên trong đầu tôi miên man ám ảnh bởi những con số, trôi ra thành câu chữ trăn trở trên mặt giấy giữa tháng tư lịch sử này…
35 năm sau cuộc chiến, nếu tôi chen số ”0” vào giữa sẽ là 305 ngàn ha rừng đầu nguồn ở 10 tỉnh biên giới đã được mấy ông quan đầu tỉnh tùy tiện cho nước ngoài thuê 50 năm mà giá thuê 1m2/năm chỉ đủ mua vài cọng rau muống thôi ư? Điều đáng để tôi trăn trở âu lo là trong đó có 240 ngàn ha rừng được cho các chủ doanh nghiệp nói tiếng Hoa, quốc tịch Trung Quốc, Đài loan, Malaysia “thuê đất trồng rừng” ở những vùng biên giới nhạy cảm! Tôi đã thử điều tra một dự án của họ ở mấy xã thuộc huyện Tràng Định- Lạng Sơn, chợt giật mình vì hình như nếu tôi không nhớ lầm thì gần 40 năm trước mình đã từng thăm dò quặng bauxite bằng phương pháp địa vật lý. Hay như một dự án trồng rừng khác ở Hà Giang, tôi ngờ rằng trong phạm vi mấy xã đó có những điểm triển vọng vàng sa khoáng.  Nói đến rừng đầu nguồn, tôi lại liên tưởng đến vấn nạn xuất hiện tràn lan, vô tổ chức các công trình thủy điện vừa và nhỏ, không chỉ dẫn đến nguy cơ tàn phá rừng, hủy hoại môi sinh, xả lũ vô tội vạ ở Quảng Nam, Quảng Ngãi năm ngoái mà còn chiếm mất diện tích canh tác tốt nhất của đồng bào các dân tộc miền núi phía Bắc. Điều tra quanh thị trấn du lịch, nghỉ dưỡng Sa Pa, trong bán kính 30 km có tới 17 dự án thủy điện nhỏ? Ai cũng biết, địa điểm thiết kế lòng hồ thủy điện nhỏ lý tưởng là thung lũng giữa núi, đó cũng là nơi có ruộng trồng lúa vốn rất hiếm hoi của người Dao, Mông, Thái, Tày, Nùng…ở Tây bắc, Việt Bắc. Họ mất rừng, mất ruộng nên lũ lượt tha hương làm dân di cư tự do vào các tỉnh Tây Nguyên, bỗng chốc họ từ nạn nhân trở thành thủ phạm phá rừng vì buộc phải đốt rẫy làm nương ở nơi đất mới. Cái vòng luẩn quẩn phá rừng kia bao giờ chấm dứt? Câu hỏi này tôi đã từng đặt ra trong lọat 5 bài viết về Tam Nông trên báo Văn Nghệ Trẻ, nhân hội nghị Trung ương 7, khóa X họp vào giữa năm 2007, vẫn rơi vào im lặng.
Tháng tư năm nay cũng vừa tròn 45 năm chiến thắng Hàm Rồng (3/4/1965- 3/4/2010). Không ai có thể phủ nhận đây là chiến thắng vĩ đại, oanh liệt nhất trong năm đầu tiên của cuộc chiến tranh đất đối không vô cùng ác liệt. Chỉ trong 2 ngày, trung đoàn pháo binh 228 đã cùng dân quân các làng Yên Vực, Nam Ngạn, Đông Sơn đã kiên cường bám trụ, bắn hạ 87 máy bay phản lực Mỹ, giữ được cây cầu Hàm Rồng nguyên vẹn. Tôi đã 2 lần đi làm phim về trận đánh này (2005 và 2010) nên hiểu rõ mất mát hy sinh ở đây suốt những năm chiến tranh cũng rất lớn. Trên diện tích khoảng 1 cây số vuông quanh khu vực Hàm Rồng, người Mỹ đã trút xuống 20 vạn tấn bom, 8.000 người đã chết, 13.000 người bị thương vong. Những con số ám ảnh tâm thức, xui khiến tôi năm 2005 đã cất công đi tìm nhân chứng lịch sử- ông Nguyễn Văn Bê, một trong số 13.000 người bị thương bên cây cầu Hàm Rồng. Ông Bê quê ở xã Nga Lĩnh, huyện Nga Sơn, nhưng vào lúc tôi đi  tìm, ông đang cuốc đất thuê cho chủ trang trại trồng dứa ở ngoại vi thị xã Bỉm Sơn. Ông bị thương trong trận đánh ngày 3/4/1965. Một mảnh bom đã găm qua mũ sắt, chui vào đỉnh đầu, đến nay chỗ bị thương vẫn còn phập phồng mảng da đầu. Sau khi ra viện, xuất ngũ vài năm thì vết thương trên đầu mới tái phát, biến ông  Bê thành người ngu ngơ, biết gì về các thủ tục vốn đã khá phiền phức để hưởng tiêu chuẩn thương binh. Tính đến thời điểm 2005 là vừa tròn 40 năm ông không hề được hưởng tiền trợ cấp. Trớ trêu ở chỗ chiếc mũ sắt có vết thủng trên đỉnh đầu của ông lại cũng được người ta đem trưng bày ở nhà Bảo tàng cách mạng tỉnh Thanh suốt 40 năm ấy, còn người thủng đầu, nghe thiên hạ đồn: “Ông muốn có sổ trợ cấp phải làm thủ tục “đầu tiên”, không có thì nghỉ cho khỏe!” Chẳng biết 5 năm qua, sau lần gặp tôi, ông sống ra sao, đã được cấp sổ hay chết rồi vẫn còn ôm mối hận? Ngẫu nhiên tháng tư dương lịch hàng năm thường trùng hợp với dịp tết “Hàn thực” vào mồng 3 tháng 3 âm lịch. Người ta ăn đồ nguội như bánh trôi, bánh chay làm từ đêm trước để ngày tết không phải dùng đến ngọn lửa oan nghiệt từng thiêu đốt mẹ con Giới Tử Thôi thời chiến quốc. Trùng Nhĩ sau khi lên ngôi vua đã vô ơn, bạc đãi và hắt hủi các công thần khiến ông phải cõng mẹ trốn vào rừng ở ẩn. Vua sai người gọi không được bèn nghe lời nịnh thần, cho đốt rừng tất ông phải ra, nhưng ông cùng mẹ thà chết cháy chứ không chịu quay về nhìn mặt lũ bất nhân. Bởi thế, tết “Hàn thực” năm nay, ăn đĩa bánh trôi tôi lại nhớ tích xưa, ngậm ngùi thương ông Nguyễn Văn Bê, miên man suy ngẫm sự đời những năm hậu chiến.
Có những con số người vô tâm thọat nghe thấy dửng dưng, nhưng tôi thì không thể. Tài liệu thống kê gần đây cho tôi biết, 35 năm sau cuộc chiến, Việt Nam ta có: 3,2 triệu người định cư ở gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ; 500.000 người đi làm thuê ở 40 quốc gia; 250.000 người đi lấy chồng nước ngoài, chủ yếu ở Trung quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Malaysia; 30.000 du học sinh ở châu Âu, châu Úc và Bắc Mỹ… Trong số 3,2 triệu người Việt định cư ở hải ngoại hiện nay, số ra đi trước ngày 30/4/1975, kể cả số di cư từ thời thuộc Pháp chỉ khoảng 1 triệu, số còn lại hơn 2 triệu người chủ yếu rời bỏ đất nước từ nửa cuối thập niên 70 và cả thập niên 80 của thế kỷ trước. Thế hệ chúng tôi “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, sao những người được chúng tôi giải phóng lại ào ào bỏ nước mà đi đông đến vậy? Đất nước qua 24 năm đổi mới, ta vẫn tự hào về tốc độ tăng trưởng ngọan mục trong 12 năm liền (1996- 2007). Thế nhưng chất lượng tăng trưởng thì sao? Cánh kéo phân hóa giàu nghèo giãn ra tới mức chỉ một nhúm người đi xe triệu đô, cưỡi máy bay riêng, ngủ biệt thự sang trọng, trong khi có nửa triệu người đi làm thuê kiếm sống ở xứ người và 250 ngàn cô gái hơ hớ tuổi xuân phải lấy chồng chồng ngoại để có tiền cứu đói hay trả nợ cho gia đình. Trong cộng đồng  3,2 triệu người Việt hải ngoại, tôi biết có khoảng 300 ngàn chuyên gia cấp đại học và trên đại học, phần lớn đều tha thiết mong có cơ hội phụng sự Tổ quốc. Đó là nguồn nhân lực tuyệt vời cho công cuộc phát triển, sao các nhà quản lý trong nước lại ghẻ lạnh, hờ hững với họ? Tôi có thời gian làm Thư ký tòa sọan cho tạp chí Thế giới vi tính (PC World VN), một tạp chí hàng đầu về CNTT nên hiểu khá rõ nội tình vụ việc ông Trương Trọng Thi- người Pháp gốc Việt, nhà phát minh thuộc tốp tiên phong của thế giới về máy tính cá nhân và công nghệ vi xử lý, ngay từ năm 1973 đã có nguyện vọng hợp tác đầu tư với Nhà nước ta về lĩnh vực này và bị ghẻ lạnh ra sao. Cố GS Trần Lưu Chương sinh thời có lần tâm sự với tôi: “Hãy tưởng tượng ở thời điểm năm 1973, lúc châu Á và cả thế giới còn đang ở buổi bình minh của cuộc cách mạng tin học, nếu ta ủng hộ Trương Trọng Thi lập xưởng chế tạo PC và tổ chức nghiên cứu công nghệ vi xử lý thì Ấn Độ và Trung Quốc chỉ có nước chạy theo bái ta làm sư phụ, chứ đâu như bây giờ ta thua họ 10 năm phát triển công nghiệp phần cứng và gia công phần mềm xuất khẩu.” Lại nữa, con số 30,000 du học sinh, nghiên cứu sinh VN đang ở Tây Âu và Bắc Mỹ là nguồn chất xám trẻ vô cùng quý giá, sao 70- 80% trong số họ không muốn về nước, đâu chỉ vì đãi ngộ thấp mà còn vì điều kiện làm việc, cơ hội thăng tiến bị cơ chế dị mọ trong nước kìm hãm?…
Có tiếng gà gáy sáng cất lên thao thiết, chơi vơi, lạ hóa giữa không gian khu đô thị mới, chất ngất các tòa nhà chung cư cao tầng. Ông lão hàng xóm cùng tầng 11 của tôi bảo, ông nuôi chú gà tre Nam Bộ làm cảnh, cho nguôi nỗi nhớ làng quê Đông Anh bị giải tỏa làm sân “gôn”, bứng ông cùng bà lão răng đen, vấn khăn mỏ quạ ra nhập hàng ngũ cư dân đô thị mới. Tiếng gà làm tôi liên tưởng đến buổi tọa đàm “Kê minh thập sách- minh triết trị quốc an dân” tại Hội trường tầng 3, nhà số 53 Nguyễn Du – Hà Nội vừa diễn ra hôm 15/4/2010. Hơn 600 năm trước, bà Chế thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu đã dâng lên vua Trần Duệ Tông bản “Kê minh thập sách” gồm 10 điều phản biện và kiến nghị, hòng cứu đất nước ra khỏi khủng hoảng toàn diện về chính trị, quân sự, kinh tế. Mỗi lời của bà tới nay vẫn còn tươi rói màu xanh của cuộc sống, thiết thực với hiện tình đất nước, ngỡ như ta đang đọc một bản góp ý cho văn kiện Đại hội đảng CSVN lần thứ XI, ví dụ:
“…Ba, ngăn chặn lũ lộng quyền để phòng chính sự sâu mọt.
Bốn, thải loại bọn tham nhũng để trừ tệ đục khóet của dân.
Năm, xin chấn hưng văn hóa giáo dục khiến ánh đuốc rực cùng mặt trời chiếu khắp.
Sáu, xin cầu lời nói thẳng để cho cổng thành cùng đường ngôn luận rộng mở…”
Tôi nhớ, trong buổi tọa đàm đó, khi anh GS Chu Hảo mời tôi lên phát biểu, tôi đã uống thuốc liều nêu ra hai ý hỏi lại các cử tọa cũng là hỏi chính lòng mình:
Một là bản “Kê minh thập sách” có 6 điều thuộc về minh triết trị quốc an dân ngắn gọn, khúc triết và 4 điều thuộc về binh pháp, đọc lên ngỡ như binh pháp Tôn Tử hay Binh thư yếu lược của Hưng Đạo đại vương vậy. Bà Nguyễn Thị Bích Châu chỉ là cung phi, mồ côi từ nhỏ, vào cung tự học mà tỏa sáng nên chăng coi đây là sự cô đúc trí tuệ của nhiều bậc thức giả dân gian vào trong văn bản lưu truyền cho hậu thế, thông qua sự phát ngôn của nhân vật lịch sử đã hóa thánh trong lòng dân ở các đền thờ miền quê Nghệ Tĩnh?
Hai là, phải chăng “Kê minh thập sách” tập hợp ý nguyện của dân chúng mà ra đời từ hệ quả tất yếu sau mấy chục năm chính sự suy đồi, vua tôi sa đọa? Thực tế lịch sử cho thấy nhà Trần sau hơn nửa thế kỷ lừng lẫy và 3 lần đánh thắng giặc Nguyên Mông, đến năm 1314 bắt đầu trượt dài trong sa đọa với sự lên ngôi của vua Trần Minh Tông. Ông vua này là con thứ, được vua cha cưng chiều đưa lên ngôi lúc mới 14 tuổi (SN 1300), chỉ ham ăn chơi, trác táng trong sự dung túng của thượng hoàng và sự o bế của lũ nịnh thần. Đến năm 1329, đang còn sung sức ở tuổi 29 Minh Tông đã vội lẩn tránh quốc sự, nhường ngôi cho vua Trần Hiến Tông mới lên 10 tuổi (SN 1319) để mình làm Thượng hoàng. Năm 1341, Hiến Tông chết lúc 22 tuổi, chưa kịp có con nên con thứ 10 của Minh Tông mới lên 5 tuổi (SN 1336) lên làm vua, hiệu là Trần Dụ Tông. Như vậy, từ năm 1314 đến 1369 là 55 năm triều đình mục nát, chính sự nhố nhăng như phường chèo nên năm 1369 một gã lưu manh Dương Nhật Lễ, con anh hề chèo gốc Hoa trong cung là Dương Khương cũng có thể cướp ngôi làm vua được 2 năm (1369- 1370). “Kê minh thập sách” dâng lên vua Trần Duệ Tông (1372- 1377), không được vua tiếp nhận nên năm 1400 nhà Trần mới mất về tay nhà Hồ, rồi cuối cùng nước cũng mất về tay giặc Minh ở phương Bắc.
Phải chăng khi một chính thể kéo dài sự mục nát suốt mấy chục năm, quyền bính lọt vào tay lũ lưu manh hạ đẳng, chính sự nhố nhăng như phường chèo, lại khước từ minh triết Việt trong “Kê minh thập sách” thì họa diệt vong là tất yếu?
Bài học lịch sử “Kê minh thập sách” cuối thời nhà Trần, nay nhân ngày giỗ thứ 633 bà Chính thắng phu nhân Nguyễn Thị Bích Châu, tôi bồi hồi ngẫm lại vẫn thấy còn nguyên giá trị giữa bầu trời thủ đô tháng tư năm 2010…
Hà Nội 18/4/2010 

Nhân ngày 30 tháng 4, mời các bạn nghe lại:






----------------

10 Cách truy cập bất kì trang Web bị chặn nào

Hiện nay các mạng xã hội như Facebook và Twitter đang được rất nhiều người ưa thích và sử dụng. Tuy nhiên, có một số công ty đã thiết lập tường lửa để chặn các trang này lại. Thậm chí một số nhà cung cấp mạng như Viettel đã bắt đầu chặn Facebook và rất nhiều người không còn truy cập được. Bài viết sẽ hướng dẫn bạn truy cập vào Facebook và các trang bị chặn khác.





7 Cách Truy cập vào
 Facebook, Twitter Khi Bị Chặn
 
1/ Sử dụng các proxy/socks: để tìm được các proxy/socks, bạn có thể truy cập vào một số trang proxy miễn phí như http://sockslist.net/, http://www.checker.freeproxy.ru/checker/last_checked_proxies.php, http://aliveproxy.com/socks5-list/... Khi truy cập vào, bạn sẽ nhận được một danh sách các địa chỉ IP và cổng (IP Address:Port) theo định dạng: 123.123.123.123:1234, phía trước dấu hai chấm : là địa chỉ IP, và phía sau là cổng. Sau khi có địa chỉ rồi, bạn vào thiết lập của trình duyệt như sau:
- Firefox: Tools > Options > Advanced > Networks > Settings > Manual Proxy Configurations > Socks Host.
- Internet Explorer: Tools > Internet Settings > Connections > Lan Settings > Use a Proxy Server for you LAN.
- Chrome: Options > Under the Hood > Change Proxy Settings > Connections > Lan Settings > Use a Proxy Server for you LAN.
- Opera: Tools > Preferences > Advanced > Networks > Proxy Servers.
Sau đó bạn điền địa chỉ IP và port vào, OK để bắt đầu sử dụng.
     2/ Dùng phần mềm đổi IP: dùng các phần mềm đổi địa chỉ IP như Auto Hide IP, Real Hide IP, Hide IP NG, Invisible Browsing.
    3/ Dùng UltraSurf: đây là phần mềm dễ sử dụng nhất để đổi địa chỉ IP và truy cập vào các trang web bị chặn. Bạn chỉ cần chạy nó là xong. Tải UltraSurf.





7 Cách Truy cập vào
 Facebook, Twitter Khi Bị Chặn

   4/ Dùng trang web: hiện trên mạng có nhiều trang web để bạn làm việc này. Tiêu biểu có 2 website là HideMyAssDeFilter. Chỉ cần truy cập vào, gõ địa chỉ trang web vào khung rồi bấm Enter.





7 Cách Truy cập 
vào Facebook, Twitter Khi Bị Chặn
    
5/ Dùng trang dịch: sử dụng các trang web dịch thuật như Google Translate để truy cập. Bạn vào Google, gõ địa chỉ facebook.com vào rồi bấm Translate để dịch. Hoặc truy cập trực tiếp vào trang http://translate.google.com/translate?hl=en&sl=ja&tl=en&u=http%3A%2F%2Ffacebook.com%2F&anno=2.
   
6/ Sử dụng Opera Tor: OperaTor là trình duyệt dựa trên Opera nhưng có thêm tính năng tự tìm và sử dụng các proxy, nhờ vậy bạn có thể truy cập vào bất cứ trang web bị chặn nào. Khi truy cập, bạn có thể gặp phải ngôn ngữ lạ do Opera dùng proxy của nước đó, bạn kéo trang web xuống để chọn lại tiếng Anh. Tải OperaTor.






7 Cách Truy cập vào
 Facebook, Twitter Khi Bị Chặn
   
7/ Dùng Open DNS: Open DNS là một DNS Server trung gian, bổ sung thêm các bộ lọc web và giúp bạn tăng cường tốc độ lướt web. Ngoài ra, nhờ qua DNS trung gian này nên bạn sẽ không còn bị chặn nữa. Để sử dụng các máy chủ OpenDNS, bạn sẽ phải thay đổi một chút trong thiết lập máy tính. Nếu đang sử dụng Windows XP, đầu tiên bạn chọn Control Panel --> Network and Internet Connections --> Network Connections, kích chuột phải vào kết nối mạng trong cửa sổ Network Connections, chọn Properties. Hộp thoại như hình dưới xuất hiện 
 

Click the
 image to open in full size.
Chọn Internet Protocol (TCP/IP) và kích vào Properties
Trong danh sách cuộn xuống, bạn hãy chọn Internet Protocol (TCP/IP) và kích vào Properties. Trong phần phía dưới của cửa sổ mới xuất hiện, chọn "Use the following DNS server addresses". Tại phần the Preferred DNS server nhập vào địa chỉ 208.67.222.222. Tại phần Alternative DNS server nhập vào địa chỉ 208.67.220.220 (hình dưới). Kích OK, kích CloseClose lần nữa để đóng hết các cửa sổ. Khởi động lại máy tính để các thiết lập bắt đầu có hiệu lực.


Click the image to open in full size.
Nhập vào địa chỉ để báo cho máy tính biết bạn sử dụng máy chủ OpenDNS
 

     8/ Dùng Opera 10: Opera 10 có tính năng Turbo Mode, truy cập gián tiếp qua server của Opera nên bạn sẽ không bị chặn.

    9/ Chỉnh Sửa File Host: đầu tiên bạn tìm tập tin tên hosts tại: \windows\system32\drivers\etc, mở lên bằng notepad rồi thêm vào các dòng sau đây ở cuối cùng:
69.63.187.17 facebook.com
69.63.181.22 login.facebook.com
69.63.186.12 apps.facebook.com
69.63.187.17 www.facebook.com
69.63.181.22 www.login.facebook.com
69.63.186.12 www.apps.facebook.com
Sau đó bấm Ctrl + S để lưu lại.
   10/ Truy cập vào các địa chỉ khác của FaceBook: bạn có thể vào một trong các địa chỉ sau:
Lưu Nhật Nam - http//www.namln.com
VIDEO HƯỚNG DẪN:

Password default: www.namln.com

----------------

28/04/2010

“Kê ninh thập sách”

Tư liệu lịch sử:
Nguoi phu nu dau tien dang ke sach dung nuoc va giu nuoc
Tượng Chế thắng Phu Nhân
Theo Hải khẩu linh từ trong Truyền kỳ Tân phả (Đoàn Thị Điểm) thì đó là Chế thắng phu nhân Nguyễn Bích Châu – Cung phi Vua Trần Duệ Tông, là con quan Triều Trần.
Cha là Nguyễn Tướng Công, tư chất thanh liêm, làm quan đến chức Đại thần; mẹ là Phạm Phu Nhân. Tuy bước đường hoan lệ vinh hiển, song bề con cái thì rất hiếm hoi. Mãi tới năm Phạm Phu Nhân 40 tuổi, bà mới có thai và sinh hạ được một người con gái xinh đẹp.
Ông bà rất đỗi vui mừng, nâng niu con gái như Ngọc Bích trong tay và đặt tên cho con là Ngọc Bích Châu. Lớn lên Bích Châu không chỉ đẹp người, đẹp nết, mà còn rất đỗi thông minh, được cha mẹ dạy dỗ chu tất. Vì vậy, khi mới 13 tuổi, Bích Châu đã thông thạo “Tứ Thư Ngũ Kinh”.
Năm Long Khánh thứ nhất (1373), Vua Trần Duệ Tông giáng chiếu chọn nhân tài. Các cung phi và con gái các làng xã trong nước tuổi từ 16-18 đều phải hội Triều dự thi. Bích Châu trúng tuyển và được phong “Tả Cung Quý Phi” ở lại trong Cung, lấy tên hiệu là Phù Dung.
Vào cung Vua được ít lâu, Nguyễn Bích Châu cảm thấy triều cương ngày càng sa sút, chính sự đổ nát, nhân tài không được trọng dụng, nịnh thần lộng hành… nên đã tự mình thảo: “Kê minh thập sách” dâng lên Vua Trần Duệ Tông.
“Kê minh thập sách” dâng lên Vua Trần Duệ Tông
1. Bền gốc nước trị kẻ bạo tàn cho lòng dân được yên.
2. Giữ đúng quy định, xóa bỏ phiền nhiễu thì triều cương không rối.
3. Trị kẻ lạm quyền tránh họa ngầm cho nước.
4. Đuổi hết bọn tham nhũng cho dân đủ sống.
5. Chấn chỉnh học hành, lễ nghĩa cho sáng tỏ đất trời.
6. Mong nghe được lời nói thẳng, mở rộng cửa ngôn luận như mở rộng cửa thành.
7. Chọn quân thì nhằm vào dũng lực, không nhằm vào vóc dạc cao lớn.
8. Chọn tướng thì nhằm vào tài thao lược không nhằm vào thế gia.
9. Vũ khí cần sắc bén không cần trang trí sặc sỡ.
10. Tập trận thì cần chỉnh tề, chặt chẽ chứ không phải giở trò múa may cho đẹp mắt.
Sớ dâng lên Vua, Vua Trần thích lắm đập tay vào phách mà rằng: “Không ngờ một người đàn bà lại thông tuệ đến thế, xứng là một Quý phi tài ba của Trẫm!”. Nhưng rồi nhà Vua vẫn không thay đổi chính sự.
Hơn thế nữa, sau khi lên ngôi được 4 năm, Trần Duệ Tông có ý muốn đem quân đi chinh phạt nước Chiêm Thành. Nhiều người khuyên can song Vua không nghe.
Bích Châu biết Vua không nghe lời nói thẳng, bèn làm một bài biểu dâng lên, bài biểu viết: “Thiếp trộm nghĩ rợ Hiểm Doãn ngang tàng quá lắm từ trước quen thân, rồi Hung Nô kiệt liệt gớm ghê đến nay càng tệ. Vì cướp bóc là cái thói của man di, mà dùng binh không phải là bản tâm của Vương Gia. Nhỏ xíu kia Chiêm Thành ở mé nơi hải đảo, năm kia kéo quân vào Nhị Thuỷ nhòm thấy nước ta bất hoà chúng khua chiêng, đánh trống vang động ngoài biển chỉ vì lòng dân chưa yên, cho nên chúng dám tung đàn ruồi nhặng múa may ngoài bãi cỏ có khác nào giơ càng bọ ngựa ngăn bánh xe. Nhưng Thánh Nhân rộng lượng bao dung không thèm với chó dê so sánh. Việc trị đạo, trước gốc sau ngọn. Xin nghi binh cho dân chúng được yên hàn, trị cái rắn nên dùng cái mềm, phục rợ xa cốt lấy đức. Vua đời Ngu chỉ múa nhạc mà bảy tuần (70 ngày) giặc Hưu Miền đến hàng; Vua nhà Hạ (Vũ) chỉ gảy đàn mà chẵn 1 tháng rợ Hồ quy phục - đó là thượng sách, xin xét đoán cho minh…”.
Bài biểu dâng lên không được Vua nghe, nàng càng buồn rầu và than: “Nghĩa là Vua tôi, ơn là vợ chồng đã không giỏi can ngăn để giữ nền bình trị, lại không biết khéo lời để ngăn lòng hiếu chiến, thật là sống thừa trong cõi trời đất vậy”.
Từ đó nàng ăn ngủ không yên, bỏ cả trang điểm, đến lúc Trần Duệ Tông phát binh đi đánh Chiêm Thành, nàng nài Vua xin được theo hầu Vua, được Vua và triều đình chấp thuận.
Duệ Tông Đế Chế thân chinh cất quân đánh Chiêm Thành, đạo quân của triều đình được chia làm ba cánh quân trống dong, cờ mở tiến thẳng tới biên thuỳ. Vua Trần cho quân tiến vào cửa biển Thị Nại và đóng quân ở Đông Y Mang. Năm ấy là năm Đinh Tỵ (1377).
Vào lúc nửa đêm ngày 10 tháng 2 năm 1377, quân địch tổ chức lực lượng bất ngờ tiến đánh vào doanh trại của cánh quân Vua Trần Duệ Tông.
Bị tiến đánh bất ngờ, lại lơ là mất cảnh giác nên quân của triều đình lâm vào tình cảnh khốn khó, long thể Vua Trần có nguy cơ bất an, khó bảo toàn được tính mạng; hai viên tướng Điện Tiền đưa quân ra chặn đánh quân giặc nhưng đều tử trận.
Trong tình thế đó, để bảo vệ Vua, Bích Châu thân chinh đứng ra chỉ huy đạo quân vừa bảo vệ Vua lên xe giá, vừa chỉ huy Cánh Trung Quân xông pha trận mạc bảo vệ Vua. Vì quân địch quá đông, lại bị đánh bất ngờ trong đêm tối nên thật không may, Bích Châu bị trúng mũi tên độc. Rạng sáng ngày 11 tháng 2 năm 1377 (Đinh Tỵ) sau khi hội quân về địa điểm an toàn, Quí Phi Nguyễn Bích Châu đã bất tỉnh. Quân sĩ hết lòng cứu chữa nhưng vì vết thương quá nặng, nên đến giữa đêm, vào giờ Tý ngày 12 tháng 2 năm 1377, Quí Phi Nguyễn Bích Châu đã ra đi.
Bích Châu tử trận, Vua Trần Duệ Tông vô cùng đau buồn, thương tiếc, Nhà Vua đã hạ lệnh khâm liệm thi hài của Bà vào linh cữu để quan quân làm tang lễ, nhà vua tự mình làm văn tế vợ.
Vừa thua trận, Vua đau buồn thương nhớ Bích Châu nên bệnh tình của Vua ngày càng nặng. Ba ngày sau khi Bích Châu mất, Vua Trần Duệ Tông cũng băng hà. Sau khi Vua chết, ba cánh quân được lệnh hồi quân về Triều. Linh cữu của Vua Trần Duệ Tông và Quí Phi Bích Châu được đưa xuống thuyền về theo đường thủy, do Đô đốc Lê Long Tĩnh cùng 50 chiến thuyền hộ giá. Đoàn thuyền về tận đến đất Châu Hoan thì bị trận nghịch phong không tiến lên được, đành phải trú quân vào vũng Ô Tôn (Vũng áng) để tránh gió.
Linh cữu của Vua Trần Duệ Tông được rước về theo đường bộ để triều đình kịp an táng, làm lễ; còn linh cữu của Quí Phi để lại và được đưa lên chân núi để quan quân tế lễ và hương khói chờ sóng yên biển lặng sẽ tiếp tục hành quân tiếp. Sau một ngày chờ đợi, đoàn thuyền của Đô đốc Lê Long Tĩnh cùng với thi hài của Quí Phi Nguyễn Bích Châu lại tiếp tục hành quân về triều.
Nhưng đi được khoảng 500 dặm thì lại bị gió Bắc tràn xuống làm cho đoàn thuyền không tiến lên được. Quan hướng đạo liền cho quân lánh vào trú ở Cửa Khẩu thuộc huyện Kỳ Hoa (nay là huyện Kỳ Anh). Chờ lâu ngày biển không yên, triều đình xuống chiếu cho an táng linh cữu của Quí Phi tại bản xứ (Cửa Khẩu) và đồng thời cho lập miếu thờ vọng tại chân núi Mũi Dòn (Đèn Eo Bạch – Vũng áng ngày nay) để nhân dân ngày đêm hương khói thờ phụng.
Năm 1470 niên hiệu Hồng Đức thứ nhất, Vua Lê Thánh Tông lại ngự giá thân chinh cất quân chinh phạt Chiêm Thành. 26 vạn quân Đại Việt theo đường biển thẳng về phương Nam qua cửa biển Cửa Khẩu Kỳ Hoa. Tới đây, Vua Lê Thánh Tông cho quân sỹ dừng lại trú quân. Phong cảnh nơi đây thật là huyền ảo làm cho Lê Thánh Tông cảm thấy có cái gì là lạ, khang khác…
Nhà Vua bèn xuống thuyền đích thân tìm hiểu, khám phá. Trong lúc du ngoại ngắm cảnh trời - đất, Nhà Vua phát hiện thấy có ngôi miếu nằm bên bờ sông gần Cửa Khẩu, hỏi kỹ dân địa phương, nhà Vua mới biết cách đây gần 100 năm, Quí Phi Nguyễn Bích Châu cùng Vua Trần Duệ Tông cất quân đi chinh phạt Chiêm Thành đã tử trận và được mai táng lập miếu thờ tại đây.
Vua bèn cho triệu các vị bô lão, chức sắc bản xứ đến để minh bạch, các vị bô lão và chức sắc bản xứ đã dâng bản sử tích Trần Triều lên Lê Thánh Tông, Vua Lê Thánh Tông xem xong khen rằng: “Đúng là Nữ trung hào kiệt” lâu nay còn khuất ẩn ở chốn này mà triều đình lãng quên.
Sau đó Lê Thánh Tông hạ lệnh cho soạn đồ tế lễ, đích thân ngự giá vào dâng hương và viết 4 chữ: “Nữ trung hào kiệt” dán lên bài vị và nói: “Tiền triều, người là bậc cứu quốc anh hùng vì nước, vì Vua mà bị vong thân, nay Ta cũng vì nước bảo toàn bờ cõi mà đi dẹp giặc, có linh thiêng thì giúp Trẫm kỳ khai đắc thắng, mã đáo thành công, khi về bản xứ về triều Trẫm sẽ khởi công lập miếu phong tặng”.
Đêm đó được mộng lành Vua Lê Thánh Tông liền cho xuất quân. Khi thắng trận trở về đến đất Kỳ Hoa, Vua cho quân đến trú tại Cửa Khẩu, sai quân sỹ vào rừng chặt gỗ, đào đá gọt thành từng viên, huy động thợ giỏi cùng dân chúng địa phương xây dựng lại lăng mộ và 3 tọa điện để dân chúng ngày ngày thờ phụng, hương khói. Vua Lê Thánh Tông ngự bút viết:
Chế Thắng Đại Vương Thượng Đẳng Thần” và tự mình làm một bài thơ chữ Hán đề lên vách đền.
Nói về sự hy sinh của Quí Phi Nguyễn Bích Châu, truyền thuyết dân gian lưu truyền rằng: Đoàn quân của Vua Trần Duệ Tông trên đường đi chinh phạt Chiêm Thành, khi đi qua Cửa Khẩu Kỳ Hoa bỗng nhiên gặp biển nổi sóng to gió lớn, đoàn quân không tài nào tiến lên được.
Trong trận nghịch phong thần biển xuất hiện đòi Vua Trần phải gả cho mình một cung phi để làm vợ. Trong lúc Vua Trần chưa biết xử lý thế nào thì Bích Châu đã tự nguyện xin Vua được làm vật tế thần và khuyên Vua rằng: “Sau khi thiếp chết, xin Bệ Hạ sửa văn, nghỉ võ, tin dùng người hiền tài, làm điều nhân nghĩa, chước lâu dài cho đất nước”.
Nhưng dù làm vật tế thần hay bị trúng mũi tên độc của quân thù thì sự hy sinh cao cả của Quí Phi Nguyễn Bích Châu vẫn là một tấm gương sáng ngời về tấm lòng trung vì nước, vì Vua của một liệt nữ.
Tưởng nhớ vị “Nữ trung hào kiệt”, trải qua các triều đại phong kiến Việt Nam đã có sắc phong Đền thờ Nguyễn Bích Châu là “Chế Thắng Phu Nhân” và nhiều lần được nhân dân trùng tu xây dựng. Đó chính là đền thờ Bà Hai nổi tiếng linh thiêng ở xã Kỳ Hải, Kỳ Anh, Hà Tĩnh.
Hằng năm cứ đến ngày 12 tháng 2 Âm lịch, nhân dân địa phương và đạo hữu xa gần hành hương về đền thờ Thánh Mẫu để dâng hương, tổ chức tế lễ. Năm 1991, Bộ Văn hóa – Thông tin đã ra Quyết định công nhận và xếp hạng Đền thờ Nguyễn Bích Châu là Di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh cấp Quốc gia.
Cuộc hành binh không thành của Vua Trần Duệ Tông với cái chết bị hùng của Quí Phi Nguyễn Bích Châu – Chế Thắng Phu Nhân đã non bảy thế kỷ nhưng sử sách và nhân dân vẫn còn lưu nhớ mãi như một huyền tích đẹp về người phụ nữ nước Nam dám xả thân vì nghĩa lớn.
Chế Thắng Phu Nhân Nguyễn Bích Châu – “Đền thiêng nơi cửa biển” – Sự hy sinh quả cảm của người liệt nữ cùng với “Kê minh thập sách” mãi mãi là tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa yêu nước của người phụ nữ Việt Nam, là những giá trị vĩnh hằng trường tồn cùng năm tháng, lưu truyền với các thế hệ con cháu mai sau.
P.V (Theo tư liệu hội thảo “Kê minh thập sách”)

Nguồn: Vietbao
----------------

26/04/2010

Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc và BBC

Nhân BBC đăng bài  " Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc " của Đỗ Ngọc Bích; gây nóng thêm trong mùa hạn hán. Hang triệu người Việt nổi giận, Tranhung09 đăng lại ba bài đánh vỗ mặt "con ngựa cái  lạc loài" này:
Nhân đọc bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của “Tiến sĩ” Đỗ Ngọc Bích đăng trên BBC Việt ngữ, tôi có đôi điều muốn thưa chuyện cùng.
Trước hết, đọc những dòng sau đây của cô:
1. “Những thanh niên này hầu hết đều lớn lên vào những năm 1980, chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa dân tộc có điều khiển của nhà nước Việt Nam sau cuộc chiến tranh biên giới 1979, bài xích Trung Quốc, tố cáo Trung Quốc ‘hơi nhiều”.
Trong những năm cuối 1970 và đầu 1980 “tiến sĩ” đang ở đâu? Đang ở trời Tây trong giảng đường đại học hay nép mình trong góc phố an bình nào đó ở Việt Nam trong lúc hàng ngàn người dân Việt đã ngã xuống chống giặc để cho cô có mảnh bằng học vị hôm nay. “Chủ nghĩa dân tộc có điều khiển” là gì thưa cô? Sao lời lẽ tương tự như bộ máy tuyên truyền chụp mũ trên Mạng Hoàn Cầu đến thế!
2. “Họ không nhận ra được rằng Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc, chia sẻ nguồn gốc văn hóa và tư tưởng, và nhận được khá nhiều ân huệ từ Trung Quốc trong suốt hơn 20 năm chiến tranh (1950-1975)”.
Tôi tin rằng cho dù cô được học và lớn lên trên đất Mỹ, nhưng giáo trình nào? tài liệu nào của Mỹ đã dạy cho cô là “Việt Nam thực ra cũng là một phần trong da thịt của Trung Quốc”? Sao cô không nói luôn là “Việt Nam vốn bị Trung Quốc đô hộ tự nghìn xưa, là phần đuôi của Đại Hán?” Còn cái mà cô gọi là “ân huệ” thì phải chăng cô muốn cùng Giáo sư Lê Xuân Khoa thảo luận lại “Ba mươi năm gọi tên gì cho cuộc chiến?”.
3. “Cho dù Trung Quốc giúp Việt Nam là vì tính toán chính trị của họ, được giúp đỡ để chiến thắng cũng là điều tốt mà ‘mình nên nhớ’. Câu “yêu ai yêu cả đường đi, ghét ai ghét cả tông ti họ hàng” trong tình huống này có lẽ đúng”.
“Tiến sĩ” Đỗ Ngọc Bích muốn nhớ, thì nhân đây tôi giúp cho cô nhớ: Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã phản bội cách mạng Việt Nam không phải là từ năm 1979 mà khi còn trong bàn Hôi nghị Geneva năm 1954 khi bàn về việc chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Đông Dương (trong đó có Việt Nam).
Nếu chưa đọc hoặc chưa được học, xin mời cô tham khảo 2 tài liệu sau đây:
- Wilfred G. Burchett, China, Cambodia, Vietnam Triangle, Vanguard Books, 1982.
- Red Brotherhood at war by Grant Evans & Kelvin Rowley published in 1984 by The Thetford Press Ltd.
4. “Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa có bao giờ tuyên ngôn chủ quyền các đảo đó không, hay chỉ mãi đến năm 1974 mới điều hải quân ra trấn giữ và bảo vệ? Chúng ta đã bao giờ dành thời gian nghiên cứu xác nhận thông tin trước khi đấu tranh đòi chủ quyền chưa nhỉ?”.
Chúng tôi không thể hiểu tại sao cô Bích lại đặt được một câu hỏi ngây ngô và ngớ ngẩn đến thế nhỉ. Đã có biết bao nhiêu tư liệu và bản đồ của Pháp (và nước ngoài) xác nhận quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc chủ quyền An Nam từ thế kỷ 17, 18 mà Đỗ Ngọc Bích chưa đọc hay không biết?
Cô đọc được tiếng Việt và tiếng Pháp không? Thôi thì tôi nhắc lại tài liệu sau đây bằng hai thứ tiếng Pháp-Việt cho Cô dễ hiểu:
Ngày 5.9.1951, trong phiên họp khoáng đại hội nghị thứ 2 của hội nghị San Francisco, đại biểu Liên Xô Andrei A. Gromyko sau khi chỉ trích tính cách bất hợp pháp và sự vô nghĩa của bản dự thảo hòa ước của Anh – Mỹ để ký với Nhật Bản đã đưa ra một đề nghị 7 điểm gọi là để hướng dẫn việc ký kết hòa ước thực sự với Nhật Bản. Điểm 6 đề nghị trao trả hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa cho Trung Quốc. Nhưng hội nghị đã bác bỏ yêu cầu này với 48 phiếu chống.
Hai ngày sau, ngày 7.9.1951 Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu, trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam, đã lên tiếng tái xác định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trước 51 phái đoàn ngoại giao như sau:
“Và nói một cách thẳng thắn rằng phải tranh thủ mọi cơ hội để chặn đứng những mầm mống gây xung đột, chúng tôi xác nhận chủ quyền của chúng tôi trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, vốn từ xưa đã thuộc lãnh thổ Việt Nam”.
Lời tuyên bố đó đã được Hội nghị San Francisco ghi vào biên bản và trong tất cả 51 phái đoàn, không có một phái đoàn nào phản đối.
5. “Xét cho cùng, đất nước Việt Nam, lãnh thổ Việt Nam hiện nay có được là nhờ sự “mở mang bờ cõi” Nam tiến vào lãnh thổ Chiêm Thành, Khơ-me.
Lịch sử là vậy, đất đai dân cư di dời, sở hữu chuyển đổi, do thỏa thuận cũng như do xâm lấn.
Rút cục, có thể nói chủ nghĩa dân tộc mù quáng đôi khi cũng tai hại không kém gì chủ nghĩa bành trướng đế quốc vậy”.
Nếu dựa vào những lý lẽ “lịch sử” theo kiểu như vậy, tuy có phần hấp dẫn đối với cô nhưng rõ ràng sẽ mở ra một hộp Pandoras của những xung đột không thể nào giải quyết được. (1)
Một sách giáo khoa về luật pháp quốc tế của Michael Akehurst khái quát vấn đề chung đó như sau: “Đất đai chinh phục được ngày nay, hoặc ít ra đất đai do một kẻ xâm lược chinh phục, thì không thể được thừa nhận quyền sở hữu. Trong quá khứ thì được. Nhưng quyền sở hữu trước kia dựa vào sự chinh phục bây giờ có trở nên mất giá trị không? Nếu trở nên mất giá trị, thì kết quả sẽ rất là sửng sốt; nếu rút ra kết luận logic của việc đó, thì có nghĩa là bắt Mỹ sẽ trả lại cho người Idian da đỏ, và người Anh sẽ phải trả lại nước Anh cho người xứ Welsh”. (2)
Những ví dụ như vậy có thể nhân lên không bao giờ hết. Kết luận mà phần đông các nhà cầm quyền đạt được là những khái niệm về luật pháp quốc tế không thể áp dụng lui trở lại cho các cuộc xung đột trong quá khứ để làm mất giá trị pháp lý của những biên giới ngày nay được.
Những vấn đề đó đặc biệt gay gắt trong các thuộc địa cũ của các cường quốc thực dân Châu Âu. Akehurst nhận xét: “Những biên giới thuộc địa, được vạch ra bằng vũ lực trong các thế kỷ trước, ngày nay phần lớn đã trở thành những biên giới của những nước mới độc lập, mà không nước nào muốn thấy biên giới của họ bị đưa ra đặt vấn đề lại. Các nước Mỹ la tinh và Á-Phi, với một cái ngoại lệ (như Trung Quốc chẳng hạn) đã đồng ý rằng các biên giới thuộc địa phải được tiếp tục sử dụng, theo luật pháp quốc tế, như những biên giới sau độc lập. Ở Mỹ la tinh, điều đó được hiểu là nguyên tắc Utipossidetis, nghĩa là: Như bạn đã sở hữu, bạn sẽ tiếp tục sở hữu” (3).
Như vậy, lý luận như cô Bích thì nước Mỹ cũng là một phần của Trung Quốc như một vị tướng Trung Quốc từng tuyên bố gần đây.
6. Cuối cùng, “Những blogger đấu tranh cho chủ quyền lãnh thổ đã bao giờ đọc Đại Việt Sử Ký, Đại Việt Sử Lược, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư hay Việt Nam Sử Lược ở dạng nguyên bản, chưa qua biên soạn, cắt xén chưa?”
Người dân Việt Nam bắt nguồn từ Trung Quốc, Vua của Việt Nam cũng khởi tổ từ người Trung Quốc, coi vua Trung Quốc như anh như cha… từ Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh, hay Lý Công Uẩn, rồi các gia tộc họ Trần, Lê, Nguyễn, v.v…
Chúng ta đã bao giờ tự hỏi mình xem lịch sử Việt Nam mà chúng ta học có đúng là lịch sử không?”
Tôi trộm nghĩ cô đã phơi bày “trình độ” hiểu biết và khả năng nghiên cứu nghèo nàn về sử học qua bài viết của mình trước mọi người Việt Nam khắp năm châu...
Chào trân trọng
Chú thích:
(1)- Theo thần thoại Hy Lạp, Pandoras là người đàn bà do Thần lửa tạo ra và bị đưa xuống để trừng phạt trần gian đã lấy trộm lửa. Thần Zeus cho chị ta một cái hộp, khi mở ra thì đủ tất cả các thói hư tật xấu bay ra làm ô nhiễm cả thế giới. Hộp Pandora do đó có nghĩa là vật hào nhoáng nguy hiểm.
(2), (3)- Grant Evans – Kelvin Rowley. The Red Brotherhood at war (bản dịch tiếng Việt của Nguyễn Tấn Cưu – Chân lý thuộc về ai?), NXBQĐND, 1986.

Về tác giả: Đinh Kim Phúc, tham gia Quân đội Nhân dân Việt Nam từ năm 1977-1980, tốt nghiệp đại học chuyên ngành Sư phạm Lịch sử tại Đại học Cần Thơ năm 1984, tốt nghiệp Sau đại học chuyên ngành Sư phạm Lịch sử tại Đại học Sư phạm Hà Nội 1 năm 1988, hiện là nghiên cứu viên của Khoa Đông Nam Á học, Trường Đại học Mở TP.HCM. Đây là bản rút ngắn do tác giả gửi cho BBC, sau khi đã gửi một bài dài hơn cho các trang mạng khác. Bài viết thể hiện quan điểm riêng và cách hành văn của ông.


Vài lời với bà Đỗ Ngọc Bích
Bài viết của bà Đỗ Ngọc Bích rất ấn tượng. Trước hết, ở cái giọng khinh bạc, mục hạ vô nhân trái ngược với vẻ xinh xắn trời cho của một phụ nữ Việt.
Sau bởi tri thức lịch sử đáng lẽ phải dấu đi ở một người mang học vị tiến sĩ.
Đó là tri thức mà không ít người Việt đã bỏ lại ở cuối thế kỷ trước.
Đến nay, hết thập niên đầu của thế kỷ XXI, không ít người Việt trong và ngoài nước biết rằng, không phải 4000 năm mà lịch sử của tộc Việt bắt đầu khoảng 70.000 năm trước, khi hai đại chủng Homo sapiens là Europid và Mongoloid theo con đường phương nam tới miền Trung và miền Bắc Việt Nam để hòa huyết sinh ra 4 chủng Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid.
Rồi từ Việt Nam, người Việt lan tỏa sang câu Úc, ra khắp Đông Nam Á. Khoảng 40.000 năm trước, người Việt lên khai thác đất Trung Hoa để 4000 năm TCN xây dựng tại Á Đông nền văn hóa nông nghiệp sớm và rực rỡ nhất hành tinh.
Khoảng 2600 năm TCN, người Hoa Hạ, tiền thân của người Hán ra đời, là con lai giữa người Bách Việt và người Mông Cổ sau cuộc xâm lăng của người Mông Cổ.
Do vậy, tất cả văn hóa vật thể và phi vật thể trên đất Trung Hoa trước 2600 năm TCN đều là sản phẩm của tộc Việt.
Năm 2006 tôi bạo gan đưa ra giả thuyết: “Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Hán” thì mùa Xuân năm nay, bạn tôi, anh Đỗ Thành, gốc Việt Triều Châu đang sống ở Sacromento Hoa Kỳ, từ giáp cốt văn, kim văn và những thư tịch cổ nhất của Trung Hoa như Việt chép (Việt tuyệt thư), Thuyết văn giải tự đã “Phát hiện lại Việt nhân ca”, “Phục nguyên Duy giáp lệnh của Việt vương Câu Tiễn” và tìm ra “Nguồn gốc chữ Nôm”, chứng minh không thể phản bác là, chữ Nôm của người Việt có trước, từ đó được cải tiến thành chữ Hán! Chiêm Thành, Lâm Ấp cũng không như nữ tiến sĩ lầm tưởng!
Trong cuốn “Nhìn lại sử Việt” in tại Hoa Kỳ, tiến sĩ Lê Mạnh Hùng chứng minh được rằng, đó là đất của quốc gia Văn Lang do các vua Hùng làm chủ.
Khi Việt Nam bị người Hán xâm lăng, những đất trên trở thành vô quản, tù trưởng của các bộ lạc người Việt tự lập thành quốc gia riêng. Việc tổ tiên ta mở rộng bờ cõi xuống phía Nam là sự sắp xếp lại giang sơn của các vua Hùng!
Lịch sử, văn hóa Việt là câu chuyện dài, mà tôi đã trình bày trong hai cuốn Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (NXB Văn học, 2007) và Hành trình tìm lại cội nguồn (NXB Văn học, 2008) nên khó nói hết trong bài báo nhỏ! Nếu có dịp về lại quê hương, mời tiến sĩ dành thời gian vài ba ngày tới gặp tôi để trao đổi về câu chuyện lý thú này.
Tôi sẽ tặng riêng bà cuốn Tìm cội nguồn qua di truyền học và cuốn Cội nguồn văn hóa Việt mà tôi đã dịch sang tiếng Anh với nhan đề The source and culture of Vietnamese sắp xuất bản. Tin rằng, qua đó, tiến sĩ học được những tri thức mới về Việt học để truyền thụ lịch sử, văn hóa Việt cho người Mỹ!
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Xin mời quý vị tiếp tục tham gia Cuộc tranh luận mở đầu.

Nguồn: BBC
Và bài viết dưới đây cũng là của một người cùng giới và  cùng lứa tuổi với nữ tác giả bài viết trên nhưng nếu so sánh về tầm hiểu biết giữa 2 người thì có lẽ là cả một trời một vực:

Nhân vụ “TS Đỗ Ngọc Bích”, nhớ lại vài nguyên tắc báo chí
“Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” là tựa đề bài viết đăng ngày 17/4 trên BBC Việt ngữ của tác giả Đỗ Ngọc Bích. Chị Bích là một Facebook friend của tôi, do đó tôi đã chú ý đọc bài này ngay hôm BBC đăng tải. Nói chung thì chỉ cần lướt qua một lần là đủ thấy bài viết sẽ gây phản ứng như thế nào trong dư luận độc giả.
Để phân tích tỉ mỉ từng ý, từng câu chữ, chỉ ra từng điểm đúng và chưa đúng về mặt học thuật, thì mất thời gian và nhiều bạn đọc của BBC đã làm rồi. Ở đây, tôi chỉ muốn nhận xét bài như một biên tập viên bình thường đọc bài của một cây viết nào đó.
Tôi không nghĩ chị Bích là “Hán gian” hay “Việt gian”, “điệp Tàu”, v.v. Nếu có thể nhận xét ngắn gọn, tôi chỉ thấy chị… dại, với tư cách một người viết. Không nói chuyện học thuật, kiến thức lịch sử, kiến thức về quan hệ quốc tế, xét thuần túy về mặt báo chí, chị Bích vi phạm một nguyên tắc quan trọng: phải hiểu tâm lý độc giả trước khi viết.
Tâm lý của độc giả, khán giả, thính giả… chúng ta nói chung là “thích những nội dung sẽ củng cố thái độ, quan niệm hiện thời của chúng ta, và ta có xu hướng phản ứng với những ý tưởng đi ngược lại niềm tin của mình. Do vậy, nhà sản xuất (chương trình truyền hình)/ người làm báo v.v. phải cẩn thận trong việc đưa ra những ý tưởng có thể sẽ “chà đạp” lên các quan niệm vốn phổ biến.” (Ron Whittaker)
Điều này có nghĩa là người viết nói chung nên tránh những chủ đề “đi ngược lại niềm tin cố hữu” của độc giả. Vì vậy, nếu bạn định viết “mặc quần là khiêu dâm, cởi truồng mới là đứng đắn” thì cần chuẩn bị tinh thần nghe chửi, tốt nhất là mua lấy cái rổ trước đã. Khi bạn đang ở Angola thì đừng dại mà gọi người dân ở đó là lũ mọi đen không có ngôn ngữ riêng, phải dùng tiếng Bồ Đào Nha, thật là thiếu bản sắc, chao ôi quả là nhục .v.v.
Ai cũng biết quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, kiểu quan hệ giữa một nước nhỏ và một nước lớn ở bên cạnh nhau (nghĩa đen), luôn luôn tiềm ẩn khả năng bùng nổ mâu thuẫn, xung đột. Không riêng Việt Nam với Trung Quốc mà tất cả các nước nhỏ ở cạnh nước lớn đều có thể bị chèn ép hoặc ít nhất cũng có tâm lý của kẻ bị bắt nạt. Tôi từng gặp một vài người Nauy rất ghét nước Nga, vì “ngày xưa chúng nó lấy đất của chúng tao”. Huống chi Trung Quốc hành xử chưa bao giờ là đàn anh, độ lượng với các láng giềng – cái này liệt kê bằng chứng ra chắc là cần cả chục công trình nghiên cứu.
Vì lẽ đó, xét về khía cạnh tâm lý, người Việt Nam rất khó tránh khỏi cảm giác ghét bỏ Trung Quốc – gần như một mối “cừu thù” nằm sâu trong tiềm thức. Chị Đỗ Ngọc Bích lại “khiêu khích” người đọc bằng một bài viết với nhiều lời lẽ đả kích như vậy, thì chưa cần biết chị nói đúng/ sai thế nào, có bị nguyền rủa, đe dọa cũng là dễ hiểu.
Cần nói rõ thêm, nguyên tắc trên chỉ áp dụng cho báo chí. Nếu chị Bích viết bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” và đưa lên bích báo của lớp 10A trường PTTH ABC xã XYZ gì đó, hoặc viết xong cất vào nhật ký, thì chẳng sao. Nếu chị Bích có cả một công trình nghiên cứu đồ sộ, cỡ đề tài khoa học cấp Bộ, Nhà nước… chứng minh sự lệ thuộc của Việt Nam vào Trung Quốc, tổ tiên người Việt là người Trung Quốc… thì việc phản biện xin dành cho cơ quan chủ quản và các nhà khoa học. Có điều trường hợp này thì khác hẳn, bởi chị đang viết cho một tờ báo – trang mạng của BBC Việt ngữ.
Như vậy phải chăng là nhà báo không thể viết những điều “có thể sẽ ‘chà đạp’ lên các quan niệm vốn phổ biến”? Câu trả lời tùy quan niệm mỗi người. Cá nhân tôi cho rằng nếu viết, nhà báo phải cực kỳ thận trọng, khéo léo, cân nhắc từng từ ngữ, lập luận chặt chẽ và đầy đủ căn cứ. Cần khẳng định ngay là kể cả làm như vậy cũng không đảm bảo 100% độc giả sẽ “nhất trí cao” với người viết, và nói chung các chiến hữu làm báo chắc ai trong đời cũng ít nhất một lần bị chửi te tua.
Ngoài ra, có những chủ đề nhà báo tuyệt đối không nên động vào, nếu chủ đề đó có nguy cơ rơi vào một trong các trường hợp sau: kích động bạo lực, tội ác, kích động hằn thù dân tộc, cổ vũ cho sự phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào – kỳ thị chủng tộc, giới tính, tôn giáo, địa phương, v.v. Một người bạn (đồng tính) của tôi nói rằng, anh căm thù những tựa báo kiểu như “Giết bạn tình đồng tính”, “Hai người đồng tính giết người cướp của”, “Đêm thác loạn của gay”, “Một kiếp bị giời đầy”, vân vân và vân vân.
Chị Bích có thể nói rằng mình không phải nhà báo, tuy nhiên bài viết của chị lại là dành cho một cơ quan truyền thông đại chúng, vì vậy nếu chị không nhận lỗi thì lỗi này sẽ được “kính chuyển” từ chị sang tòa soạn. Không thể trách độc giả đã mạt sát chị. Không thể nào tuyên bố: “Tôi không đọc, không chấp nhận, và không đáp lại những lời lẽ xúc phạm thô bỉ của những người phê phán, chỉ trích tôi”.
Cuối cùng, xin chia sẻ với các bạn làm báo và không làm báo một “bí kíp” – đúng hơn là lời khuyên tôi nhận được từ một nhân vật từng phỏng vấn: “Trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, người viết phải viết sao để chính quyền (buộc) phải lắng nghe, nhân dân yêu mến, và kẻ thù thì không thể lợi dụng”.
Bài viết của chị Đỗ Ngọc Bích chắc chắn không được nhân dân yêu mến, kẻ thù của Việt Nam hoàn toàn có thể lợi dụng, còn chính quyền Việt Nam ngày nay cũng như chính quyền Sài Gòn trước năm 1975 hẳn cũng chẳng vui gì.
Với một bài báo vi phạm hoàn toàn các nguyên tắc hay là tiêu chuẩn của báo chí như vậy, không hiểu tác giả viết làm chi?…
+++++
Bổ sung thêm một đoạn: Trong bài trả lời độc giả, chị Đỗ Ngọc Bích cho biết chị viết vì “muốn tìm ra nguyên cớ tại sao họ (các blogger trong nước và hải ngoại) ghét TQ và một số lãnh đạo VN đến thế, và cố gắng làm cho họ bớt thù hận, bình tĩnh, rộng lượng hơn một chút với một số bối cảnh ngoại giao Việt Trung hiện thời”. Đến đây tôi xin trở lại ý trên: Nếu viết, nhà báo phải cực kỳ thận trọng, khéo léo, cân nhắc từng từ ngữ, lập luận chặt chẽ và đầy đủ căn cứ.
Theo ngu ý của tôi thì cũng với những ý đó của chị Bích, một nhà báo rất tài năng có thể cho ra một bài viết không đến nỗi hứng một trận mưa chửi. Người viết tay nghề vừa phải thì chẳng nên liều, như nhà em thì chạy cho mau, kiểu như “các cụ” ta dạy “đã yếu đừng ra gió” ấy mà.
Đoan Trang


Xem thêm:
BBC...“Dạy đĩ vén váy”. 
Hội An Việt tại Anh đề nghị cách chức Trưởng ban Việt ngữ đài BBC  

 

----------------

24/04/2010

Thầy không ra thầy, thợ không ra thợ

(TBKTSG) - Nhìn vào các nghề thủ công, nhiều người có tuổi và kỹ tính một chút thường nhận ngay ra rằng nếu so với một người thợ ngày xưa thì thợ bây giờ non tay hơn nhiều. Những ngôi đình ngôi chùa nổi tiếng, giá bảo bây giờ dựng lại không sao dựng nổi. Thử đặt những cái chuông cũ trước cánh thợ đúc, những pho tượng trước cánh thợ mộc… Có cho tiền tỉ các vị cũng lắc đầu không dám nhận làm.


Nói tới thợ thủ công là phải nói sự tinh tế, cái hoa tay. Thợ bây giờ hơn hẳn người xưa ở các phương tiện hiện đại trợ giúp. Nhưng máy móc, trong khi giúp con người đỡ vất vả, lại làm thui chột đi năng khiếu mà chỉ con người mới có.
Nhân nhà có việc cần, tôi đi mua một cái cuốc. Lưỡi cuốc nhập từ Trung Quốc, không nói làm gì. Nhìn vào cái cán. Xưa chỉ cán tre, nay có cán gỗ. Chết nỗi, gỗ chỉ được đẽo gọt qua loa. Chưa bao giờ tôi thấy có một cái cán cuốc nham nhở như vậy.
Thầy không ra thầy, thợ không ra thợ
Đã nhiều ý kiến ghi nhận con người thời nay suy thoái so với ngày xưa. Dối trá lừa lọc làm bậy bất chấp luật pháp… Còn một khía cạnh khác đơn giản hơn: Sự lỏng lẻo trong mối quan hệ con người với công việc. Sự kém cỏi trong chất lượng công việc mà họ hoàn thành.
Có lẽ không nước nào như ở nhiều cơ sở sản xuất nước ta, hàng hoá chỉ được những mẻ đầu, càng về sau càng hỏng.
Nhiều con đường mới làm đã nứt vỡ toe toét.
Đình chùa được tu bổ ngày một lai căng xa lạ.
Trong nghề viết văn viết báo, văn chương chữ nghĩa chưa bao giờ bị rẻ rúng như bây giờ. Người viết viết bừa viết ẩu, người duyệt bài cứ ký đại đi cho in - chỉ cốt không sai chính trị còn tội lỗi gì cũng tha bổng hết.
Xảy ra tình trạng lộn xộn không chỉ do sự dễ dãi thiếu chuẩn mực cùng sự kém cỏi của những người cầm trịch mà còn do sự tha hoá của bản thân người lao động. Nhiều người thiếu hẳn sự tha thiết với công việc hàng ngày vốn là lẽ sống của mình. Cứ ngong ngóng những chuyện đâu đâu trong khi chính nghề nghiệp bị thả nổi.
Ở Hà Nội những năm sau 1954 có một tình trạng khá kỳ quặc. Chủ nghĩa bình quân bộc lộ ra thành những biến tướng kỳ lạ. Những người lao động đơn giản được tôn lên vị trí rất cao trong khi người trí thức thì lại luôn luôn bị đặt thành vấn đề. Trước mắt là phải cải tạo họ bằng những thứ lao động đơn giản, người ta bảo vậy!
Ở nhiều cơ quan, người dọn dẹp vệ sinh (lúc ấy gọi là lao công) được bố trí đi học văn hoá ngay trong giờ làm việc, còn các nhân viên khác thì phải bỏ việc của mình đi làm những việc như lau nhà lau cửa, dọn dẹp vệ sinh. Công thức tóm lại là “Người quét rác đi học văn hoá, các nhà khoa học lo đi quét rác”. Từ đây đẻ ra cái tình trạng nhấp nhổm, chả ai yên tâm làm việc gì.
Trong các cuốn lịch sử nghệ thuật Nhật Bản, tôi đọc thấy họ hay nói là có những người theo nghề một cách hết lòng tới mức có những cô gái tự nguyện không lấy chồng để yên tâm cống hiến cả đời cho nghề.
Ở ta thì lâu lắm tôi không nghe thấy nói có ai “điên” kiểu ấy. Kiểu sống hết mình với một niềm tin nào đó được coi là lập dị và không chấp nhận được. Khi chuyển hoá vào trong cách ứng xử người lao động, nó hiện ra thành sự coi thường những việc nhỏ mọn.
Trong điều kiện một nước mới chuyển từ nông nghiệp lên hiện đại, xưa phố xá đi đâu cũng gặp những người thợ chữa những thứ lặt vặt như chữa khoá chữa giày. Nay thì nghề này ngày càng ít người làm.
Thằng cháu con đứa em tôi đang ở bên Đức thỉnh thoảng về chơi. Nó kể thời học đại học, mùa hè nó đi vác lợn trong lò sát sinh rồi lái xe chở lợn đến các cửa hàng. Nghe chuyện, hàng xóm bảo nhau: Ở Việt Nam không ai làm thế. Thanh thiếu niên có nghèo mấy nhưng bảo đi làm những việc có vẻ bẩn thỉu một chút là lảng xa. Nhiều gia đình ngấm ngầm khuyến khích con cái khôn ranh lừa lọc hơn là lặng lẽ trau dồi nghề nghiệp.
Sự hư hỏng công nhiên phô phang ra và biến thành sự trơ tráo không biết từ lúc nào. Những tiền đề tạo nên sự vô cảm, bạo lực ngày một tích tụ. Những nghề phục vụ ăn chơi đàng điếm chưa bao giờ phát triển nhiều như bây giờ, tuy ngó vào thì thấy cả ở đây nữa, người ta chỉ có một trình độ nghề nghiệp loàng xoàng.
 

07/04/2010

Tư liệu về Trịnh Công Sơn

Bài 8: Diễm của những ngày xưa (Trịnh Công Sơn)

Thuở ấy có một người con gái rất mong manh, đi qua những hàng cây long não lá li ti xanh mướt để đến trường đại học văn khoa ở Huế.
Nhiều ngày, nhiều tháng của thuở ấy, người con gái ấy vẫn đi qua dưới những vòm cây long não. Có rất nhiều mùa nắng và mùa mưa cũng theo qua. Những mùa nắng ve râm ran mở ra khúc hát mùa hè trong lá. Mùa mưa Huế người còn gái ấy đi qua nhòa nhạt trong mưa giữa hai hàng cây long não mờ mịt.
Nhà cô ấy ở bên kia sông, mỗi ngày phải băng qua một cây cầu rồi mới gặp hàng long não để đến trường.
Từ balcon nhà tôi nhìn xuống, cái bóng dáng ấy đi đi về về mỗi ngày bốn bận. Thời buổi ấy những người con gái Huế chưa hề dùng đến phương tiện có máy nổ và có tốc độ chóng mặt như bây giờ. Trừ những người ở quá xa phải đi xe đạp, còn lại đa số cứ đến trường bằng những bước đi thong thả hoàng cung. Đi để được ngắm nhìn, để cảm thấy âm thầm trong lòng, mình là một nhan sắc. Nhan sắc cho nhiều người hoặc chỉ cho một người thì có quan trọng gì đâu. Những bước chân ấy từ mọi phía đổ về những ngôi trường với những cái tên quen thuộc, đôi khi lại quá cũ kỹ.
Đi để được những con mắt chung quanh nhìn ngắm nhưng đồng thời cũng tự mình có thì giờ nhìn ngắm trời đất, sông nước và hoa lá thiên nhiên. Long não, bàng, phượng đỏ, muối, mù u và một giòng sông Hương chảy quanh thành phố đã phả vào tâm hồn thời con gái một lớp sương khói lãng mạn thanh khiết. Huế nhờ vậy không bao giờ cạn nguồn thi hứng. Thành cổ, đền đài, lăng tẩm khiến con người dễ có một hoài niệm man mác về quá khứ hơn và một phần nào cũng cứu rỗi cho con người ta khỏi vành đai tục lụy. Và từ đó Huế đã hình thành cho riêng mình một không gian riêng, một thế giới riêng. Từ đó con người bỗng đâm ra mơ mộng và ước mơ những cõi trời đất như không có thực.
Nhưng thật sự thực và mơ là gì? Thật ra, nói cho cùng, cái này chỉ là ảo ảnh của điều kia. Và với những ảo ảnh đó đã có một thời, khá dài lâu, những con người lớn lên trong thành phố nhỏ nhắn đó đã dệt gấm theo hoa những giấc mơ, giấc mộng của mình. Đó cũng là thời gian mà mỗi sớm tinh mơ, mỗi chiều, mỗi tối, tiếng chuông Linh Mụ vang xa trong không gian, chuyền đi trên dòng sông để đến với từng căn nhà khép hờ hay đang đóng kín cửa.
Thời gian trôi đi ở đây lặng lẽ quá. Lặng lẽ đến độ người không còn cảm giác về thời gian. Một thứ thời gian không bóng hình, không màu sắc. Chỉ có cái chết của những người già, vào mùa đông giá rét, mới làm sực tỉnh và bổng chốc nhận ra tiếng nói thì thầm của lăng miếu, bia mộ ở những vùng đồi núi chung quanh.
Trong không gian tĩnh mịch và mơ màng đó, thêm chìm đắm vào một khí hậu loáng thoáng liêu trai, người con gái ấy vẫn đi qua đều đặn mỗi ngày dưới hai hàng cây long não để đến trường. Đi đến trường mà đôi lúc dường như đi đến một nơi vô định. Định hướng mà không định hướng bởi vì những bước chân ngày nào ấy dường như đang phiêu bồng trên một đám mây hoang lạc của giấc mơ.
Người con gái ấy đã đi qua một cây cầu bắc qua một dòng sông, qua những hàng long não, qua những mùa mưa nắng khắc nghiệt, để cuối cùng đến một nơi hò hẹn. Hò hẹn nhưng không hứa hẹn một điều gì. Bởi vì trong không gian liêu trai ấy hứa hẹn chỉ là một điều hoang đường. Giấc mơ liêu trai nào cũng sẽ không có thực và sẽ biến mất đi.
Người con gái đi qua những hàng cây long não bây giờ đã ở một nơi xa, đã có một đời sống khác. Tất cả chỉ còn là kỷ niệm. Kỷ niệm nào cũng đáng nhớ nhưng cứ phải quên. Người con gái ấy là Diễm của những ngày xưa.
————————————————————————————————-

Bài 7: Cát bụi (Trịnh Công Sơn)

Vào một buổi chiều ngày tháng không còn nhớ, tôi một mình đến rạp Casino xem phim ”Hiệp sĩ mù nghe gió kiếm” tập 6 . Đây là bộ phim nhiều tập, đã xem tập này thì không thể không chờ xem tập khác. Nói chung là tập nào cũng hấp dẫn. Trong 6 tập có đoạn hiệp sĩ mù xuất kiếm giải cứu cho một nàng Kiều xinh đẹp. Cứ mỗi tuyệt chiêu xuất ra là nghe có một tiếng nói bình giả ca ngợi. Đường kiếm như có thêm sức mạnh mỗi lúc một uyển chuyển huy hoàng hơn. Sau khi cứu được nàng Kiều, hiệp sĩ mù quay về phía tiếng nói vái tay chào hỏi. Hoá ra bên vệ đường dưới gốc cây to có một người mù khác đang ngồi xếp bàn, trên hai chân có cây đàn bọc trong bao vải gác ngang. Người nghệ sĩ mù có nhã ý chơi một bản đàn tặng hiệp sĩ mù. Hai người bèn kéo nhau vào một khu rừng gần đấy. Hình như rừng vào thu nên các cành đều trơ lá, chỉ thấy một đám lá vàng đỏ trải dài trên mặt đất. Hai người ngồi tựa vào hai gốc cây đối diện nhau. Tiếng đàn cất lên như một lời than thở ngậm ngùi về đất trời, về kiếp người. Tiếng đàn nửa chừng bỗng đứt giây. Người nghệ sĩ mù nói : có kẻ bất thiện dang nghe lén. Quả đúng như vậy, có một tên gian đang rình rập hiệp sĩ mù. Thế là hai người lặng lẽ chia tay.
Hết phim, tôi tản bộ ngang trên đường phố. Không hiểu sao cái đoạn phim ngắn ngủi ấy khiến tôi buồn buồn. Chiều tôi về nhà, sau khi ăn, tôi ngồi đọc lại cuốn “ Zorba le Grec”. Đến đoạn Zorba than thở : “ Chim đa đa ơi thôi đừng hót nữa, tiếng hót mày làm tan nát tim ta”, tôi bỗng gập sách lại và không đọc nữa. Có một cái gì đó thật trùng hợp trong cùng một buổi chiều. Một nỗi buồn hay một điều gì đó gần với sự rời xa ly biệt đang cựa mình thức dậy trong tôi.Tôi lại ra đường tìm một góc quán quen thuộc ngồi. Trên đường trở về nhà, trong đầu bỗng vang lên một tiếng hát. Tôi lập đi lập lại nhiều lần trong đầu, hát thành tiếng khe khẽ. Đến khi về nhà ghi lại thì bài hát đã gần như hoàn chỉnh. Sáng hôm sau mang hát cho một số bạn bè nghe, hầu như ai cũng thích.
Đó là câu chuyện sự ra đời của bài “ Cát bụi”.
Mỗi bài hát đều bắt nguồn từ một duyên cớ nào đó. Có khi từ một câu chuyện không đâu.
Bây giờ thì người hiệp sĩ mù kia đã chết rồi. Khoảng hai năm nay. Người viết Zorba đã qua đời dĩ nhiên con chim đa đa kia cũng đã chết. Và nếu Zorba là một con người có thật được Nikos Kazantzakits tỉểu thuyết hoá thì nay ông cũng mất rồi.
Tiếng động nào gõ nhịp không nguôi…”
Thời gian đã nghiền nát tất cả thành cát bụi hết rồi.

————————————————————–

Bài 6: Một số chủ đề trong ca khúc Trịnh Công Sơn (Bửu Ý)

Tôi (Bửu Ý) không có tham vọng nghiên cứu sâu rộng và đầy đủ các chủ đề đặt ra trong ca khúc của Trịnh Công Sơn.
Rất nhiều người đã làm việc này, mỗi người một phần. Phần mình tôi cố gắng nói thêm tránh lặp lại; nhưng không chắc được như mình mong muốn.
Những chủ đề bàn đến:
1. Con người
2. Tình yêu
3. Tình bạn
4. Lòng yêu đời
5. Thiếu nhi
6. Cái chết

1. Con người

Con người, trong ca khúc Trịnh Công Sơn không hiện thân như một con người bình thường, càng không phải là con người để trưng bày. Nó là âm bản của chính nó, là con người ý thức thân phận của mình, là một hình hài bị xô dạt trong cuồng lưu của thời thế.
Anh hay thu vào mắt mình cái tư thế co người của đồng loại:
Người nằm co ro như loài thú khi mùa đông về
(Phúc Âm Buồn)
Người già co ro ngồi thiu thiu ngủ
(Ghế Đá Công Viên)
“Co người” như hình dáng “con chó lửa” trong hộp cơ bẩm của cây súng. Nhưng “co” không phải để “bật”. Đây là tư thế “xếp vế”, thua cuộc, quy thuận.
Hình ảnh “con sâu” thì cũng vậy, cũng là con người được hóa thân:
Loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng
(Dấu chân Địa Đàng)
Loài sâu nửa đêm quên đi ưu phiền
(Dấu Chân Địa Đàng)
Bên cạnh những con người co quắp trong hóc hẻm hay ở công viên, ta lại bắt gặp một dạng người không phương hướng, không điểm tựa, người mất trí, người dở cười, dở khóc, trí nhớ lẫn lộn, pha tạp. Điên cũng là một bệnh thời đại trước những mất mát đảo điên.
Ở khúc quanh của những biến cố lớn thường nảy sinh người điên, là người không chuyển mình được theo biến cố và tạo ra cho riêng mình một vũ trụ ảo.
Ngược lại với người điên là loại người xoay chuyển vùn vụt, người thời cơ, đón gió, tráo trở, lật lọng, loại người ngợm chờ chực “tuốt sáng giáo gươm”, mà Trịnh Công Sơn gọi là “người người ngợm ngợm” trong “Giọt Lệ Thiên Thu”, như là một loài dơi ăn đêm.
Trong hình ảnh người mẹ, vốn quả cảm, anh hùng trong nghịch cảnh, vẫn hiện rõ nét người mẹ gian lao, đau khổ (Nước Mắt Cho Quê Hương, Lời Mẹ Ru, Ca Dao Mẹ) và nhất là hình ảnh người mẹ ăn năn, ray rứt sinh con ra đời:
… trái đau thương cho con mới ra đời
(Hãy Nhìn Lại)
… tiếng khóc cười của bào thai
(Nghe Tiếng Muôn Trùng)
… tin buồn từ ngày Mẹ cho con mang nặng kiếp ngườI
(Gọi Tên Bốn Mùa)
… giọt lệ ăn năn đứa con về trần tủi nhục chung thân
(Ca Dao Mẹ)

2. Tình yêu

Từng người tình bỏ ta ra đi như những dòng sông nhỏ (hay là những bóng hồng đã đi qua đời Trịnh Công Sơn)
Trịnh Công Sơn luôn là người hòa nhã với mọi người, có khi còn chịu đựng, lặng lẽ đối với ai đã xử sự không phải với mình, mong muốn người ấy hồi tâm. Đối với nữ đức tính ấy được tô đậm thêm đến mức có người bảo anh là nịnh đầm (galant). Nói chung, anh đặc biệt lịch sự, chăm chút đối với phái nữ, gần như không phân biệt, đối với em gái cũng vậy.
Thêm vào đó, anh là người yêu hoa đẹp, hay nói cách khác anh là người cần yêu để yêu đời hơn, để thêm phần cảm hứng.
Tôi muốn quay lại cuốn phim những người phụ nữ đi qua đời anh. Tôi tạm dùng chữ “đi qua” một cách nhẹ nhàng, không có màu sắc, không có hậu ý. Nhưng nó có thể bao hàm nhiều nghĩa khác nhau tùy theo từng trường hợp. Nó có nghĩa là ghé vào, hay là dừng lại. Nó cũng có nghĩa là yêu, là phụ, hay là ít nhiều yêu anh.
Việc làm này tôi biết là việc làm hay ít dở nhiều, vì có thể gây đụng chạm và sai sót. Tôi cố gắng tránh đụng chạm, vì nhiều lẽ, bằng cách ghi tắt tên người, nhưng sẽ không tránh được sai sót vì thú thật, những năm sau cùng của đời anh tôi không gần gũi thường xuyên.
Tóm lại một lời, tôi mong được sự thông cảm, rộng lượng của những người, dù muốn hay không đã góp phần quý giá của mình vào sự nghiệp của Trịnh Công Sơn.

Giai đoạn Huế 1:

Khoảng chừng 1957 – 1962. Một thiếu nữ thuộc số hoa khôi của Huế tên là N.B ở vùng phố cổ Gia Hội, thuộc lớp kín cổng cao tường. Các chàng trai đi qua đi lại trước nhà thường dòm dỏ vào, nhưng ít khi trông thấy bóng hồng. Trịnh ít thổ lộ, giữ lấy hình ảnh này riêng cho mình. Nàng có đáp ứng chăng? Một mối tình đi qua một vài trung gian thân thuộc của cả hai phía nhiều hơn là trực tiếp.
Phía hữu ngạn sông Hương cũng có một hoa khôi trường Đồng Khánh và sau đó sang trường Quốc Học lớp cuối trung học. Nàng là P.T. Dáng thanh, đẹp nhất là đôi mắt, áo dài, guốc mộc, dải món tím. Vì chị của nàng là ca sĩ, Trịnh mượn cớ lân la và đến nhà. Trịnh có phen tâm sự: “Nàng có mùi thơm riêng biệt. Nàng chỉ cần im lặng đứng sau lưng mình là mình biết ngay”. Gia đình của nàng cũng mến Trịnh. Ngoài tình yêu còn có sự lui tới ca hát vui chơi. Thêm một lợi thế cho người thiếu nữ này: từ nhà cô đến trường chỉ một con đường, lại là đường đẹp nhất thành phố với hai hàng long não thơm phưng phức và xanh như ngọc (… hàng cây lá xanh gần với nhau... Mưa Hồng), nàng lại có dáng đi tuyệt đẹp, tha hồ cho Trịnh nhìn ngắm ngun ngút một con đường xanh tươi có thêm linh hồn.
Gần cầu Trường Tiền có một khách sạn lớn do người Pháp xây cất từ đầu thế kỷ. Đến giữa năm 1985, phần lớn khách sạn này trở thành cơ sở của Đại học Huế, nhưng một phần nhỏ vẫn dành cho vài cửa tiệm lớn và chỗ ở riêng. Tại đây, có một thiếu nữ tên là H, bốn mùa mặc toàn lụa, nét kiêu sa, tân tiến. Vừa “rất Huế”, vừa tây Phương, nét sau này ít tìm thấy ở các thiếu nữ Huế.
Nhưng người thiếu nữ gây ấn tượng sâu đậm hơn là N.V.B.D, là người “ở bên kia cầu”, bên kia con sông đào. Đây là một gia đình nhà giáo, kín cổng cao tường, nghiêm ngặt. Hai nhà ở gần nhau, cách chỉ một chiếc cầu ngắn, nhưng khó gặp nhau. Trịnh nuôi trong lòng một nỗi ấm ức khó tan. Về sau này gặp lại, thời gian nàng vào học ở Sài Gòn và mãi sau năm 1975 khi nàng từ nước ngoài về, những lần gặp ấy có gì khác hẳn rồi, bởi lẻ đơn giản là “ta không tắm hai lần trong một dòng sông”. Đây là mối tình in dấu sâu đậm hơn cả, không những thế mà thôi, tôi có cảm tưởng nó vẫn còn mãi trong anh và còn in dấu lên tất cả các mối tình khác về sau.

Giai đoạn Sài Gòn 1:

Giai đoạn 1957 – 1962. Khởi đầu là không khí vũ trường, phòng trà, phụ diễn tân nhạc gây sôi động cho Sài Gòn về đêm. Anh thích đi những nơi này với Đinh Cường, Trịnh Cung. Bạn bè là cần thiết ở đây vì cậu thanh niên non trẻ ngại đi một mình. Cô T “lai Tàu” như một phát hiện của anh về giới “ca-ve” sinh sống về đêm, nhịp sống khác thường, gia cảnh không giống ai. Không khí vũ trường như một vũ trụ mù sương với khói thuốc quyện ảo ảnh đèn màu và tiếng rúc của kèn, tạo nên một không gian gần gũi, dễ thủ thỉ tâm tình. Người thiếu nữ này gây chấn động cho anh, làm anh mền lòng.
Cũng trong không khí ấy anh gặp Thanh Thúy, ca sĩ, một người con xứ Huế vào Nam lâu ngày. Cô có khuôn mặt trái xoan đầy đặn, nhưng yếu phổi, đêm đêm về khuya thui thủi bước vào con hẻm ở đường Cao Thắng. Hình ảnh này khơi nguồn cho bài Thương Một Người của anh. Thời gian 1957 – 1959, Đài phát thanh Sài Gòn có một chương trình ca nhạc mỗi tuần một lần có tên là “Chương trình Dạ hương”, chương trình gồm toàn đơn ca của các ca sĩ thời danh như Thanh Thúy, Lệ Thanh, Châu Hà, Kim Tước… Đó là chương trình rất được chờ đón và đặc biệt hơn cả là giọng Thanh Thúy, được mệnh danh là giọng hát “liêu trai”. Ông Nguyễn Văn Trung, giáo sư đại học và chủ nhiệm tạp chí Đại học viết bài Ảo ảnh Thanh Thúy.

Giai đoạn Quy Nhơn:

1962 – 1964. Đây là giai đoạn Trịnh Công Sơn sáng tác nhiều tình ca bất hủ và điều khiển hợp xướng Trường Ca Dã Tràng của anh. Hình ảnh duy nhất của người bạn gái: B.K. Các bạn khác đều rõ tình cảm này trong lòng người thanh niên xa quê chiều chiều ra ngồi bên bờ biển. Bạn anh là Đinh Cường thấu hiểu mối tình này có vẽ một bức tranh lấy tên nhan đề bài hát của anh: Biển Nhớ.

Giai đoạn Bảo Lộc – Đà Lạt:

Khoảng 1965 – 1970. Đầu tiên là cô nữ sinh nhỏ nhắn tên N. Ngày ngày áp sách lên ngực đi trên con đường đất đỏ đến trường hoặc đến nhà thờ. Anh là người đặc biệt bị thu hút bởi cảnh giáo đường, cảnh người đi xem lễ, tiếng chuông nhà thờ. Trong cảnh này, người thiếu nữ như tăng thêm phần diễm lệ.
Thời ấy, Bảo Lộc thưa thớt người và hình như lạnh hơn bây giờ. Từ đó, anh thường lên xe đò đi Đà Lạt để phần nào trốn lạnh và trốn vắng. Tại đây, được giới thiệu trước anh làm quen với P.T.L, người thiếu nữ nhanh chóng hớp hồn anh. Đây là một thiếu nữ lạnh lùng. Môi tươi thắm nhưng không thoa son, mắt to, ít nói, ít cười, đến cả ít ngồi, thích đứng nhìn, chân thoăn thoắt, chực biến. Nhưng rõ ràng là một thiếu nữ đầy tự tin, có những suy nghĩ riêng, như có vẻ như đinh ninh rằng mối tình này sẽ không lâu. Người thiếu nữ này gợi tính hiếu kỳ ở Trịnh, khiến anh khi thì đăm chiêu, khi thì thấp thỏm. “Như Cánh Vạc Bay”, anh biết trước là như vậy. Anh khó nguôi hình ảnh này, nó sẽ trở đi trở lại trong nhiều bài khác. Khi nàng về Sài Gòn, anh nhờ người đem đến tặng một chậu hoa lan cực đẹp. Vẫn có một khoảnh cách nào đó. Như gần như xa.
Ở đây, anh còn khá thân với một nữ sinh trường Bùi Thị Xuân tên là T.T. Những buổi gặp nhau ở Câu lạc bộ thể thao (La Grenouille`re), ở Sân Cù Đà Lạt sẽ được tiếp nối bằng những cuộc đi chơi ở Sài Gòn.

Giai đoạn Huế 2:

Khoảng chừng 1970 – 1975. Người năm xưa N.T.B.D có cô em đẹp, duyên, như bóng hình. Một trường hợp gần như “tình chị duyên em”. Thật ra, tình yêu này cũng gặp trắc trở như đối với chị. Hoặc tưởng chừng như hai người là một. Tình yêu ngày xưa sống dậy và trao cho người em này: D.A. Mãi sau này, sau một thời gian vắng bặt, gặp lại, Trịnh gửi lời tiếc nuối tuổi thanh xuân của cả đôi vào ca khúc Xin Trả Nợ Người.
Trịnh Công Sơn còn có cảm tình với một cô sinh viên Văn khoa mà anh đã làm quen trong một buổi văn nghệ hồi cô này còn học ở Trường trung học Jeanne d’Arc: cô tên là T.N, người thiếu nữ dễ nhận ra giữa đám đông vì cô cao lêu khêu, mái tóc dài thậm thượt, thường chụp lên đầu chiếc mũ bê-rê đỏ trông vừa xinh vừa nghịch. Với T.N (bấy giờ ở tại Cư xá Li-băng, Huế, đường Nguyễn Tri Phương, cạnh nhà thờ Xaviê), Trịnh Công Sơn hưởng được một “tình yêu học trò”, cảm thấy mình trẻ lại qua những cuộc rong chơi xe đạp lên đồi Thiên An và đã để lại 4 ca khúc (cuối 1974 và đầu 1975) chưa công bố:
Về Giữa Mùa Đông
Chiều Đông
Theo Mùa Xuân Đến
Từ Độ Yêu Người
Anh còn yêu một nữ sinh viên khoa học, mệnh danh là “người đẹp Đập Đá” (tên một chiếc đập dẫn về vùng Vỹ Dạ) có tên là M.N, bạn của em gái anh. Đây là nguồn cảm hứng cho anh viết: Quỳnh Hương, Nguyệt Ca.

Giai đoạn Sài Gòn 2:

Khoảng chừng 1970 – 1975. Một người yêu khá bất ngờ thuộc hàng ngũ trí thức nghiêm trang: Q, bác sĩ ở nước ngoài về. Cô này lọt vào mắt xanh của mẹ anh. Có lẻ các em của anh cũng có cảm tình với cô vì cô duyên dáng, tính tình dịu dàng, giản dị, dễ chịu. Đa số thành viên trong gia đình mong anh sớm sống ổn định với cô này, nhưng đầu ốc anh vẫn còn mông lung.
Nữ sĩ T.D thường lui tới với anh. Anh thích ở nhà văn này cái đầu óc thông minh, nói năng hoạt bát. Cô này có một số truyện có nhiều độc giả và được xem như một cây bút nữ nổi danh của miền Nam.
Có một cô gái đáng thương làm Trịnh Công Sơn xúc động đặc biệt. Cô này tên H, ngây thơ, đẹp rực rỡ, người niềm Nam. Anh từng tặng quà và tỏ ra nhã nhặn, tế nhị đặc biệt.

Giai đoạn Huế 3:

Thời gian từ 1975. Một người từng hâm mộ anh nhưng chỉ sau ngày đất nước thống nhất mới có thể từ Hà nội vào Huế thăm anh: T.T.N. Cô là người chơi dương cầm có đẳng cấp, người khỏe, ngón tay dài, linh hoạt vui vẻ. Trịnh xúc động trước một tấm lòng hăm hở. Cô sẽ còn gặp anh nhiều bận ở Sài gòn, sau đó đi Pháp để hoàn thành nghiệp dĩ.

Giai đoạn Sài Gòn 3:

Thời gian này từ 1975. Một người quen biết trước đây xuất ngoại, sau 1975 trở về Sài gòn: Q.H. Cô này rất tình cảm, nặng lòng với quê hương, thăm hỏi anh thường xuyên, lo lắng cho sức khỏe của anh. Nhưng đây là một thiếu nữ mực thước, suy nghĩ rạch ròi. Anh cảm mến người thiếu nữ này, có phần nể trọng. Nhưng hình như cả hai người gặp nhau đều mong ai khác nữa có mặt cùng. Giữa những lời tình cảm bao giờ cũng có lời dành cho “công chuyện”.
Trịnh quen biết với một cô từ phương xa đến qua sự giới thiệu của bạn Tôn Thất Văn: cô N.K.H. Đây là một gái vô tư, có khi như thể lạc lõng trước những lời nói lạ tai của người nhạc sĩ tài hoa. Nhưng cô đằm thắm, yêu Trịnh chân tình mà vẫn dè dặt. Trịnh ghi hình ảnh này vào bài hát Hoa Xuân Ca. Sau này, cô thương tiếc anh bằng hai câu thơ:
Như mây như gió trên trờI
Ở nơi xa ấy xin người đừng quên
Anh quen với cô bạn ở Pháp C.N.N, dần dần thân thiết. Có lẻ đến hồi muốn chấm dứt những ngày dài đơn độc, anh quyết định lập gia đình với cô. Trước khi làm lễ anh đưa cô, nay xem như là hôn thê ra Huế chơi, như để giới thiệu với cô một số bạn bè và thành phố quê hương mình. Chuyến đi Huế này không ngờ gặp tai nạn và biến cố giữa đường khiến anh thay đổi hẳn suy nghĩ và chương trình hôn nhân đứt đoạn.
Cuộc gặp gỡ giữa Trịnh Công Sơn và cô gái người Nhật Y.M, là một “thiên tình sử”. Cô rời nước sang Việt Nam tìm gặp anh và nói ý định của mình là nghiên cứu lời nhạc của anh. Chừng ấy đủ để làm dậy tính hiếu kỳ của anh. Cô cho biết sẽ để ra 4 năm học tiếng Việt. Cô lui tới với anh tự nhiên, thoải mái. Đây là một thiếu nữ Nhật của thời đại mới. Khỏe mạnh, đi đứng lóc cóc, đóng cửa thình thình. Cô còn chơi môn bóng chuyền. Cô sang Pháp học tiếng Việt tại Đại học Paris 7. Đặng Tiến bạn của Trịnh Công Sơn là thầy của cô. Thời gian Trịnh Công Sơn có mặt ở Paris tháng 5.1989, hai người cùng hát trong đêm diễn. Cô vừa đàn vừa hát tiếng Việt. Việt học tiếng Việt của cô có kết quả rất tốt: cô phát âm khá chuẩn, viết tế nhị và sâu sắc. Luận văn của cô: Ca khúc phản chiến của Trịnh Công Sơn, dày 109 trang được bảo vệ tại Đại học Paris 7, đạt kết quả cao: 17 điểm trên 20, thuộc loại điểm cao nhất ở đại học này. Tất cả những sự việc xảy ra đều êm xuôi, đẹp đẽ, riêng cuộc tình kết thúc dở dang.
Trịnh Công Sơn là người yêu cái đẹp. Anh cũng muốn em gái mình mặc đẹp. Anh nhiều phen được đề cử chấm thi về thời trang và anh phải lòng một á hậu báo Tiền Phong 1990: cô V.A. Đúng là dáng dấp một thiếu nữ đáng yêu đối với anh: đẹp, dong dỏng. Với cô này, đây là lần thứ hai Trịnh Công Sơn có ý định lập gia đình. Và cũng lần thứ hai “nửa đường đứt gánh”.
Anh biết ca sĩ Hồng Nhung từ đầu những năm 90, lúc cô theo bố vào Sài gòn và học ở Đại học Tổng hợp khoa Anh. Đây là thiếu nữ duyên dáng, thông minh, có giọng ca tròn và ngọt, phát âm và luyến âm tài tình. Hồng Nhung quý mến và trân trọng anh, lắng nghe những lời hướng dẫn trong nghệ thuật và kỹ thuật ca diễn. Trịnh Công Sơn cũng vui mừng gặp được một giọng ca thể hiện được trọn vẹn những tình ý của mình trong ca khúc như Khánh Ly trước đây. Anh viết riêng cho cô mấy ca khúc có hình ảnh của “Bống”.
Trịnh Công Sơn còn là họa sĩ có nét riêng của mình. Anh đã tự trình bày một số tuyển tập ca khúc của anh. Anh thích vẽ chân dung thiếu nữ. Một người mẫu sau này thường trở đi trở lại trên khung bố của anh là T.H.
Tôi có thể đã bỏ sót một hai bóng hồng nào đó đã đi qua đời Trịnh Công Sơn và mong có dịp bổ khuyết. Những bông hoa ấy vốn làm đẹp cho đời, đã là nguồn sống, nguồn an ủi quý giá cho anh. Đến với Trịnh Công Sơn đã là một duyên nợ, nghĩa là không hoàn toàn chỉ nếm hạnh phúc, ngọt ngào.
Trịnh Công Sơn vốn không phải là người đòi hỏi nhiều. Thế nhưng, con người anh vẫn có hai mặt không phân ly. Anh là một người có cảm xúc nhạy bén, đồng thời quý trọng người phụ nữ. Cho nên tặng phẩm tình cảm nào đến từ đóa hoa cũng được anh niềm nở đón nhận, lòng thầm cảm ơn em và cảm ơn đời. “Tôi xin làm đá cuội và lăn theo gót hài”. Mặt khác, ý thức anh vẫn nuôi hình ảnh người thiếu nữ mà anh sẽ theo đuổi cho đến hơi thở cuối cùng, coi như đó là sinh mệnh của tình khúc của mình, và anh sẽ bắt gặp từng mẫu một qua các chặng đường.
Trịnh Công Sơn lọt vào giữa rừng hoa, người ta suýt nghĩ: “sói giữa bầy cừu”, nhưng không, anh luôn luôn hiền hòa, lại đâm ra lúng túng, lắp bắp nữa là khác. Không ai có thể biết anh nghĩ gì trong đầu khi anh kề cạnh những hồng nhan. Anh nghĩ lung tung lắm thì phải: “Thực ra… Phải chi… Khoan đã… Thôi… Hay là…” Bởi lẽ, đối với anh, phụ nữ không toàn là đẹp, phụ nữ không chỉ là đẹp mà còn là một đóa hoa vô thường, là sứ giả của một mệnh lệnh nào đó mà anh đọc chưa ra.
Trịnh Công Sơn, qua lời ca có khuynh hướng diễn đạt bằng hình ảnh sóng đôi. Anh vẽ ra đóa hoa nhưng ý tưởng không dồn tụ vào đoá hoa ấy. Ngay cả khi gợi ra thiếu nữ, và dù thiếu nữ sống thật, có một tên riêng, ta vẫn có cảm tưởng đó là một thiếu nữ khác. Đó là sự trộn lẫn, hòa nhập vào nhau của hai bình diện đời sống. Và nếu hiện tại có bề mỏng manh thì lớp thời gian quá khứ chờ chực bồi khuyết vào.
Tình yêu ở Trịnh Công Sơn là một thứ tình yêu hương hoa, lãng đãng, xa cách. Nó chỉ rộn ràng bề mặt, như viên đá trong cốc, như hòn đá ném xuống ao. Lanh canh một lát, gợn sóng một hồi, tồi đâu lại vào đó, lấy lặng lẽ làm vốn liếng, uống tình lắng xuống, trả em vào đời và “tôi thu bóng tôi”. Loại tình yêu này không còn tồn tại, chỉ còn lẩn lút trên những trang giấy đã ngả vàng. Ngày nay tình yêu đã thay đổi chủ trương rồi thì phải: chớp nhoáng, phá bĩnh, trao đổi, chiếm đoạt…, cho nên tình yêu theo lối Trịnh Công Sơn đem lại một hương vị xa xôi làm mền cả trái tim sắt đá nhất, và ai nấy ngưỡng vọng như một bái vật đặt trên đài cao để cho tưởng tượng vươn tới.
Tình yêu ở Trịnh Công Sơn, như lời ca của Nguyễn Đình Toàn, không có hạnh phúc. Toàn là những bức trang mang tên: tình phụ, tình sầu, tình xa, tình xót, xa vừa, tình nhớ, tình vơi. Hạnh phúc, có chăng, chỉ đong bằng từng mẫu vụn:
Đôi mắt em là đốm lửa hồng
(Tóc em) rớt xuống hồ làm nước long lanh
Ôi áo em xưa lồng lộng
Xin mây xe thêm màu áo lụa
Và luôn những mẩu vụn… cũng sẽ chìm trôi
Hai lần Trịnh Công Sơn có ý định gút cuộc tình của mình bằng một hồi kết cuộc: tự động và chủ động trói mình bằng sợi tơ hồng. Cả hai lần đều bất thành. Hóa ra, đối với anh hôn nhân trước sau chì là một chiếc lồng son.
Cứ nghĩ đến một Trịnh Công Sơn lao vào cuộc tình, tôi thường cảm thấy bất an. Hoặc bạn sẽ chìm lỉm vào một vũng nước xoáy, hoặc bạn sẽ tán lạc vào mê cung.
Anh là người ham sống, yêu đời, tận hưởng thời gian, không thể vắng yêu. Cho nên có khi anh có người yêu ở phương này phương khác. Tôi không khỏi nghĩ đến tình trạng “phồn thực” về tình yêu của anh. Anh yêu không mỏi mệt. Không khỏi có người yêu trách anh sao không nghĩ riêng tới mình. Quả tình anh không thể nghĩ tới riêng ai. Đây là trở lực rất lớn cho hôn nhân. Ai nấy có cảm tưởng anh có rất nhiều người yêu, đầu tiên là những người yêu trong quần chúng mến mộ. Thế nhưng, nếu chứng kiến những lúc tiệc tàn, thời khắc cuối ngày ta mới thấy Trịnh Công Sơn là một khối cô đơn. Đây là một tâm trạng hoàn toàn ngược lại: một tâm trạng “bị tước đoạt” trong tình yêu, hay là ý thức mất mát, ý thức một cái gì của mình lọt vào tay người. Một mặt, anh mường tượng người yêu có một đời sống riêng và đời sống riêng này không có anh trong đó. Mặt khác anh mang trong vô thức một mất mát mà anh biết những gì có trong hiện tại vẫn khó lòng khỏa lấp cái mất mát ban đầu. Những người yêu của anh qua các giai đoạn tính lại là nhiều. Nhưng họ vẫn là những người yêu trong một trường tiếp sức của cuộc maratông (marathon) tình yêu của anh. Và bao nhiêu người ấy khác nào những mẫu của một bức tranh khảm. Cái tình yêu thời thanh xuân của anh, mối tình đã gặp phải nhiều cản ngăn, trắc trở, anh khó lòng nguôi quên. Nó sẽ dai dẳng, nó sẽ theo anh đến những phương trời khác, nó tái hiện những mối tình về sau, như thể lặp lại mà vẫn khác, làm anh không sống trọn vẹn ở hiện tại và hình ảnh ban đầu ngày xưa không bao giờ quên được.
Tất cả những hình ảnh này sẽ lồng vào nhau, bền hơn cả vẫn là hình ảnh xa xưa, và anh phải nén xuống tất cả. Trong trạng thái như thế này, việc sáng tác của anh là sự “thăng hoa” của những hình ảnh ấy.

3.Tình bạn

Trịnh Công Sơn thích có bạn bên mình. Mọi người trong gia đình nhất là mẹ anh hiểu rõ điều này và bao giờ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho anh. Luôn trong bữa ăn, giấc ngủ, anh muốn chuyện trò cho đến khi chợp mắt. Do đó, nhà anh thường có không khí bạn bè, sự có mặt của bạn bè. Thậm chí, khi anh vắng nhà, bạn đến thăm đã có mẹ hoặc các em đỡ câu chuyện để cầm chân bạn cho anh. Anh là người quảng giao, lại hiểu biết nhiều, anh luôn luôn sẵn sàng chuyện để tiếp bạn. Và các bạn của anh hầu hết cũng chia sẻ với anh cái ưu thích bạn trai như thế này. Riết rồi cả đám như thể mang bệnh đồng tính luyến ái. Câu chuyện giữa bạn bè phải có nội dung đáng quan tâm: thời thế, văn học, nghệ thuật… cho nên cứ kéo dài thêm mãi. Anh thích những bạn nào có nét riêng, hoặc là độc đáo, có cá tính, hoặc là có tiếng tăm, để có thể đưa đẩy câu chuyện đi xa. Giữa bạn bè, không cần đãi bôi, vị nể, nói thẳng với nhau luôn cả những điều khó nói. Cho nên có khi câu chuyện trở nên căng thẳng.
Ngô Kha, thi sĩ, vốn trong ngành Luật, là người bạn nói năng hùng hồn, sách hoạch, lại thiên về chính trị. Có anh, câu chuyện dễ hào hứng, bốc lửa. Anh còn có năng khiếu đặc biệt về ngôn ngữ, chuộng thơ siêu thực, thích nói tới phong trào siêu thực phương Tây cùng các khuôn mặt tiêu biểu của phong trào này. Anh kết thân với một thi sĩ vùng Vỹ Dạ là Võ Ngọc Trác, được xem là nhà thơ siêu thực đầu tiên của Huế. Cá tính của anh dễ gây ấn tượng với Trịnh Công Sơn cũng như các bạn bè khác. Ngô Kha cho xuất bản tập thơ siêu thực của mình năm 1962. Tập thơ không gây tiếng vang mới mẻ, lạ lẫm của nó, nhưng học sinh đã bắt đầu xem anh như thần tượng vì ngoài phong cách thi sĩ anh còn là một giáo sư có ảnh hưởng đến học sinh qua bộ môn Công dân và Việt văn với những suy nghĩ thời yêu nước của mình. Thần tượng riêng của anh là Che Guevara mà anh thường nhắc nhở. Ngoài ra, anh đánh giá cao một giáo sư đại học lúc bấy giờ là ông Lê Tuyên, người có một lối phê bình văn học đặc sắc, tỉ mỉ, riêng biệt và một lối sử dụng ngôn từ sáng tạo. Ngô Kha còn theo dõi những sự kiện văn học trên thế giới, tỏ ra rất hào hứng khi Albert Camus được trao giải Nobel văn chương năm 1957 để rồi cảm thương cho nhà văn ấy bị tử nạn xe hơi ba năm sau.
Hoàng Phủ Ngọc Tường dạy học rất sớm ở trường Đồng Khánh và nổi tiếng ngay. Anh lại còn được đào tạo về triết học phương Tây nên dễ đi sâu hơn vào những đề tài giảng dạy, nghiên cứu. Anh dạy học tài hoa, truyền cảm, có trí nhớ tốt, được học sinh ngưỡng mộ. Anh là linh hồn của “Tuyệt Tình Cốc”, nơi gặp mặt của thanh niên sinh viên yêu nước.
Trịnh Công Sơn cùng với Ngô Kha và Hoàng Phủ Ngọc Tường là những người gây ảnh hưởng sâu đậm cho thanh niên sinh viên, là những người đàn anh đáng tin cậy.
Huế là một thành phố nhỏ, nhiều trường học, nhiều chùa chiền. Sinh hoạt trong thành phố thường đi liền với học đường, thỉnh thoảng mới có những sinh hoạt văn hóa. Vì vậy một chương trình ca khúc Trịnh Công Sơn hoặc một phòng triển lãm tranh của Đinh Cường là những “biến cố” được hân hoan chào đón. Và đối với chúng tôi đó là những ngày lễ lạt.
Trịnh Công Sơn là người hằng ao ước, ngoài việc làm cá nhân, có những hoạt động chung sức chung lòng với bạn bè. Chúng tôi thường nói đến những nhóm người hoạt động văn hóa như Tự lực văn đoàn với những tài năng chuyên biệt, tích cực, hữu ích, hoặc như Xuân Thu nhã tập với ý hướng độc đáo, táo bạo và giá trị khai sáng, tiên phong. Chúng tôi không quên đề cập tới những trào lưu văn nghệ, học thuật phương Tây để tham khảo.
Trịnh Công Sơn thân thiết với nhiều người bạn vong niên. Ở Huế anh mến Đỗ Long Vân, một người từ Pháp về, lúc đầu viết tiếng Việt khó khăn, nhưng liền sau đó đốt giai đoạn bằng những bài viết và tác phẩm súc tích, tài hoa. Anh lui tới với ông Phạm Đăng Trí, một họa sĩ lão thành tốt nghiệp Trường Mỹ thuật Đông Dương Hà nội năm 1942 để thưởng thức phong cách vẽ công phu và kỹ thuật sáng chế chất liệu mới của ông. Ngoài ra anh còn mến trọng Ưng Lang, một nhạc sĩ “tiền chiến” tài hoa và trẻ trung cùng Hồ Đăng Lễ, vừa là nhạc sĩ vừa là một người anh lắm phen “đứng mũi chịu sào”. Vào Sài Gòn anh thân thiết với Bùi Giáng, một tài năng ngoại hạng về tư tưởng, thi ca và hội họa. Và sau này anh đặc biệt mến mộ Nguyễn Tuân và Văn Cao như những người tri kỷ, những người anh tin thần của mình. Trong các bạn trẻ hơn, anh đặc biệt quý trọng Bửu Chỉ, không chỉ qua tác phẩm tạo hình của họa sĩ này, còn quý cả tình cảm và năng lực tư duy mà anh đã có lúc sống chung qua thời kỳ hát cộng đồng và sinh viên tranh đấu.
Trịnh Công Sơn kết giao với một số bạn nước ngoài: Eric Wuff, một bác sĩ người Đức thường xuyên cung cấp thuốc men cho Mặt trận Giải phóng miền Nam, Christian Cauro giáo sư người Pháp.

4. Lòng yêu đời

Trịnh Công Sơn là người thường trực bị ám ảnh vì một nỗi sợ siêu hình (và cụ thể) tua tủa vồ chụp lấy mình:
Sợ người yêu bỏ đi
Sợ bạn ra về
Sợ ngày sang đêm
Sợ chai cạn
Sợ mất lòng
Sợ gây ngộ nhận
Sợ ngủ (vì mất thì giờ)
Sợ ăn (vì mất uống)
Chẳng qua anh yêu đời quá đấy thôi!
Trong tác phẩm Bọn người bị ám của Dostoievski có những đoạn mà tôi trích sau đây có thể ứng vào trường hợp Trịnh Công Sơn:
“Anh tin đời sống vĩnh cửa ở thế giới bên kia?
-         Không! Nhưng tôi tin đời sống vĩnh cửu ở thế giới này. Có những lúc, đến những lúc thời gian
bỗng dừng lại nhường chỗ cho vĩnh cửu”
Và trong đoạn cuối của tác phẩm:
“Có những giây lát – và chỉ kéo dài năm sáu giây đồng hồ liên tục mà thôi – anh bỗng nhiên cảm thấy có sự hòa điệu vĩnh cửu. Hiện tượng này không phải là hiện tượng trần gian hay thượng giới gì hết, nhưng nó là một cái gì đó mà con người trong lớp vỏ phàm tục của nó không thể nào kham nổi. Cần phải hóa thân lột xác hoặc là phải chết. Đó là một cảm giác rõ ràng không chối cãi được. Cứ như là đột nhiên tiếp xúc với toàn thể vũ trụ và ta nhủ thầm: “Phải đúng như thế”. Khi Chúa sáng thế, cứ hết mỗi ngày là ngài bảo: “Được thế này là đúng, là tốt”. Đó… đó không phải là ủy mị, đó là hoan lạc. Anh khỏi phải tha thứ, vì không có cái gì để tha thứ. Anh cũng khỏi phải yêu, thật đấy! Cái cảm giác ấy vượt lên trên tình yêu! Điều khủng khiếp là cái cảm giác ấy lồ lộ tách bạch một cách đáng sợ và nỗi hoan lạc của ta thì đầy ứ. Nếu tình trạng này kéo dài trên năm giây, lòng ta không chống cự lại nổi và phải nổ tan. Suốt năm giây này, tôi nhìn ra cả cuộc sống con người và tôi ước chi đánh đổi đời mình để được thế, chẳng lấy gì làm mắc mỏ lắm. Muốn chịu đựng nổi trạng thái ấy trong mười giây ta phải hóa thân lột xác.”
Những khoảnh khắc, giây phút sống cao độ ấy Trịnh Công Sơn đã từng sống qua những giai đoạn dạt dào tình yêu xen lẫn với hoài niệm, qua những “giây phút thiêng liêng đã khởi đầu”, hoặc xuất thần giữa tình trạng thăng hoa.
Tôi không thể không trích dẫn tiếp một đoạn sau đây của Marc Rutherford trong tác Tự thuật của mình suy nghĩ về hạnh phúc đời người giống như thể nói thay cho Trịnh Công Sơn:
“Về già, tôi hiểu rõ hơn rằng cuộc đuổi bắt tương lai thật là điên rồ, đuổi bắt cái toàn năng của ngày mai, khất hẹn ngày nay để sang ngày khác, đặt để hạnh phúc vào ngày sắp tới. Đến lúc đã gần như quá muộn màng, tôi mới tập tành làm thế nào để sống trong giây phút hiện tại, mới hiểu rằng mặt trời cho mình ánh sáng kia bây giờ cũng đẹp giống như mai sau, mới không còn lo âu cho tương lai, nhưng hồi trẻ tôi là nạn nhân của ảo tưởng ấy, mà trời đất vì một lẽ này hay lẽ khác lưu giữ lại trong ta, cho nên trong ngày đẹp nhất của tháng sáu ta cũng tưởng ngay tới những buổi sáng tháng bảy sẽ còn đẹp hơn.
Tôi không mạo muội nói lên điều gì bênh vực hay chống đối vấn đề bất tử, tôi chỉ nói điều sau đây: rằng con người có thể có hạnh phúc mà không cần phải bất tử và hạnh phúc ngay cả trong lúc nguy ngập, rằng khăng khăng tìm cho ra trong sự bất tử cái nguyên ủy duy nhất cho hành động của ta trong cõi đời này là một sự điên rồ quá đáng, sự điên rồ này làm hư hỏng tất cả mọi người và làm hư hỏng trọn cả đời người bằng một thứ hy vọng cứ giật lùi mãi, đến nỗi cái chết sẽ trờ tới mà ta không hưởng thụ được trọn vẹn một giờ đồng hồ nào hết”
Hãy cứ vui chơi cuộc đời
Hãy cứ vui như mọi ngày
Bên trời còn nắng
Lá trời còn xanh
Phố người còn đông
Rồi quên, rồi quên…

5. Thiếu Nhi

Trong các ca khúc của Trịnh Công Sơn, lời ca ru trở đi trở lại nhiều lần. Đó không tuyền là khúc hát dỗ giấc cho đứa bé nằm nôi. Đó còn là một sự hiện diện đi suốt cuộc đời con, như bóng mát che chở, như thần hộ mệnh.
Chính Trịnh Công Sơn cũng là đứa trẻ nhỏ “ngồi bên hiên nhà chờ xem thế kỷ tàn phai ”.
Cho nên những ca khúc của anh, số lớn có chủ đề về tình yêu, quê hương và thân phận. Hình ảnh đứa trẻ nhỏ vui Trung thu, hát đồng dao, chơi diều, hoặc thiếu hạnh phúc giữa đời… hiện ra trong một số ca khúc:
Khăn Quàng Thắp Sáng Bình Minh, Tuổi Đời Mênh Mông, Như Mùa Xuân Qua Đây, Tiếng Ve Gọi Hè, Mùa Hè Đến, Sang Thăm Nhà Bạn, Em Là Hoa Hồng Nhỏ, Ông Tiên Vui, Đồng Dao 2000.

6. Cái chết

Có một nữ sinh viên từ tỉnh khác đến Huế học, đặt câu hỏi với tôi: “Tại sao ở Huế người ta cúng và đốt hương nhiều?”. Tôi thấy có nhiều nguyên nhân. Nhưng một trong những nguyên nhân xa xôi là Huế, qua lịch sử trải qua nhiều biến cố đẫm máu có nhiều người chết có lắm oan hồn vất vưởng: thất thủ kinh đô 1885, nạn đói năm Ất Dậu 1945… Cảnh chết chóc thảm thiết, tràn lan, khiến con người ghê rợn, sợ hãi, ưu thích cầu nguyện, cúng kiến. Người dân cúng giữa đường, ngoài ra còn có phóng đăng hoặc phóng sinh. Dấu tích của tử khí ấy là các am miếu, trong đó có miếu Âm hồn và con đường mang tên Âm hồn. Tôi có một bạn người Pháp, khi được hỏi thích cảnh nào ở Huế, đã trả lời khá độc đáo: “Thích làng và nghĩ trang”. Anh bảo nghĩ trang ở Huế có hồn riêng. Nhìn mồ mả ở đây, ta không khỏi giật mình thấy chúng mọc và nhảy nhanh quá, như muốn xâm lấn cõi người sống.
Trịnh Công Sơn gợi lại cảnh lăng miếu trùng vây và mường tượng nghe ra tiếng khóc cười của bào thai. Anh đã chứng kiến nhiều cái chết thảm thương trong chiếc tranh, đã sống cái chết ấy. Và bản thân anh từ ngày xưa bị tai nạn đến sau nhiều phen được đưa vào bệnh viện cấp cứu, xem như người “từ cõi chết trở về” và cảm nhận trong từng thớ thịt hơi thở của cái sống chết mong manh. Từ đó sinh ra tâm trạng sợ mất mát: không mất cái này cũng mất cái kia, được cái này tức là mất cái kia, cái được chẳng bù cho cái mất.
Cặp phạm trù sống – chết, vốn như trở bàn tay, gây thao thức và giằng co trong người Trịnh Công Sơn. Cái sống nhiều vẻ, khúc xạ qua nhiều thời kỳ đối chọi nhau, thăng giáng qua những con người tính khí tư chất không lường được. Anh như một con chim lạ, ngứa cổ hót chơi khi bắt gặp một âm thanh đưa đẩy, hay một bóng dáng lướt qua trước mắt. Tiếng hót như một lời ướm thử, lời kêu gọi. Nhưng từng chớp ảnh của cuốn phim đời lướt qua, lướt qua, trôi tuột, bay vèo, không nằm lại trong tay, không đọng lại trong mắt.

———————————————————-

Bài 5: CỎI NHẠC TRỊNH CÔNG SƠN

Tôi vẫn nghĩ, chia ly và bất hạnh là, phần đất mầu mỡ nhất cho những hạt giống hiếm quý nẩy sinh, tươi tốt.
Tôi vẫn nghĩ, đọa đầy và vĩnh biệt là những thửa ruộng đầu tiên, mang lại cho nhân loại, những mùa gặt nhân phẩm cao quý và những hạt mầm trí tuệ vạm vỡ mai sau.
Tôi vẫn nghĩ, sự xuất hiện của mỗi thiên tài, trong từng lãnh vực, chính là sự khai mở một cánh cửa khác cho tâm hồn hay não bộ. Nó, tựa những tia sáng hồng ngọc, có khả năng cắt bỏ xích xiềng vong thân, giải phóng tâm thức đọa lạc. Nó, tựa những bông hoa cảm thông, mọc lên từ những phần thịt xương đã lấp.
Nhìn tự lăng kính này, nhạc Trịnh Công Sơn, đã mở ra không chỉ một mà, rất nhiều chân trời, rất nhiều cửa khác.
Sự định hình của cõi âm nhạc mang tên Trịnh Công Sơn là một định hình rõ, dứt. Như một định tinh, cõi nhạc Trịnh Công Sơn đã gửi đi những tín hiệu thương yêu, phát ra những nguồn ánh sáng đùm bọc.
Cùng với vận nước, cõi nhạc Trịnh Công Sơn nổi trôi theo từng mái đầu Việt Nam, cúi xuống. Cùng với tổ quốc, cõi nhạc Trịnh Công Sơn đã đứng hẳn về phía mái đầu Việt Nam, ngẩng cao.
Sự ở được và ở với chiều dài của năm tháng, vực sâu của lịch sử, cõi nhạc Trịnh Công Sơn tự nó, đã nói lên sự hòa nhập, thấm tan trong từng tế bào, lẫn trong từng huyết quản nòi giống.
Người ta từng cáo buộc nhạc Trịnh Công Sơn là, những lượng bạch phiến, không thừa cũng đủ độ làm tê liệt sức đề khang hay khả năng miễn nhiễm tiềm tàng trong cơ thể…
Người ta từng cáo buộc cõi nhạc Trịnh Công Sơn là, những khối chất nổ không dư, cũng đủ đưa tới giựt sập một thể chế…
Người ta cũng từng có những âm mưu thô bỉ dùng cõi nhạc Trịnh Công Sơn, như một vũ khí cân não xâm thực ý chí đấu tranh hoặc niềm tin nơi một lý tưởng…
Trước sau, mọi cáo buộc, mọi khai thác, lợi dụng, chỉ cho thấy, cõi nhạc Trịnh Công Sơn là những hạt kim cương bất hoại.
Trước sau, mọi cáo buộc, mọi lợi dụng, khai thác, đều không làm mờ được những lượng sáng thủy tinh nguyên chất, chiếu ra từ cõi nhạc này.
Tín hiệu phát đi từ những âm vực Trịnh Công Sơn, đã là những tín hiệu của nắng mưa, đời kiếp.
Ánh sáng phát đi từ những giòng nhạc Trịnh Công Sơn, đã là những ánh sáng của lầm than sẽ mất, đời sau sẽ còn.
Cuộc chiến giữa các ý thức hệ, hay giữa những đối lực đã dứt, hai mươi lăm năm đã lùi xa, người ta đã kiểm điểm những thương vong, kết toán những đổ nát…, cùng lúc với nỗ lực thiết kế những rào cản, từ nhiều phía, đã không tắt dập được cõi nhạc Trịnh Công Sơn. Nó vẫn bay bổng, vẫn thẩm thu trong những nhịp đập Việt Nam lưu lạc.
Từ những đốm lửa bấp bênh trại đảo, từ những bục gỗ chói lòa điện tử hôm nay, từ những miếng đất trời trắng tuyết… ở đâu, cõi nhạc Trịnh Công Sơn, cũng vẫn như một có mặt thân ái, một an ủi, xẻ chia tận cùng.
Mười sáu năm hết rồi bom đạn mà, Việt Nam cuối đất cùng trời, vẫn tiếp tục nâng niu cõi nhạc Trịnh Công Sơn qua hàng trăm ngàn thước băng nhựa, như tìm lại chính mình.
Những vấn nạn không ngừng cất lên. Những dấu hỏi tiếp tục được đánh xuống.
Tại sao? Tại sao? Ôi! Tại sao?
Phải chăng cõi nhạc Trịnh Công Sơn đã mở ra những cánh cửa mới cho âm nhạc Việt với tính chất tiên tri, qua những cảm nhận siêu hình? Như bao nhiêu năm làm kiếp con người – chợt một chiều tóc trắng như vôi – lá úa trên cây rụng đầy – cho trăm năm và chết một ngày.
Phải chăng cõi nhạc Trịnh Công Sơn đã mở ra những chân trời khác cho âm nhạc Việt Nam, với minh chứng thi, ca là một? Qua những hình ảnh thơ, mang ẩn dụ nhân sinh. Hay Trịnh Công Sơn đã thi ca hóa những phi lý, ngây ngô của ngôn ngữ để bẩy bật lên cái khía cạnh bất toại của kiếp người? Họa diệt vong của một nòi giống? Như vết lăn trầm. Như tuổi đá buồn. Như tình yêu như trái phá. Như một đàn bò không luống cỏ. Như chưa một nhạc sĩ nào lựa chọn những như như thế.
Tất cả mọi phải chăng chỉ là hệ quả của thói quen duy lý thấp tè trên mặt đất.
Chẳng bao giờ ta có được một giải thích minh bạch trước một thiên tài. Cũng như chẳng bao giờ ta có một soi rọi thấu đáo trước một trái tim vốn lớn. Mỗi chúng ta, chỉ nắm được một phần sự thật. Mỗi chúng ta, trong hữu hạn buồn thảm của mình, với một đôi chân, chỉ có thể chọn lựa bước về, một phía trời thích ứng.
Điều duy nhất ta có thể quả quyết, đó là cõi nhạc Trịnh Công Sơn, khởi đi từ một trái tim Việt Nam tha thiết.
Tôi chưa được đọc chữ viết của nhạc sĩ Văn Cao về cõi nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi cũng chưa được xem sắc màu của họa sĩ Thái Tuấn về chân dung Trịnh Công Sơn. Nhưng tôi tin, hai tài năng hiếm quý này, qua từng loại ngôn ngữ, đã thấy trái tim Việt Nam trong lồng ngực Trịnh Công Sơn là một trái tim rất lớn.
Ở đây, tôi chấp nhận bất trắc, nếu có, để được nói rằng, tôi muốn cảm ơn Trịnh Công Sơn, người đã cho tôi cùng lúc vực sâu và núi cả.
  • Du Tử Lê

————————————————————-

Bài 4: Chút Thiên Thu Còn Mãi (Hoàng Phủ Ngọc Tường)


Ướt mi, ca khúc đầu tay nổi tiếng ngay khi mới ra mắt công chúng là một bài tình ca buồn, năm ấy, Trịnh Công Sơn vừa mới bắt đầu thời hai mươi tuổi. Hình như đường sinh mệnh trên bàn tay tài hoa ấy có một nhánh rẽ vào tình sử, và qua ba mươi năm cho đến nay, Trịnh Công Sơn trở thành người tình lãng du của nhiều thế hệ.
Ngoài tất cả mọi điều thường nói, nghệ thuật còn là cố gắng miệt mài của con người nhằm thấu suốt dự báo của ngày Lễ Tro trong Phúc Âm: từ Cát Bụi đã sinh ra, và sớm muộn người cũng được trả về Cát Bụi. Với Trịnh Công Sơn, ngườI tình trước hết là người bạn lẻ loi trong đời để cùng chia xẻ tin buồn của Phúc Âm, để đừng bao giờ em quên đi nỗi thiết tha của con chim di đã để lại dấu chân trên sỏi cát, và con phù du đã một lần cùng em bay đôi qua khói mùa hạ. Hình như con người thời nay đã đánh mất cái cảm nhận sâu thẳm của người trèo núi ngồi nghỉ mệt trên bờ vực. Nỗi cô đơn chính là vực thẳm linh hồn mà nghệ thuật cần đạt tới, như đạt tới chân thân của mình, để từ đây biết khước từ mọi ảo tưởng cuộc đời. Tình ca Trịnh Công Sơn cuối cùng lại là bài kinh cầu bên vực thẳm, lay động ý thức về thân phận ở bất cứ ai mê muội định tìm một chỗ ẩn
trốn an toàn giữa cõi đời.
Và như thế, tình ca Trịnh Công Sơn không hẳn chỉ là một bông hồng dâng tặng – nó chứa đựng tất cả tâm trạng lo âu của con người nhạy cảm nhìn ra thế giới hiện đại. Nhưng khỏi phải e ngại rằng Trịnh Công Sơn định làm triết lý thay vì âm nhạc. Điều khiến cho tình ca Trịnh Công Sơn sống mãi trong lòng người chính là ở đây. Dù những trầm tư của tác giả đi xa đến đâu, âm nhạc Trịnh Công Sơn vẫn là một cõi riêng dành cho tình yêu: nó làm tươi lại bông hoa đầu tiên mà con người đã hái, mang theo từ vườn địa đàng, đánh thức cả trời mộng mơ tưởng chừng đã quá xa trong đời người, để đưa những người tình đến ở một lâu đài cổ xưa trong rừng, êm đềm, giản dị mà cao sang lạ thường.
Những người yêu nhau trên đời vẫn tiếp tục khiêu vũ cùng với cây đàn lyre của chàng. Qua tiếng hát Khánh Ly sương khói trần gian cứ bay đi, và một chút thiên thu còn mãi…

——————————————————————-

Bài 3: Góc Nhỏ Cho Những Người Vừa Mới Tiếp Cận Nhạc Trịnh Công Sơn (Trịnh Tuấn)

CHƯƠNG I : Thử tiếp cận Trịnh Công Sơn qua ngôn từ của nhạc.

1/ Một số cảm nhận nhỏ về ngôn từ trong nhạc của Trịnh Công Sơn.
Là một người biết đến tên tuổi Trịnh Công Sơn khá lâu, nhưng không thể tiếp cận nhạc của ông một cách sâu sắc và có hệ thống, nên phải nhờ đến sách vở và một số bạn bè trong box Trịnh, để thực hiện cho bước đầu khảo lược lại Trịnh Công Sơn theo cách riêng của mình. Tôi đã đến với Nhạc Trịnh bằng con đường này.
Lần đầu tiên nghe ca sĩ hát bài Một Cõi Đi Về, tôi bị hút vào những ngôn từ rất thơ, rất đời và đầy triết lí. Cái nền tảng cho sự đam mê có lẽ xuất thân từ đấy và định hình trong tâm thức một hoài vọng tìm hiểu chân lí bí hiểm, nằm sâu dưới đáy mồ nhân thế bao nhiêu năm chợt bừng thức bởi một thứ ánh sáng diệu kì nơi lòng mình. Tôi cố tạo ra vẻ không yêu Trịnh và nhạc của ông khi gặp bạn bè, nhưng trong lòng thì hoàn toàn ngược lại. Như Một Cõi Đi Về đầy những dấu chân, tôi phải lạng lách để không bước lại những dấu đời đã từng in dấu. Trịnh Công Sơn không cần bất cứ một văn bản nào, một chữ kí nào trong trái tim tôi, thì hiển nhiên những thái cực của tâm hồn tôi đã giữ lại hình ảnh ông trong từng gam màu, cung bậc, ẩn mình dưới lớp vỏ ngôn ngữ đẹp một cách lạ lùng.
Đi sâu vào nghiền ngẫm ý tình con chữ, tôi nhận thấy đâu đó trong tâm hồn người nghệ sĩ lớn Trịnh Công Sơn phảng phất thi tình từ độ ý nhạc vừa chạm tim ông, cho nên nhạc của ông có sức lan tỏa ghê ghớm. Nó như một dòng sông mà bất cứ một ai cũng có thể tìm cho mình một nơi để tắm, để bơi lội cho thoả thích. Tuy nhiên, vì nó như thế, cho nên cũng không ít người trong lúc quá thỏa thích với dòng sông lớn ấy đã bị cuốn đi…Khi biết mình đã quá xa nơi bến tắm, thì cũng đã là lúc người đó đã dạt về cái nơi biển rộng không phải có riêng một mình Trịnh Công Sơn mà còn muôn trùng bao điều khác. Thành ra, nếu không biết tiếp cận và lĩnh hội, thì dẽ bị quáng trước những thứ ánh sáng mạnh như tình yêu vậy.
” Hôm nay ta say ôm đời ngủ muộn, để sớm mai dây lại tiếc xuân thì”. Có phải cuộc chơi nào cũng vậy thật chăng? Và con đường nhỏ đầy những lối mòn quanh nó mà tôi đang đi liệu sẽ về đâu? Hay là cũng tận say cho thoả lòng hiện tại, để sớm mai ra chợt tiếc cho mùa xuân kia đã cạn ngày….
2/ Tính thông tin trong ngôn ngữ Trịnh Công Sơn. ( Sơ luận )
Thường thì thơ hay nhạc đều chứa đụng tính thông tin trong câu chữ, như riêng với ngôn ngữ của Trịnh Công Sơn, tính thông tin vượt ra khỏi những phạm trù triết học thuần tuý, cuốn con người vươn xa hơn trong những dự cảm và mơ ước. Những câu chữ thể hiện cốt cách một trái tim lớn, một nhân sinh quan hình thành bởi pha lê và cát bụi… nên sự óng ánh trong nó không dễ nhận biết. Giống như những hạt cát dưới ánh mặt trời, nó phản chiếu khiêm tốn hào quang, nhưng rát bỏng và góp phần làm ấm cả sa mạc. Ngôn ngữ của Trịnh là như thế. Lần theo từng con chữ mới thấy được cái ý sâu xa, cái mênh mông bát ngát ở định hướng những con đường. Đọc Trịnh, ta thấy rất rõ điều đó, và nghe Trịnh, ta lại thấy điều ngược lại. Xuyên suốt sự phát triển của ý, của cảm súc là những cố gắng cho nét đẹp trí tuệ, nhưng không hề phô trương hay rũa gọt ngôn từ. Cái đẹp trí tuệ hiện ra ở tính thông tin cho một hướng tư duy người đọc, người nghe. Đến như một người bạn của Trịnh là Nguyễn Trọng Tạo cũng phải thốt lên cái lí do tại sao Trịnh Công Sơn được quần chúng yêu đến thế! Thì có lẽ cái câu trả lời chẳng khó gì với những ai đã đọc, đã nghe, đã nghiền ngẫm và suy tư về Trịnh. Bằng ngược lại, có chăng cũng chỉ biết và đến với Trịnh theo trào lưu, để được xếp mình vào hàng ngũ những người nghe nhạc trí tuệ. Cái mốt này rởm đời và nên bài trừ ra khỏi hệ thống những người yêu Trịnh.
Đọc Trịnh, ở một chừng mực nào đó, ta thấy ngân lên những cuộc đời, những số phận và những ghi chép như một nhà làm sử. Sự Sống và Sư Chết hình như đã Vô Thường qua tình thơ và ý nhạc. Người nghe tận hưởng được sự minh bạch triết học Đông Phương và dẫn lối họ ra khỏi cái gọi là Cõi Tạm. Những điều mà Trịnh tâm niệm cũng là những điều hiển nhiên trong cuộc sống xã hội, sao nghe vẫn vang vọng ý tình…

Tiếp cận Trịnh Công Sơn qua những cách nhìn của dư luận.

1/ Dư luận xã hội cho đến thời điểm này vẫn tồn tại rất nhiều những suy nghĩ thuận nghịch về Trịnh.
Điều đó là hiển nhiên thôi. Tuy nhiên, tìm hiểu nguồn gốc sâu xa hay cái gọi là nguyên nhân phát sinh sự thuận nghịch ấy trong lòng dư luận thì chưa ai làm. Nói đúng hơn là không ai đủ thời gian và tâm huyết cho công việc ấy. Vì thế, báo chí khoanh tay ngồi nhìn. Những người hâm mộ và kính trọng tài năng cũng như đạo đức của Trịnh cũng ngồi chờ. Một số ít những người dám làm thì không tìm được đầy đủ tư liệu, và tình cảm ủng hộ. Sự tắc nghẽn về vấn đề này chưa có sức mạnh khơi thông. Thành ra, tôi rất ngại khi nói nói đến nó, cũng như trước đây đã ngại khi nói ra tình cảm thật của mình về Trịnh trước bạn bè.
Không sao cả. Vì đó chính là một minh chứng sâu sắc cho cái gọi là thuận nghịch trong tình cảm, góp phần tạo ra các dư luận ngược chiều. Thử hỏi, khi ra đường, ai cũng hát nhạc Trịnh, ai cũng bàn tán về nhạc Trịnh, ai cũng si mê Trịnh như một ông Thánh, thì hoá ra tất cả họ đang cố tình tự lập một tôn giáo lố bịch lắm sao?! Nói như một vị Giảng Viên của trường Cao đẳng Sân Khấu Điện Ảnh TP.HCM, trong một lần tôi được nghe tại Trung tâm Nghệ Thuật Học – Trường ĐH Văn Hiến rằng, nếu Trịnh Công Sơn có thể làm cho ai nấy khi nghe nhạc của ông đều cười và yêu ông, thì chắc chắn một trăm phần trăm trịnh Công Sơn là một anh Hề! Bởi chỉ có anh hề trên sân khấu mới làm được điều ấy, còn bất cứ một diễn viên chính diện hay phản diện nào cũng không làm được. Sân khấu lớn là sân khấu cuộc đời cũng vậy. Vì lẽ ấy, dư luận tồn tại những quan điểm thuận nghịch là một lẽ tất nhiên và tôi nghĩ rằng nên như thế. Không có sự thuận nghịch ấy, tất không làm sáng ra những giá trị của Trịnh và ngược lại không thể có cái vách tường sừng sững của sự khẳng định, để đè bẹp những suy nghĩ sai lầm.
Trong một đất nước rất giàu có về truyền thống thơ ca như nước Việt Nam, đi đến đâu cũng có dân ca với những làn điệu đã trở nên vô cùng quen thuộc. Lại có cả hàng nghìn năm nghệ thuật Chèo Cổ, Hát Cung Đình…chế ngự, và khi xã hội mở cửa thì nhạc cũng như thơ hay nói chung là cả nền Văn Học Nghệ Thuật nước nhà không tránh được những làn gió độc từ nhân loại thổi vào, khiến có lúc tưởng như những loại nhạc rẻ tiền chiếm lĩnh đa số trong đầu và trong lòng giới trẻ. Hơn nữa, nột dãy trường Sơn còn oằn mình nằm trong tim thế hệ cha chú vừa mới bước ra khỏi chiến tranh, các bản tình ca, các bài hát truyền thống vẫn như những ngọn lửa không chỉ là niềm tin mà còn là niềm phấn trấn…Thì nhạc Trịnh Công Sơn với chỗ đứng khiêm tốn trong tám triệu con người đã là con số vô cùng lớn. Tôi tự hào rằng mình là một trong cái con số nhỏ nhoi ấy, dẫu mới tập tễnh tiếp cận nhạc cũng như thơ của Trịnh Công Sơn…
2/ Vai trò của báo giới trong vấn đề đưa nhạc Trịnh đến các tầng lớp khác trong xã hội, nói thẳng ra là rất khiêm tốn. Nếu không muốn nói rằng, báo giới đang ngập ngừng ngọn bút. Họ mơ màng và chưa tìm ra cái mới trong bài viết của họ. Nói như một câu thơ lục bát của Nguyễn Minh Khiêm là:
” Sợi tơ vướng vít trên cành
Đi đâu cũng gặp lại mình cả thôi”
Song, cái họ sợ chưa hẳn đã là sự gặp lại chính họ trong bài viết, mà gặp phải dấu chân người khác. Đúng thế. Và tôi nghĩ rằng, điều đó không làm nên tính sáng tạo cho họ mà ngược lại càng góp phần làm cho ngòi bút của họ cùn đi. Nhớ mấy câu của Trịnh: Còn hai con mắt khóc người một con… Trịnh Công Sơn lúc tại dương đã từng viết ra những lời nhạc như chính máu của trái tim ông như thế, nhưng tiếc thay, khi ông về với đất, thì những người học đòi nghe nhạc của ông chỉ cầm cờ mà vẫy trong đám tang của buổi tiễn đưa phần xác Trịnh, mà chẳng tích đọng được phần hồn của Trịnh đang lan toả khắp nhân gian…

Tiếp cận Trịnh Công Sơn qua cách độc thoại chính mình

1/ Nhiều đêm ngồi một mình bên cửa sổ. Không nhạc, không thơ, chỉ có ánh trăng non ngang mày. Chợt thấy lòng mình như ý nhạc của Trịnh, quạnh hiu và đầy nỗi khát khao được cầm tay cuộc đời. Những điệu nhạc chẳng lấy gì làm trầm bổng như các loại nhạc vàng ( sến), dân ca…sao thấy trái tim mình du dương đến lạ. Cái du dương này thoáng ẩn hiện trong ánh sáng hoả châu từ độ nào bên chiến địa, ngân nga, dìu dặt…rồi ầm rú như tiếng đại bác dội xuống sau lưng thành phố. Ánh trăng trên đầu cũng như e ấp núp nửa khuôn mặt non nớt vào mây, chỉ để lộ một vòm sáng như chiếc mắt kính đã hoen mờ vì khói thuốc vắt trên khuôn mặt Trịnh. Tôi mơ hồ như một đứa trẻ thơ cố tìm lại một nỗi gì trong tim…
Ừ nhỉ! Trịnh Công Sơn viết ra những điều có cao siêu gì đâu. Toàn là những triết lí giản đơn, đọc ra ai cũng hiểu. Thế mà vẫn huyền bí, mông lung. Những khúc nhạc đê mê làm cho hồn người trở nên lay động như những ngày trở mùa trở gió. Những tiếng nhạc xuyên vào lòng đêm làm bừng tỉnh các loài hoa dại. Những tiếng nhạc rên xiết bên xác chết mà vẫn ấm những hơi người nồng nàn. Những tiếng nhạc oằn đau trên nếp nhăn của mẹ vẫn da diết như điệu ca dao…Sao thế nhỉ? Có phải chăng tất cả những điều trên tôi vừa ngộ ra đó chăng? Có lẽ là như thế. Ngọn bút tưởng đã vô duyên và tự khép lòng đơn lại, nhưng đã kịp tải ý của lòng vượt ra ngoài vùng cấm của tư duy. Ôi, nhạc và thơ cùng trí tuệ của thiên tài – Những thứ có thể nuôi sống những tâm hồn cô quạnh. Tôi cứ mãi loay hoay trong vụng về suy nghĩ và cứ run rút buồn trong từng cung trầm của Trịnh…
2/ Người về soi bóng mình sau cuộc thế đảo điên. Một cuộc trở về không tốn nhiều công sức chuẩn bị nhưng hao tổn trăm ngàn dòng lệ. Thế nhân chẳng đủ là tường trắng lặng câm cho bóng người phản chiếu được đâu. Người cứ hãy ra đi, chỉ xin để lại những gì người đã cho – hàng ngàn câu thơ, điệu nhạc. Thế nhân giàu lên trong hồn họ nhưng họ nào đâu có biết. Và tôi ơi, nếu thời gian này trôi chậm hơn một chút, chắc có lẽ những độc thoại mơ hồ sẽ chắp cánh cho ngọn nến dưới trăng sáng hơn một chút, cho bóng người hạ xuống bờ vai…
Trăng cũng sẽ vào mây, và chốc nữa Khánh Ly sẽ hát. Trịnh Công Sơn tuy đã ra đi, Khánh Ly cũng không còn trẻ, sao tình thơ và ý nhạc vẫn tươi non đến thế. Cái buồn buông bắt như thực như mơ vẫn nhói lòng đến thế…Tất cả như đang hội ngộ trong trái tim nhỏ hẹp của tôi làm chật chội cả đời thường và tan ra như dòng máu chạy khắp mạch trên cơ thể. Tôi tự hỏi với lòng rằng, mình đang nguỵ biện cho mình đấy ư? Hay toan tính cho sự thấp hèn của đua đòi theo mốt nhạc thời hiện đại? Con thạch sùng trên trần nhà chép miệng. Đêm vẫn đêm và tôi vẫn tôi…
Không còn ai cả, kể cả trăng kia cũng đi ngủ mất rồi. Tôi tự nhủ với lòng mình: Tôi ơi đừng tuyệt vọng! Vì đâu đó nơi cuối đường xa chắc chắn có một vì tinh tú đang chờ…

CHƯƠNG II. Khúc tâm niệm của chuỗi niềm tin đã được định hình.

1/ Bản chất của tính triết học trong nhạc Trịnh Công Sơn.
Ngay từ khi Trịnh còn có mặt nơi quán trọ trần gian, người bạn vong niên của ông là Nhạc sĩ Văn Cao đã từng nói rằng, Trịnh không bị ảnh hưởng bởi những giáo điều cổ điển phương Tây. Thoạt nghe, tôi chưa cho phép mình tin tưởng điều này, nhưng khi đọc lại những tác phẩm của Trịnh viết trước năm 1975, tôi thấy điều mà nhạc sĩ Văn Cao nói là sự thật. Tôi cần phải khẳng định lại cho chính niềm tin của mình bằng những lời ca của Trịnh, và nghiệm thấy bản chất triết học trong nhạc của ông là sự kết tinh từ cuộc sống trải nghiệm đầy những khốn khó, lao đao và bất định. Cho nên cái gọi là bản chất triết học trong nhạc của Trịnh Công Sơn là sự lí giải cho số phận, nói một cách khác nó đồng nhất với quan niệm của Phật giáo nhưng giao thoa với tính ngang tàng của người quân tử trong Nho giáo. Thành ra, khi Trịnh lí giải về số phận con người, nhạc của ông cuốn tư duy người nghe vào khuynh hướng buông xả. Song, xét kĩ hơn một chút, ta thấy những điều vừa nghiệm thấy là hình thức tồn tại bên ngoài ý nhạc. Xuyên suốt các lời ca của Trịnh, tình yêu lớn dành cho dân tộc, dành cho nỗi đau mất mát và hi sinh trong chiến tranh của những người con da vàng, dành cho những Người Tình trong thơ và nhạc của ông…Tất cả những tình yêu ấy gộp thành dòng suối tưới đẫm những mảnh hồn bất kì nào chai lì nhất. Vì thế, nói bản chất triết học trong nhạc Trịnh Công Sơn là cội rễ của yêu thương và tình bác ái cũng là điều dễ hiểu.
Lênh đênh cùng kiếp người, đau thương cùng số phận hàng triệu người da vàng nằm xuống. Trịnh đã hát cho chính dân của Trịnh nghe bằng nhịp đập trái tim của Trịnh. Lời ca ấy không cần đến bướm ong quấn quýt, nhưng hương thơm và nét đẹp hoa thơ, hoa nhạc vẫn lan toả và tận hiến cho nhân gian. Chợt nhớ một ý của Napoléon rằng, đức Chúa Jesus tạo ra vương quốc của mình bằng tình thương và lòng bác ái, Jesus mất nhưng vương quốc của ngài tồn tại đến muôn đời. Chúng ta có thể ngần tin với nhau điều ấy trong trái tim mỗi người về Trịnh, song không nên tự lập ra một tôn giáo Trịnh một cách lố lăng và ấu trĩ. Giá trị vốn có và đang tồn tại của nhạc Trịnh sẽ mãi vinh thăng trên con đường đi thẳng đến tâm can người nghe, hãy để nó tự khám phá ra hướng đi bản ngã và thiêng liêng nhất. tôi tin vào điều đó và hình như đó là niềm tin trong sáng nhất!
2/ Những mâu thuẫn tất yếu khi tiếp cận nhạc Trịnh Công Sơn một cách nghiêm túc. Nếu như chúng ta đến với nhạc của Trịnh một cách nghiêm túc nhất thì tất yếu từ sâu thẳm tư duy sẽ hình thành những mâu thuẫn. Đó là những mâu thuẫn về những chiều kích phận người nơi quán trọ trần gian, là những băn khoăn trong hàng tá những câu nhạc rất ngang nhưng tình ứ, là những thôi thúc tìm hiểu đến tận cùng nỗi đau và tận cùng vui sướng,v.v…tất cả tạo nên những giằng xé, những xung đột nội tâm người nghe, và phải tư duy lắm lắm mới cấu thành nên những mâu thuẫn đáng yêu như thế.
Chúng ta thường ngồi lại bên nhau trong những nơi như quán cafe lâng lâng điệu nhạc, hay tắt hết đèn trong phòng đêm để tự đàn và cho nhau nghe…Cũng để tận hưởng và giải quyết cái mâu thuẫn đáng yêu vừa mới nói. Mọi sự bàn luận trong những lúc ấy là vô nghĩa. Mà chỉ cần mỗi người tự cảm lấy cái hay, cái không thể nói ra, vì ngôn từ trong những thời khắc ấy không làm tròn bổn phận tải ý. Nó như một vòm mây trên trời cao hiển thị những lá cờ tự do không có cán, cứ bay lên và tan ra hoà vào vũ trụ. Và chỉ có cát bụi đâu đó trong không gian là găm chặt được với tình. Huyền diệu thay mà cũng thú vị thay. Tiếc cho ai không có cảm giác như thế và xấu hổ cho tôi trước giờ mới biết đến điều này…
3/ Sự giằng xé nội tâm xoay quanh vấn đề tiếp cận Trịnh Công Sơn là sự giằng xé của tâm linh. Nhiều ít những tình cảm rất khác biệt trong lòng khi nghe Trịnh hay đọc Trịnh xuất hiện đồng thời, tạo ra những sóng âm li ti mà cũng không kém phần dữ dội trong tôi. Đến với trí tuệ Trịnh Công Sơn mà theo kiểu cỡi ngựa xem hoa thì e rằng chỉ có hại cho ta về sau này khi tư duy mà thôi. Vì thế, trong những lần độc thoại tự vấn về vấn đề nhạc Trịnh ai hát hay nhất, Khánh Ly hay Hồng Nhung? Trịnh Công Sơn hay chính tôi? Nhiều người từng nói rằng, vị trí thứ nhất là Trịnh, vì chỉ có Trịnh mới hiểu hết cái nghĩa của chữ và hình như điều này hơn một lần Trịnh đã trả lời phỏng vấn. Thứ đến là Khánh Ly, vì Ly là người gắn bó với ca từ của Trịnh cũng như với Trịnh sâu sắc hơn ai hết và tiếp đến là Bống ( Hồng Nhưng ). Còn tôi, khi nghe cả ba người hát, tôi vẫn chưa tìm được cho mình sự kì diệu của niềm tin mà người đời từng gieo giắc. Mãi đến khi tự mình lẩm bẩm được đôi câu, thì tự đáy sâu cõi lòng toát lên dư vị nửa đắng, nửa ngọt ngào pha êm dịu. Tôi đã hiểu ra cái hay của nhạc Trịnh Công Sơn trong vấn đề tiếp cận phải nhờ đến vai trò của trái tim mình. Và tôi đã hát. Một mình hát cho mình nghe, những khúc tư duy của Trịnh. Thế mới biết cái sâu xa, cái huyền bí mà thiên hạ từng nói quả không sai chút nào…
4/ Đánh thức nỗi đau trong ca từ của Trịnh là một việc mà một số bạn bè của tôi khuyên là chẳng nên làm. Tuy nhiên, trong chừng mực này, tôi không thể không thức tỉnh những niềm đau ấy, để được đau, và được trộn máu mình với ca từ của Trịnh. Niềm đau của một thời, niềm đau trong một người. Niềm đau ấy là thứ nước cam tuyền trong tay Bồ Tát, tôi nghĩ thế và nếu suy nghĩ trên có là ấu trĩ, thì đó là sự ấu trĩ duy nhất đáng yêu hơn cả lúc này đang ngồi viết đôi dòng về Trịnh.
Những tình khúc trước ngày miền Nam giải phóng là những tình khúc khiến tôi rung động và hoang mang trong tiếp cận nhiều hơn cả. Nếu nói về ảnh hưởng của Xứ Huế mộng mơ và tư tưởng Phật giáo đối với sáng tác của Trịnh trong thời gian này, tức là đụng đến vấn đề nghiên cứu. Tôi xin không mạn phép bàn, chỉ xin nói những tâm ngôn của mình về sự nhận biết những điều ấy mà thôi. Như vậy thì cái thấy của tôi cũng sẽ là cái thấy của bao người khi bước đầu quan tâm và tìm hiểu Trịnh. Vâng, Huế và những trang đời tuổi thơ của Trịnh lan toả khắp các mặt con chữ trong ca khúc thời ấy, tuy nhiên chẳng thể tìm đâu một từ chỉ Huế hay nói thẳng về cái triết lí thiền tông cao vợi. Như một con đường một chiều, Trịnh đi trên con đường ấy thẳng tới hôm nay mà không có ngoái đầu trong âm nhạc. Điều đó không phải ai cũng làm được, kể cả các nhạc sĩ lão làng cùng thời với ông. Đó phải chăng là sự thiên tài cùng với sự miệt mài với cái Tâm sáng loá. Tôi chợt nhớ đã đọc đâu đó một câu phê bình rất hay và thích hợp trong trường hợp này: Sự thật là điểm đi và điểm đến của nghệ thuật chân chính. Và cái sự thật của điểm đi trên đường thơ và nhạc Trịnh là khát vọng hoà bình cho dân da vàng nói chung và dân nước Việt nói riêng, sau đó là khát vọng về quan điểm Chân – Thiện – Mỹ với mong muốn sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Cái đẹp này rất Mỹ học và đôi khi nó cao hơn chính trị và mạnh hơn thần chết. Vì đơn giản là sức mạnh của thần chết đã cúi đầu trước nhạc của ông, dù rằng ông đã ra đi…

CHƯƠNG III. Những Khúc Suy Tư Khi Tiếp Cận Nhạc Trịnh Công Sơn

1/ Ta vẫn thường hát cho nhau nghe về Một Cõi Đi Về của Trịnh. Nhưng đã bao giờ ta hát cho ta nghe về Một Cõi Trịnh của trái tim mình? Vâng, cái gọi là Cõi Trịnh trong trái tim mỗi người một khác, mang những chiều kích không giống nhau, nhưng tôi tin và dám cá với cuộc đời rằng, cái cõi ấy là một hằng số. Cùng với thời gian, nó sẽ ngày càng nhiệm màu và giúp chúng ta hồi sinh những vết tâm hồn chai lì, vốn đã bị chính cuộc sống này chà xát. Ngay như những chia ly, những mảng vỡ trong Xứ Tình của Trịnh vẫn là một sự tròn trịa và đủ đầy. Thì không có bất cứ một ví dụ nào trong việc ta không định tâm hướng về cái sâu xa trong tâm hồn của Trịnh. Ngay trong thời khắc này, ngòi bút của tôi cũng đang cố dụ dỗ lí trí tôi ngụp lặn trong Trịnh như một con Chiên ngoan đạo. Liệu rồi, những mê lực câu từ trong nhạc của Trịnh Công Sơn, có làm cho tư duy của tôi méo mó đi không? Tôi cũng không dám chắc. Chỉ biết lúc này, trái tim tôi đang hát nhạc của ông chứ không phải miệng tôi hay từ bất kì miệng của một ca sĩ nỗi danh nào…
2/ Trong mọi phía và mọi ngóc ngách của quán trọ trần gian, nơi nào có hơi thở của con người, nơi đó ắt có cái gọi là Tình Yêu. Và tôi, một kẻ luôn mập mờ, sờ soạng bước đi trên con đường tình ái, hay lẩm bẩm vài ba câu nhạc của Trịnh, như để khỏa lấp cô đơn trên khuôn mặt của mình.
Những đêm như đêm nay, bầu trời vừa nở ra sau bận dúm dó bởi cái lạnh của mưa. Vài ba vị tinh tú ló mặt ra khỏi mây đen phì phò thở và chớp chớp bờ mi, phả ra cái ánh sáng lập loè giữa ngân hà…Tôi nghe lòng trống tênh khôn tả. Nhớ có lần người yêu tôi bảo rằng, đâu đó trên chòm sao kia, Trịnh Công Sơn đang ngồi đàn cho các vị tinh tú nghe bài Con Mắt Còn Lại, để rồi cùng các vị tinh tú ấy tựa lưng nhau nhìn xuống trần gian, kiểm chứng hồn điệu của nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi đã mỉm cười và không tin như thế. Nhưng, tôi đâu có hay rằng, dù có hay không việc Trịnh ngồi hát cho các vị tinh tú trên trời nghe, có đâu quan trọng, quan trọng hơn là trong trái tim người yêu của tôi, Trịnh Công Sơn đã dạo bản Ru Đời Đi Nhé trong đó tự bao giờ…
Có phải tình yêu trong nhạc của Trịnh Công Sơn thánh thiện đến vậy chăng? Hay nhờ thơ, nhờ nhạc ấy mà tình yêu lứa đôi của mỗi người trở nên thánh thiện? Câu hỏi này có cần thiết trả lời hay không, thì những ai đã từng nghe Trịnh, hãy tự chất vấn lòng mình. Cũng như chính tôi đang hành hạ ngọn bút tật nguyền, xới cày lên trang giấy trinh nguyên, để chất vấn chính chuỗi suy tư dúm dó bấy lâu nay…
3/ Giữa cuộc sống loay hoay với cơm áo gạo tiền, những người chạy trốn làng quê ra phố như tôi, chưa bao giờ quên được cái tội với luỹ tre làng, cây đa, bến nước…Đã vậy, còn không giữ được cái vẻ mộc mạc của những khúc ca dao, dân ca quen thuộc. Tập tành nghe, tập tành chơi như những người trí thức. Tôi vẫn tự hỏi lòng mình rằng, việc vô tình hay hữu ý, nhạc Trịnh, nhạc Phạm Duy,…đang lấn dần một cách vô thức trong trái tim tôi, có làm cho tôi thêm một lần mắc tội với những làn điệu dân ca? Mới hôm nào nơi chiếu Chèo, những câu Sa Lệch còn nhấn chìm cả giấc mơ tôi. Mới hôm nào, nơi quán nhỏ ở Thị trấn Dĩ An – Bình Dương tiếng đàn guitar cổ của ban nhạc tài tử, còn xuýt làm cho tôi bỏ phố về làng…Thế mà nay, những lúc thảnh thơi, lại tụm kéo bạn bè về căn gác nhỏ, tắt đèn điện, thắp đèn cầy, uống trà, nghe nhạc Trịnh. Mặc dù, ly trà Thái Nguyên đậm chát cả nỗi niềm, nhưng câu hát vẫn vời vợi xa bay. Để rồi được gì và mất gì, chưa biết! Chỉ biết rằng trong mắt bạn bè, có thể vô tình tôi đã bị mang tiếng là kẻ đua đòi thời thượng, tiêu hoá chưa được dăm câu nhạc Trịnh, cũng bày đạt cầm bút viết phê bình cảm nhận!
Song, có một điều luôn làm tôi thanh thản, đó là, nhờ nhạc Trịnh Công Sơn, tôi lờ mờ hiểu ra rằng, Trịnh mách bảo tôi không cần thiết phải chịu trách nhiệm về sự nghĩ của người khác về tôi trong việc tôi tiếp cận ông. Tôi sẽ vẫn cứ nghe nhạc của ông, đọc ông và viết về ông, cho dù chỉ để cho một ngày nào đó, cả tôi cùng những dòng viết này lăn đi cùng cát bụi vĩnh hằng!
Tôi thường tư duy về ông để mà trăn trở một điều rằng, Trịnh Công Sơn có mặt trong bao nhiêu trái tim của hơn tám mươi triệu người dân nước Việt? Trong khi tư duy về điều này, tôi chợt rùng mình hiểu ra rằng, Trịnh Công Sơn chuyên viết nhạc theo lối triết lí đầy trí tuệ, không phải dạng nhạc dành cho đại đa số quần chúng nhân dân. Vì thế mà nhạc của ông cũng chỉ khiêm tốn nằm trong những trái tim của những người có thể hiểu được ngôn từ trong nhạc. Và cũng trong tư duy ấy, tôi hiểu thêm rằng, âm nhạc của Trịnh cũng không phải là thứ âm nhạc suất sắc lắm, mà nhờ ngôn từ ông sử dụng trong tác phẩm, tự biến tất cả thành một thứ kim cương hoành tráng, đầy mỹ cảm.
Rất nhiều lần tôi về đồng bằng sông Cửu Long, lang thang hầu khắp các tỉnh miền Tây Nam bộ. Tôi nhận thấy một điều rằng, không chỉ dân chúng ở nông thôn mà kể cả số đông dân chúng thị thành dưới đó, họ không biết nhiều về Trịnh Công Sơn hay nhạc của ông. Trên hầu khắp các quầy băng đĩa nhạc, chủ yếu bày bán các loại nhạc trẻ, cải lương, nhạc sến… Cách chơi nhạc của đại đa số dân chúng dưới đó cũng phân chia một cách rõ ràng theo lứa tuổi. Người già và trung niên thì thường thích cải lương, ít tuổi hơn một chút thì thích nhạc của Ngọc Sơn và giọng hát của anh ta, giới thanh niên học sinh thì lao vào nhạc trẻ hiện đại với những thần tượng như Đan Trường, Lam Trường, Ưng Hoàng Phúc, Vân Quang Long, Cẩm Ly, Nguyễn Phi Hùng…Tôi có hỏi rất nhiều người yêu nhạc dưới đó rằng, đã nghe Trịnh Công Sơn bao giờ chưa? Họ khẽ mỉm cười và lắc đầu. Những cái lắc đầu sắc như gió hồng hoang chém phay những cọng cỏ non mới mọc trên phần mộ của Trịnh vậy. Ai khóc cho điều này….
4/ Như một cuộc chơi không định trước, tôi nhấn chìm mọi cảm xúc băm bổ của đời thường cho việc kiểm chứng tư duy, khi nghe nhạc của Trịnh Công Sơn. Có vẻ như hơi khốn nạn và tầm thường, khi tôi cố tình vứt bỏ những gì đã thuộc, đã nghe trong quá khứ, nhưng lại thấy mình được giải thoát. Phải thú nhận rằng, tôi chẳng hiểu nhiều về nhạc của Trịnh Công Sơn, hay nói khác đi, tôi gần như ăn cắp cảm xúc tự nhiên, để tô vẻ cho tâm hồn mình bớt phần đơn điệu. Và vì thế, khi nghe Trịnh lần thứ hai, thứ ba…tôi mới dám khẳng định những gì ban đầu tôi lơ mơ ngộ nhận là chính xác. Và tôi biết chắc chắn rằng, cũng khối người như tôi trong việc ngộ nhận như thế. Có thể điều đó giúp cho tôi có chút tự hào rằng, mình dũng cảm hơn họ ở việc dám nói ra cái tầm thường giả tạo của mình.
Tôi nhớ có lần, khi nghe Khánh Ly hát trong cuốn băng có tựa là Một Cõi Đi Về, tôi nói với bạn bè tôi rằng, thứ nhạc ngang phè phè này cộng với giọng hát the thé này, làm nên một kiểu nhạc bất phân, bất thấu trong tôi. Cho đến khi đoạn cuối của cuốn băng, lúc mà Khánh Ly không hát nữa, cô nói như tâm sự cùng với Trịnh Công Sơn, và có cả phần trả lời của Trịnh Công Sơn đính chính cho cái cụm từ Sống trong đời sống cần có một tấm lòng… rằng, thời nay phải nói cho đúng hơn là cần sống tử tế với nhau. Chẳng hiểu tại sao tôi lại nhắm mắt lại và nhớ bạn bè kinh khủng. Những người bạn rất đổi tốt bụng và thừa lòng bác ái với tôi. Tôi có vẻ như nhận thức thêm rằng, bấy lâu nay, họ đã quá tử tế với tôi – một thằng khốn nạn và nghèo hèn. Trong khi nhắm mắt ấy, cũng chẳng hiểu tại sao tôi lại nghe giọng Trịnh vang vang, chẳng hiểu tại sao tôi lại mơ hồ về một chiếc lá rụng trong chiều gió ngược, bay phất phơ ở phía cội nguồn…
Tiếng nhạc vẫn rền thở đêm đêm, vọng ra từ cái máy cassete cũ kĩ, nhưng âm thanh không vì thế mà trở nên yếu đuối. Chỉ có tôi là yếu đuối với lòng mình và với chính cuộc đời vay mượn của tôi. Tôi đã vay thời gian của đời mình cho việc nghe Trịnh Công Sơn, tôi đã vay yêu thương của người yêu tôi cho việc đến với nhạc của ông, và vay tâm tình cũng như sự động viên của bè bạn cho việc tiếp cận ông chu đáo. Nhưng rốt cuộc, tôi đã viết ra những câu chữ không đáng một đồng xu lẻ. Cảm giác như có tội với ông ngay bên chiếc cassete ở đầu giường. Cảm giác như tôi đang tự đánh lừa mình qua những giác quan bị lật ngược và xoay vòng. Trịnh Công Sơn không phải thần thánh, cũng không phải quỷ trong trái tim tôi. Chỉ đơn thuần là một nhạc sĩ tài hoa, đã biến một anh nông dân thành một tay Xuân Tóc Đỏ. Có lẽ bạn sẽ phỉ nhổ vào mặt tôi khi đọc những dòng này, nhưng tất cả là một điều rất ngẫu nhiên trong tư duy và trong nhận thức của mỗi người. Tôi phải nói thêm điều vừa rồi như chính lời tự thú với Trịnh vậy. Bởi đâu đó trong lòng tôi, vô hình trung đã có một ngôi mộ của Trịnh Công Sơn, mà nếu như không nghe được chính giọng của ông ( tuy không xuất sắc lắm) thì có lẽ ngôi mộ ấy đơn thuần chỉ nằm trên mặt đất. Và tôi cùng câu chữ của tôi là những que nhang tự cháy trong ngút ngàn tiếng đêm vẫy gọi, khóc ông trong một sự trễ tràng…
5/ Tôi không định nghĩ nhiều về cái ngày tôi về với đất để được vấn diện Trịnh Công Sơn, đơn giản chỉ vì tôi tin rằng, tôi đang còn quá trẻ. Người xưa có câu, ngũ niên tri thiên mệnh, mà tôi thì chưa đi hết một phần hai chặng đường ấy. Vì thế, những tư duy lúc này, nếu có được định hình và thể hiện ra đây, e là cũng để cho gió cuốn đi thôi. Song, những tiếng ve đầu mùa hạ, hát vang bản thánh ca buồn dọc con đường Tôn Đức Thắng, sao tôi nghe trong âm điệu có lá thu rơi vội, như muốn khắc khoải tàng âm của Trịnh. Phải chăng, khi ông đã qua cái ngưỡng tri thiên mệnh ấy, ông hiểu được tiếng lòng thiên hạ gói trong những rối ren thuần túy đời thường? Cho hôm nay, những người như tôi, dẫu bàn chân xước bầm vì gió bụi cuộc đời, vẫn vấp phải những giọt thơ lăn trên các dây cung của vòng xoay định mệnh. Mà chính ông đã chắp cho những vần thơ ấy đôi cánh của lòai chim Thiên Di, bay hoài, bay mãi…
Cái lối rẽ cuộc đời trong nhạc của ông hiện lên từng thớ vân, hiện lên từng gam màu trong nhạc. Ta nghe như một cuộc trở mình đầy vật vả. Chính cái lối rẽ không cần toan tính ấy, đã thai nghén cho một tài năng con đường đi tới những vì sao, mà không cần bất cứ một phương tiện hào nhoáng nào đưa đón. Ông âm thầm trong một cái tôi cá nhân đã được định hình bởi chiến tranh và thực tiễn xã hội. Tất nhiên điều đó làm cho ông có được cái không thể sao chép trong thế giới quan của ông. Người đọc, người nghe thấu hiểu được lí do tại sao một số nhạc sĩ cùng thời với ông, có những ảnh hưởng nhất định bởi âm nhạc quốc tế hay âm nhạc cổ điển Việt Nam. Còn với ông thì không. Trịnh Công Sơn khai thác đề tài ngay tại trái tim mình, nói một cách khác, ông đã khai quật trái tim mình từ đống vỡ nát của cuộc đời, tìm ra thứ nhạc cho riêng mình. Thứ nhạc ấy là kết quả của những vật lộn nội tâm ghê gớm, cũng như đau thương cho kiếp người thống khổ. Vì thế, nó sẽ không đến với trái tim người nghe bằng con đường đã sinh ra nó, mà đi bằng con đường nhận thức nghiêm túc từ phía thính giả.
Đồng nghĩa với việc tiếp cận nhạc Trịnh Công Sơn, là quá trình cảm thụ từ từ, có tinh lọc dựa trên cơ sở những rũa gọt thực tế. Bởi đơn giản là, không phải bài hát nào của Trịnh Công Sơn cũng hay đối với cảm nhận của một người. Có những bài thật khó hiểu và khó tìm ra cái hay của nó, lại có những bài chỉ cần nghe và cảm là đủ để khẳng định đó là tác phẩm vượt thời đại. Người tiếp cận không chỉ cần có một lòng Nhân thuần túy, mà phải có cả chữ Nhẫn trong mối quan hệ giằng co giữa các ý nghĩ hỗn độn, mới mong tiếp cận triệt để. Nếu như điều vừa nói không sai, thì có lẽ 46 giờ đồng hồ vừa qua, tôi không cảm thấy mình đang sống thừa và sống phí. Bởi chí ít, đã đẻ vội được một vài hạt cát tật nguyền, thả nó ra mặt đường bỏng rát khi mặt trời chiếu rạng…

CHƯƠNG IV. Tiếp cận Trịnh Công Sơn dưới góc độ Xã Hội học.

Cuộc sống muôn màu và luôn thánh thiện. Tuy nhiên, tùy thuộc vào cảm nhận và phương thức tồn tại của mỗi con người mà cuộc sống trở nên đầy hoa hồng hay cát bụi. Tính chất chắp vá trong tâm hồn con người bao đời đã được khẳng định dưới cái nhìn khoa học, song không vì thế mà những khoảng trống tâm hồn không có cái để khỏa lấp. Con người – với những tính năng vượt trội hơn bất kì lòai động vật nào khác trên hành tinh xanh nhỏ bé này, luôn biết tìm đến những giao thoa, cộng hưởng, để từ đó tự điều chỉnh cho phần thiếu sót của họ trong tâm hồn.
1/ Âm nhạc là một thứ tuyệt âm được lựa chọn để phục vụ cho như cầu nói trên trong xã hội. Đến với nhạc Trịnh Công Sơn, người nghe nhận thức sâu sắc sự ảnh hưởng của ý nghĩa ngôn từ trong nhạc. Vô hình trung, thiên chức khởi nguyên chưa hẳn Trịnh Công Sơn đã muốn như thế. Nhưng khi nhạc của mình đến với độc giả, nó không còn chịu sự kìm hãm của ý tưởng Trịnh. Thành ra, ở một chừng mực nào đó trong một số bài, không còn đơn thuần là nhạc nữa, mà giống như một bản Kinh, một bản Thánh Ca hay một bài Giáo Dục Công Dân về vấn đề sống như thế nào? Sống để làm gì? và tư duy để tồn tại với ý nghĩa ra sao? v.v…
Khi viết về chương này, tôi chợt nghĩ về những nơi mà ca nhạc trở thành mục đích kinh doanh, hoặc chạy theo công nghệ lăng-xê để bán rẻ nhạc mua danh. Bán Xì-căng-đan lấy sự ân huệ để ý của độc giả về nhạc sĩ cũng như ca sĩ. Hóa ra, Trịnh viết Người về soi bóng mình, giữa tường trắng lặng câm có cái lí sâu xa của nó. Đứng trên góc nhìn của xã hội, thì bao quát hầu khắp các nền tảng đã và đang hình thành trong tư duy nhân lọai, chắc chắn không phải là những thứ rẻ tiền hay những đứa con tinh thần đẻ vội. Điều đó hiển nhiên đúng và luôn tuân thủ với thời gian. Cái khác là, tương lai, người nghe nhạc ở Việt Nam còn chạy theo những trào lưu nào khác? Nhạc Trịnh sẽ xếp vào đâu trong biển nhạc xô bồ, mà ngay hôm nay nó không còn có thể định lượng được cà về chất lượng và số lượng? Với một ánh nến trong đêm thì chẳng thể sáng cả bầu trời, tuy nhiên, ánh nến ấy vẫn sáng trung thực giữa trời đêm, dù chung quanh nó chỉ là những quầng sáng giả tạo và cũ rích…
Tôi may mắn được sống giữa tình thương và sự cảm thông sâu sắc của bạn bè. Điều đó giúp nhiều cho tôi có những ân huệ về tình cảm. Và đương nhiên tôi sẽ có được cái quý giá vô cùng, đó là dễ cảm hơn về điều bất hạnh và nỗi cô đơn. Chợt nghe có vẻ như câu nói vừa rồi mâu thuẫn, nhưng đúng là như thế. Nếu bạn nghe hết các tác phẩm của Trịnh, bạn sẽ thấy nỗi cô đơn trong nhạc của ông như một vệt dài, dải dọc khắp cuộc hành trình trên cõi tạm của Trịnh Công Sơn. Nỗi cô đơn trong nhạc Trịnh hiện hữu cả trong sướng vui và hạnh phúc. Có cảm thực sự được điều ấy, mới thấm thía câu chuyện được ngựa của Trung Quốc ngày xưa, để thấu hết cái lẽ vô thường quẩn quanh vây chặt mỗi kiếp người.
Như một bông hoa nồng nàn cả hương và sắc, thì chẳng cần đến ong bướm nhởn nhơ bông hoa ấy vẫn đẹp và tỏa ngát hương thơm. Tuy nhiên, tôi không thể dừng lại trong khi nghĩ về Trịnh cũng như nhạc của ông. Thôi thì cứ tiếp tục, và coi mình như lòai bướm ong nhởn nhơ vô duyên kia vậy…
2/ Nhìn từ góc độ xã hội tất yếu phải đề cập đến vấn đề con người, cùng mối quan hệ của con người trong xã hội. Bất cứ một khoa học nào cũng nhằm phục vụ và tôn vinh cho quyền lợi cũng như vẻ đẹp của con người. Riêng trong khung nhạc của Trịnh, chỉ xin lạm bàn tới vẻ đẹp thiêng liêng của con người trong nhạc của ông, được cấu thành và hun đúc bởi một tài năng giàu tâm sức. Nói như ý của nhà phê bình văn học Nga Belenxki, thì con người là vẻ đẹp hùng vĩ nhất của trái đất. Ca ngợi vẻ đẹp ấy cũng chính là ca ngợi cái nền tảng làm nên mọi giá trị vật chất cũng như tinh thần của lịch sử loài người. Với Trịnh Công Sơn, ông không quá hoa mỹ trong chuyện chọn lựa từ ngữ trong những lúc đề cập tới con người hay những vấn đề liên quan như các học thuyết nói về Cõi Người trong trời đất. Con Người trong ca từ của Trịnh Công Sơn rất cụ thể, rất gần gũi với người Việt, bởi đó chính là những Con Người Việt Nam – Máu đỏ da vàng, sừng sững đứng trong vòm trời Việt mấy ngàn năm văn hiến. Vì thế, dù có lúc, tưởng như dòng chảy của ngôn ngữ trong nhạc của ông sa vào những huệ luỵ thương đau, nhưng ngẫm kĩ lại thì thực ra bản chất của vấn đề vẫn là cái đẹp. Vì nói như các nhà Mỹ Học thường nói, Cái Đẹp Vĩnh Hằng trong mọi thái cực âm dương của cả không gian lẫn thời gian. Và như thế, đương nhiên là khi xuất hiện trong nhạc của Trịnh Công Sơn, vẻ đẹp của Con Người Việt hiện lên ở bản chất người đậm đà đức hạnh. Những vết tích của nỗi thống khổ cần lao, những chịu đựng hằn sâu trong bom đạn, như những câu thơ cháy xém trong lồng ngực người dân nước Việt. Mà đâu chỉ mới xuất hiện lần đầu trong nhạc của Trịnh. Những điều ấy có từ thuở mà người lao động biết hát lên những khúc ca dao, để dỗ ngọt những lo toan vất vả…
Người ta thường ví rằng, đời một con người giống như một cuốn tiểu thuyết. Cần khi đi hết chặng đường gắn bó với dương gian thì trang cuối mới đồng thời khép lại. Cứ cho là như vậy, thì Trịnh Công Sơn đã viết lên đời của mình một chương cuối cho cuốn tiểu thuyết ấy bằng máu của Tinh Thần Việt. Để chẳng có một sức mạnh vật chất nào có thể xóa được vết đời chói lòa hằn sâu trong trái tim độc giả. Như một Đoá hoa vô thường không có câu chữ nào định định nghĩa, Trịnh đã cháy bùng lên trong chính bụi vô thường ấy một cách thầm lặng đến kì lạ. Có lẽ, những điều vừa nói, là một sự chuẩn bị công phu của ý trời. Tuy nhiên, nếu nói như vậy ở chương này thì thật là lố bịch và phi khoa học. Cho nên, tôi muốn mượn đường đi của nhạc Trịnh Công Sơn, vẽ lại những nét vẽ về con người xã hội – con người của chằng chịt những mối bòng bong khó thể gỡ ra bằng sức mạnh cơ bắp, mà phải giải thoát nhờ sức mạnh của Siêu Lí Trí. Đi sâu vào tư tưởng Trịnh ta thấy rất rõ điều vừa nói, và có lẽ, chúng ta cũng nên ngầm chấp nhận với nhau một điều rằng, bất cứ một môn nghệ thuật nào, nếu xa rời lợi ích của con người thì sớm muộn nó cũng xa luôn khỏi sự chấp nhận của cộng đồng. Tất nhiên là với Trịnh và nhạc của ông, tính chất Nghệ Thuật Vị Nghệ Thuật hay Nghệ Thuật Vị Nhân Sinh thế nào, chúng ta đều biết rõ…
3. Con người đã ngồi lại với nhau sau cuộc ra đi mà cũng là cuộc trở về của Trịnh Công Sơn. Mỗi một tiếng đêm nhập nhoà sau khung cửa sổ, là nhịp đập vội vả của những con người đang nghe lại chính mình qua âm nhạc Trịnh Công Sơn. Họ đã bỏ qua những bận rộn đời thường, những toan tính thiệt hơn nơi xã hội nhiều những xô bồ hỗn độn. Họ đã hát cho nhau nghe những âm ba từ chính trái tim của họ bằng giọng hát chân chất nhất, mộc mạc nhất. Xã hội đã giàu hơn một chút về tinh thần, lòng người đã mền hơn một chút sau những chai lì, tư duy đã sâu hơn một chút sau những triết lí rất gần gũi mà lại cũng rất xa xôi…
Tôi vẫn lắng nghe tiếng thở của nhân gian qua làn hơi hừng nóng. Mặt trời nhỏ nhoi treo lủng lẳng trong vũ trụ càng nhỏ nhoi hơn. Sẽ đến một lúc con người nhìn nhận bản thân bằng chính tư duy của họ, chứ không phải mập mờ dự đoán bản mệnh mình bằng khẩu lệnh của bất cứ một tôn giáo tâm linh. Và một nơi kia, những trái tim có cùng nhịp điệu, đang chụm lại với nhau trong những khúc thời gian mặc niệm Trịnh trước khi tiếng hát xa bay… Những giá trị ảo đã hoán vị cho những giá trị rất thật, rất người. Xã hội tiến bộ đã tặng cho loài người một quà tặng gần quý bằng quà tặng của Tạo Hoá, đó là công nghệ hiện đại. Bởi chính nó là phương tiện tối hậu cho những trái tim xích lại gần nhau. Họ đã cùng nhau Online, Offline với nhau trong những chủ đề mà họ yêu thích, đam mê. Trịnh cũng đã ngả lưng xuống bờ vai họ và khiêm tốn trong giang sơn tinh thần nhân loại bằng một nụ cười sau những cuộc vui nhân thế.
Ô hay, mọi thứ đều mây nổi, còn với non sông một chữ Tình. Cũng chỉ cần một chữ ấy thôi đã là quá đủ. Đêm bao dung và màn đêm thánh thiện trong tiếng nhạc buông trùng…
Trong những suy luận được định dạng một cách tự nhiên, tôi không giám chắc mình đã không lập lại một số ý nào đó khi tiếp cận về Trịnh Công Sơn. Vì thế, trong chương này, vấn đề tiếp cận rất rộng và không có chuẩn mực hay khuôn mẫu. Kính mong được sự góp ý và chỉ giáo. Hẹn gặp mọi người trong bài viết mới…

———————————————————

Bài 2: Đời và nhạc Trịnh Công Sơn

Đặng Tiến

Trịnh Công Sơn chánh quán Huế, làng Minh Hương, tổ tiên gốc Trung Hoa. Làng Minh Hương nay sát nhập vào Bao Vinh thành xã Hương Vinh. Bao Vinh là thương cảng của Huế ngày xưa.
Anh sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939, tại Lạc Giao, tỉnh Đắc Lắc, lớn lên trong một gia đình buôn bán giữa trung tâm thành phố Huế. Nhà đông anh chị em, ba trai năm gái, mà anh là con trưởng. Tuy có thăng trầm, nhưng nói chung là khá giả.
Trịnh Công Sơn theo học chương trình Pháp, tại Trung học Pháp tại Huế, đến hết cấp 2. Năm ấy, 1955, cùng lớp có ca sĩ Kim Tước (Giáo sư Decoux, dạy khoa học, thỉnh thoảng mang đàn vĩ cầm vào lớp, đàn đệm cho học sinh hát). Lúc này Trịnh Công Sơn chơi guitare đã hay. Trường giải thể, dời vào Đà Nẵng, Trịnh Công Sơn có lúc theo học trường Thiên Hựu, Providence ở Huế. Rồi chuyển vào Sài Gòn, học tại trường Jean Jacques Rousseau. Sau đó vào học trường Sư Phạm Quy Nhơn, rồi đi dạy học vài năm tại Lâm Đồng.
Anh tự học nhạc một mình, và đã kể lại :
Thưở ấy, tôi là một đứa bé thích ca hát. Mười tuổi biết solfège, chép lại những bài hát yêu thích đóng thành tập, chơi đàn mandolin và sáo trúc. Mười hai tuổi có cây đàn guitare đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng guitare như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính mình hát.
Tôi không đến với âm nhạc như một kẻ chọn nghề. Tôi nhớ mình đã viết những ca khúc đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của tình cảm thôi thúc bên trong… Đó là những năm 56 – 57, thời của những giấc mộng ngổn ngang, của những viễn tưởng phù phiếm non dại. Cái thời tuổi trẻ xanh mướt như trái quả đầu mùa ấy, tôi rất yêu âm nhạc nhưng tuyệt nhiên trong tôi không hề gợi lên cái ham muốn trở thành nhạc sĩ… Dạo ấy ba tôi đã mất …1
Những câu hỏi người tò mò có thể đặt ra : một người chỉ học trường Pháp, giáo trình Việt ngữ rất hạn chế và lỏng lẻo, khi đặt lời ca, sao có thể sử dụng tiếng Việt điêu luyện đến như thế ? Thỉnh thoảng anh viết truyện ngắn, tham luận, đều xuất sắc. Bạn bè nhận được thư riêng, đều nhớ rằng Sơn chữ đẹp văn hay.
Tự học đàn hát, rồi sáng tác một mình, Trịnh Công Sơn không thuộc một nhóm sáng tác nào, như những người đi trước, như Lê Thương, Hoàng Quý trong nhóm Đồng Vọng ở Hải Phòng, như Thẩm Oánh, Dương Thiệu Tước trong nhóm Myosotis tại Hà Nội, nhóm Hoàng Mai Lưu tại Nam Bộ. Cũng như sau này, anh sẽ tự học vẽ một mình.
Câu hỏi tò mò thứ hai: tự học nhạc, rồi từ rất sớm đã lao mình vào đời sống sáng tác và tranh đấu, làm sao anh có thể liên tục sáng tác khoảng 600 ca khúc, phần lớn được yêu chuộng ?
Nói rằng Trịnh Công Sơn là thiên tài, cũng dễ thôi. Nhưng trở thành thiên tài trên một đất nước như Việt Nam, được thừa nhận là thiên tài trong một xã hội như Việt Nam – nhất là sau cuộc đổi đời 1975 – thật không đơn giản.
Mục đích của bài này là giải thích sự hình thành của thiên tài Trịnh Công Sơn, giải mã hiện tượng Trịnh Công Sơn và tìm hiểu vị trí của Trịnh Công Sơn trên những trầm luân của đất nước, chủ yếu là khúc quanh 1975.
Chúng tôi cũng muốn cung cấp cho các nhà nghiên cứu về sau một số tư liệu rải rác đây đó, e mai đây khó kiếm, khi những than khóc và tung hô đã lắng xuống.
***
Về hoàn cảnh sáng tác ban đầu, Trịnh Công Sơn đã tuyên bố với Vĩnh Xương, báo Đất Việt, năm 1985 : ” Đến năm 1957, tôi sáng tác, gọi là để bạn bè nghe chơi. Sau đó thấy có hứng thú sáng tác và thử viết thêm một số bài. Năm 1959, tôi viết bài Ướt Mi và được bạn bè khích lệ. Tôi mới tìm sách nghiên cứu thêm về nhạc, trao đổi thêm về nhạc lý với bạn bè. Sau đó, tôi phổ nhạc cho khoảng một chục bài thơ tình yêu (như Nhìn Những Mùa Thu Đi chẳng hạn). Năm 63, tôi có một số sáng tác khá thành công như Diễm Xưa, Biển Nhớ, Hạ Trắng. Từ đó, tôi đi vào con đường sáng tác “2.
Và từ đó, Trịnh Công Sơn nổi tiếng.
***
Khi đặt câu hỏi : sao một thanh niên, rất trẻ, chỉ học “trường Tây” mà sử dụng tiếng Việt tài hoa đến vậy, tôi không có thành kiến – vì bản thân mình cũng chỉ học “trường Tây”- mà để tìm hiểu nguồn sáng tạo trong ngôn ngữ.
Trịnh Công Sơn, có lẽ – đây là giả thuyết dè dặt – không học nhiều văn chương Việt Nam được giảng dạy ở nhà trường thời đó, nên không bị nô lệ vào những khuôn sáo trường quy, không suy nghĩ bằng điển cố sẵn có, mà tạo được một hình thức mới cho lời ca. Lời ca ấy sử dụng nhiều hình ảnh, biểu tượng bị xé lẻ, đi thẳng vào tâm tưởng người nghe, mà không đòi hỏi họ phải hiểu nghĩa chính xác. Ví dụ bài Tình Sầu :
Tình xa như trời / Tình gần như khói mây /
Tình trầm như bóng cây / Tình reo vui trong nắng /
Tình buồn làm cơn say
… Cuộc tình lên cao vút / Như chim mỏi cánh rồi /
Như chim xa lìa bầy / Như chim bỏ đường bay /
Mạch lạc nội tại (cohérence organique) của ca khúc không dựa vào tương quan ý nghĩa : “tình xa như trời” thì hợp lý, nhưng gần, sao lại như “khói mây” ? “Tình lên cao vút“, sao lại “như chim mỏi cánh rồi” ? “Tình reo vui trong nắng“, thì phải đối ngẫu với “tình buồn cơn mưa bay” mới chỉnh, sao lại say sưa vào đây ?
Thật ra, mạch lạc nội tại được cấu trúc trên hình thức ngôn ngữ : những từ lặp lại : tình, chim, như, những vần luyến láy : mây, cây, say, bay, những từ đối lập : xa/gần, vui/buồn. Hình ảnh nối tiếp nhau, không cần ăn khớp với lý luận, lại được tiết điệu, âm giai nâng đỡ, bay bổng, bay thẳng vào tâm tưởng người nghe.
Chúng ta thử so sánh, để tìm hiểu chứ không phân định hơn thua, một lời nhạc tương tợ của Đoàn Chuẩn-Từ Linh :
Gửi gió cho mây ngàn bay
Gửi bướm muôn màu về hoa
Gửi thêm ánh trăng màu xanh lá thư
Về đây với thu trần gian …
Hai ca khúc na ná, vì đều là ẩn dụ xâu chuỗi (métaphore filée), nhưng câu sau của Đoàn Chuẩn và Từ Linh được cấu tứ theo ngữ nghĩa và quy ước, theo điển cố : gió+mây, bướm+hoa, gió+trăng, trăng+thu. Nét mới là màu xanh lá thư bị xoá nhoè giữa những ước lệ được liên kết thành một xâu chuỗi kiên cố, chặt chẽ quá làm mất chất thơ. Thêm vào đó là những câu thất ngôn đường luật rất chỉnh chu :
Lá vàng từng cánh / rơi từng cánh
Rơi xuống âm thầm / trên đất xưa
Bài Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay rất hay, nhưng hay một cách khác, được yêu chuộng ở một giới thính giả khác.
Phạm Duy, thời trẻ, đã có những sáng tạo tân kỳ :
Buồm về dội nắng đôi vai
Bao nhiêu màu hoa ngát trên đôi môi
(Tiếng Đàn Tôi), 1947
Sau đó, anh trở về với ngôn ngữ duy lý :
Bao giờ em giở lại vườn dâu (hỡi em)
Là một câu thơ tuyệt vời : vườn dâu là niềm thương nhớ muôn trùng một nền văn minh đã khuất bóng. Nhưng Phạm Duy lại bồi thêm câu sau :
Để anh bắc gỗ xây nhịp cầu (anh) bước sang…
(Quê Nghèo, 1948)
Thì cái ý đã thu hẹp cái tứ. Câu hát trở thành thô thiển, và giới hạn âm vang. (Tôi đã có dịp trình lên anh Phạm Duy ý này, anh cười vui : thế à ?)
Tác phẩm Lê Thương uyên bác cả nhạc lẫn lời, đã đựơc người đời yêu thích.
Trịnh Công Sơn sẽ không viết được những câu văn vẻ như Lê Thương :
Bên Man Khê còn tung gió bụi mịt mùng,
Bên Tiêu Tương còn thương tiếc nơi ngàn trùng …
(Hòn Vọng Phu)
nhưng đã viết :
Đàn bò vào thành phố
Reo buồn tiếng hạt chuông
(…)
Đàn bò tìm dòng sông

Nhưng dòng nước cạn khô
Đàn bò bỗng thấy buồn,
bỗng thấy buồn …
(Du Mục)
Những hình ảnh ngoài trí tưởng tượng của Lê Thương – ông vua đặt lời ca – theo sự đánh giá của Phạm Duy. Đi vào nền tân nhạc với một tâm hồn mới mẻ, Trịnh Công Sơn đã dần dần xây dựng một nhạc ngữ mới, phá vỡ những khuôn sáo của nền âm nhạc cải cách, thành hình chỉ hai mươi năm về trước.
***
Trịnh Công Sơn tự học nhạc, chứ không được đào tạo theo hệ thống trường quy. Khi bắt đầu sáng tác, được khích lệ, mới “trao đổi nhạc lý với bạn bè”, anh không nói rõ là những ai.
Câu hỏi thứ hai người tò mò đặt ra là : học nhạc một mình, thì vốn liếng nhạc thuật lấy đâu ra mà sáng tác nhiều, nhanh và hay như thế ?
Nhiều người cho là tác phẩm anh đơn giản về mặt nhạc thuật, nói là nghèo nàn cũng được.
Văn Cao nhận xét : “Trong âm nhạc của Sơn, ta không thấy dấu vết của âm nhạc cổ điển, theo cấu trúc bác học phương tây. Sơn viết hồn nhiên như thể cảm xúc nhạc thơ tự nó trào ra3.
Lối nhạc hồn nhiên, dung dị này lại đáp ứng lại với nhu cầu thời đại, theo Phạm Duy : “Về phần nhạc, toàn thể ca khúc Trịnh Công Sơn không cầu kỳ, rắc rối vì nằm trong một số nhạc điệu đơn giản, rất phù hợp với tiếng thở dài của thời đại4.
Một thính giả bình thường, yêu quý Trịnh Công Sơn, đã viết sau khi anh qua đời : “Xét cho cùng, Trịnh Công Sơn là một nhà thơ. Một nhà thơ lớn. Nhạc là cái xe tải anh lắp lấy để chở thơ anh đến với chúng ta” (Vũ Thư Hiên, Varsovie, 4/2001). Nhận xét không đúng nhưng tiêu biểu.
Dù cho rằng nhạc thuật đơn điệu, thì cũng phải thừa nhận tài năng, có phần học tập, có phần thiên phú. Hoa hồng đẹp là do cây hồng, nhưng cũng còn nhờ vào đất đai, phân tro, mưa nắng, người chăm sóc, thậm chí cần cả người ngắm, hoa hồng mới có giá trị cái đẹp hoa hồng. Dù ở đây chỉ là một đoá vô thường.
Ta thử nhớ lại thời đại phát sinh tài năng Trịnh Công Sơn.
Năm anh 15 tuổi, 1954, Hiệp Định Genève chia đôi đất nước, cả hai miền Nam Bắc đều hoá thân trong hoàn cảnh chính trị và văn hóa mới.
Ở miền Nam, văn hoá phương Tây tràn ngập thị trường, nhất định phải ảnh hưởng mạnh mẽ đến tuổi mười lăm.
Sách báo, đĩa nhạc Pháp du nhập ồ ạt vào Việt Nam hằng ngày, giá thực tế rẻ hơn tại Paris nhờ trợ cấp hối đoái, và đây lại là thời kỳ phát minh và phát triển của loại sách bỏ túi và đĩa hát rảnh mịn (microsillon), phát hành rộng rãi, kèm theo những phương tiện truyền thanh mới. Thời trước, tuy Việt Nam là thuộc địa Pháp, nhưng văn chương Pháp chỉ du nhập qua nhà trường, giáo trình dừng lại ở cuối thế kỷ XIX : uyên bác như Xuân Diệu mà không biết Apollinaire. Sau 1954, văn hoá Pháp – và phương Tây – du nhập thẳng vào thị trường. Công chúng đọc Françoise Sagan tại Sài Gòn cùng lúc với Paris. Trên hè phố, nhất là tại các quán cà phê, người ta bàn luận về Malraux, Camus, cả về Faulkner, Gorki, Husserl, Heiddeger.
Nhà văn Bửu Ý, bạn Trịnh Công Sơn – học trước Sơn hai lớp tại Lycée Français Huế – hát Lá Rụng (Les Feuilles Mortes) một lần với Juliette Gréco ; Đời Hồng Tươi (La Vie en Rose) một lần với Edith Piaff, Barbara, một lần với Yves Montand ; trong khi Thanh Tâm Tuyền dịch Barbara của Jacques Prévert,đăng trên Sáng Tạo và nhà văn trẻ Nguyễn Xuân Hoàng cũng ngân nga Barbara. Nguyễn Trần Kiềm, bạn cùng lớp với Sơn, đi cyclo che nắng bằng sách của Sartre.
Người ta thắc mắc về những tên ca khúc Trịnh Công Sơn cầu kỳ như Mưa Hồng, Tuổi Đá Buồn, trong khi Thanh Tâm Tuyền viết Đêm Màu Hồng, về sau trở thành phòng trà lừng danh, lại viết thêm Lệ Đá Xanh, được danh hoạ Đinh Cường, bạn thân Trịnh Công Sơn, vẽ thành tranh trừu tượng, v.v…
Song hành với sách báo, các cơ quan văn hoá tây phương mở cửa hoạt động : Phòng Thông Tin Hoa Kỳ, Pháp, Trung Tâm văn hoá Đức … dĩ nhiên là với những động cơ chính trị trong thời kỳ chiến tranh lạnh, mà chúng tôi không đề cập ở đây, chỉ nhấn mạnh ở ảnh hưởng văn hoá phương Tây thời đó trên đời sống trí thức miền Nam. Những Chiều Chủ Nhật Buồn nằm trong căn gác đìu hiu.. ô hay mình vẫn cô liêu, rồi đến Ngày chủ nhật buồn còn ai, còn ai : … Tuổi buồn Em mang đi trong hư vô, ngày qua hững hờ… Không thể không nhắc đến bài Chủ Nhật Buồn, Sombre Dimanche của Seress Rejso, nghe nói đã có người tự tử vì nó. Hay vì những hư vô, cô liêu, hững hờ, thịnh hành một thời. Trong bài viết “Nỗi lòng của tên Tuyệt Vọng” anh đã tiết lộ ” tôi vốn thích triết học và vì thế, tôi muốn đưa triết học vào những ca khúc của mình “. Ví dụ như : Vết lăn trầm hằn lên phiến đá mà anh gọi là di thạch : roche errante, người hát không hiểu gì, nhưng vẫn thích hát ! Nhưng nói là Rolling Stones cũng không sai.
Ca khúc Trịnh Công Sơn gợi suy tư, đáp ứng lại nhu cầu trí thức chính đáng ở một thiểu số và ảo tưởng trí thức thời thượng ở một đa số, trong đó có các cô cậu, ở mục Tìm Bạn Bốn Phương trên các báo, tự giới thiệu là “yêu màu tím” và “nhạc họ Trịnh”, hay “nhạc TCS” viết tắt.
Thời kỳ này, Nguyễn văn Trung đã viết bài Ảo Ảnh Thanh Thuý. Nói về ảo ảnh Trịnh Công Sơn, ông ấy cũng có thể viết một bài hay.
Nhạc Trịnh Công Sơn đơn giản : một nhược điểm tạo dựng thành công. Phạm Duy nhận xét về Trịnh Công Sơn “Bài hát chỉ cần một chiếc đàn guitare đệm theo, nếu hoà âm phối khí rườm rà thì không hợp với những bài hát soạn theo thể ballade này”. Lại là một yêu cầu khác của thời đại : những Georges Brassens, Joan Baez lẫy lừng với cây đàn ghi-ta. Ca khúc Trịnh Công Sơn, có thể hát cho vài người nghe, cho một nhóm, hay trước quảng đại quần chúng. Nó đi vào quần chúng, nhất là giới thanh niên : Nó khác với nhạc phòng trà, có giàn nhạc và do ca sĩ hát, và thính giả đi nghe (và nhìn) ca sĩ nhiều hơn là nghe ca khúc.
Thời Trịnh Công Sơn cũng là thời của các tác-gia-soạn-giả-trình-diễn (auteur compositeur interprète) chẳng bao năm mà trở thành huyền thoại : Jacques Brel, Bob Dylan. Báo chí Mỹ gọi Trịnh Công Sơn là Bob Dylan Việt Nam, vì nội dung phản chiến, mà còn vì phong cách trình diễn.
Nhạc Trịnh Công Sơn không phải là nhạc giao hưởng. Những soạn giả bậc thầy của nhạc lý Việt Nam thời đó, như Vũ Thành, Văn Phụng, Nghiêm Phú Phi không có quần chúng.
Trịnh Công Sơn có tài đặt nhạc, soạn lời, lại biết bắt mạch thời đại, sống đúng thế hệ của mình, trong lòng đất nước, trong nhạc cảnh thế giới. Ngần ấy cái tài dồn lại, gọi là thiên tài, cũng không quá đáng.
***
Phân chất những lớp phù sa đã tấp vào dòng nhạc của mình qua những giao lưu văn hoá, Trịnh Công Sơn có nói đến những ảnh hưởng ngoại lai : ” Thưở nhỏ tôi rất thích nhạc tiền chiến và có nghe một số nhạc nước ngoài. Những năm 60, tôi có nghe nhạc Blues nói về thân phận của người da đen ở Mỹ. Tôi rất thích nhạc của Louis Amstrong, D. Ellington… Tôi thấy loại nhạc này gần gũi với mình và thấy có khả năng muốn lấy nhạc này để nói lên tâm sự của mình “. 5
Và cũng trên số báo Đất Việt đó, anh cho biết thêm về ảnh hưởng : “Những năm 64-66, sáng tác có chất Blues, những năm 67-72, lại mang nhiều chất dân ca”.
Chất dân ca” ở đây, phải hiểu theo nghĩa folk songs của Bob Dylan và Joan Baez thịnh hành thời đó. Cả hai danh ca đều hơn Sơn hai tuổi, cùng một thế hệ, cùng một lý tưởng chống chiến tranh, cùng một cây ghi-ta, cùng một điệu hát ; “Dân ca” ở đây không phải là hò mái nhì, hò giã gạo của quê hương. Nhạc dân tộc trong thời gian đầu, dường như không mấy ảnh hưởng đến anh. Những bài theo chủ đề ru con của Trịnh Công Sơn không mấy âm hưởng những bài hát ru em Việt Nam.
Sau này, thỉnh thoảng người nghe có nhận ra chút âm hưởng hò Huế, như trong “Thuở Bống là Người”, hay điệu ru dân tộc, như “Lời Mẹ ru Con” thì cũng chỉ là đôi biệt lệ, không tiêu biểu.
Gần đây, sách báo thường trích dẫn câu Trịnh Công Sơn :
“Tôi chỉ là tên hát rong, đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo”.
Lại phải hiểu chữ “hát rong” theo nghĩa hiện đại : không phải là ông sẩm chợ, hát vè Thất Thủ Kinh Đô ở phố Đông Ba mà Huy Cận đã mô tả, mà hình ảnh người du ca hiện đại, những baladins itinérants trong ca khúc Bob Dylan, trong quan niệm Nhạc Du Bất Tận, Never Ending Tour (1988). Nhà thơ Tô Thùy Yên, chuộng thuyết chính danh, nên đã nói rõ điều này và gọi Trịnh Công Sơn là “người du ca chính hiệu” :
Người du ca là một nghệ sĩ đặc biệt đứng giữa âm nhạc và thi ca, đúng hơn, người du ca là một thi sĩ nhiều hơn là một nhạc sĩ.
Người du ca thường khi xuất hiện và nổi bật trong những thời đại được coi là u uất nhiễu nhương, những thời đại mà tiếng nói con người bị lấn át, tự do con người bị cưỡng chế, giá trị con người bị hạ thấp, hạnh phúc con người bị tước đoạt và ước vọng con người bị bao vây.
Thành thử những tác phẩm du ca có thể là những tác phẩm yếu hơi, dễ dãi, sơ sài, những tác phẩm thành hình trong một thoáng cảm hứng nhất thời, những tác phẩm như những ký tự ghi chép vội vàng trên một trang giấy tình cờ, và thả bay ngay theo thời thế “.
Trong Cõi Tạm, ăn xổi ở thì này, nơi con người chôm liền chộp lẹ mọi cơ hội để mua lẻ và mua rẻ chút hư danh, có người còn viết được những lời như vậy, là nghiêm túc và tâm huyết. Nhất là viết cho một người vừa khác phe, vừa khác phái.
Văn Cao cũng là một người sành chữ nghĩa. Trong câu chuyện thân mật, anh thường nói “Sơn là một troubadour (kẻ hát rong) có tài”. Nhưng khi viết về Trịnh công Sơn, anh dùng chữ chantre, trang trọng hơn, trong nghĩa “kẻ ngợi ca” : ” bởi Sơn đã hát về quê hương đất nước bằng cả tấm lòng của một đứa con biết vui tận cùng những niềm vui, và biết đau đến tận cùng những nỗi đau của Tổ Quốc Mẹ hiền 6. Troubadour hát nhạc mua vui cho trần thế, Chantre hát những Lời Buồn Thánh. Tuy nhiên, Trịnh Công Sơn cũng chỉ tự xưng là troubadour, như tên đặt cho phòng tranh anh triển lãm chung với Đinh Cường, Bửu Chỉ tại Gallery Tự Do, tháng 8/2000.
Năm 1969, bạn anh, họa sĩ Trịnh Cung, đã vẽ bức tranh đẹp, tên là Le troubadour = Kẻ du ca, hát để kêu gọi hoà bình. Những chuyện này đều tương quan với nhau.
Khi Phạm Duy gọi ca khúc Trịnh Công Sơn là những ballades, không cùng một nguồn gốc với chữ baladin, cũng là có ý trang trọng.
Các vị ấy tài cao, ý sâu mà lòng thì rộng rãi ; cho nên lời cũng khoáng đạt.
***
Hôm qua trăng sáng lờ mờ
Em đi tát nước, tình cờ gặp Anh
Người con gái Việt Nam da vàng, ngày xưa, đã hát như thế trong ca dao, là để che dấu khát vọng tình yêu, chứ trong đời sống nông thôn thời ấy, làm gì có cái tình cờ.
Đời sống thế giới hiện nay, nghĩ cho cùng, cũng vậy thôi. Những giai điệu blues, nhạc phản kháng Bob Dylan, Joan Baez, thơ Prévert, Aragon, Eluard … Trịnh công Sơn đã gặp gỡ, trên dòng nhạc, dòng thơ, dòng tâm tư. Và dòng lịch sử, dân tộc và thế giới. Trong cao trào lớn của loài người, giữa lòng thế kỷ hai mươi : cao trào giải phóng dân tộc, chủng tộc và giai cấp. Đừng quên việc giải phóng phụ nữ : người phụ nữ Pháp đi phá ngục Bastille từ 1789, mãi đến 1944 mới có quyền đầu phiếu.
Người phụ nữ Việt Nam cũng vậy thôi : sau khi chờ chồng hoá đá, họ bước chân vào thế kỷ XX, thì ngồi đan áo. Từ Buồn Tàn Thu của Văn Cao, qua Bếp Lửa của Thanh Tâm Tuyền, thơ hiện đại của Ý Nhi, cho đến năm 2000, trong ca khúc Đêm Xanh của Bảo Chấn, cô ấy vẫn ngồi đan áo, trong khi dọc hè phố, áo pull bán rẻ mạt.
Đan áo là hình ảnh ẩn nhẫn, thụ động mà người đàn ông đòi hỏi. Đan áo cho ai đó, hay để tưởng nhớ, chờ đợi ai đó. Ca khúc Trịnh Công Sơn, rất nhiều phụ nữ, nhưng không thấy họ đan áo. Mà chỉ … gồi chơi, khi nghiêng vai, khi nghiêng đầu, khi nghiêng sầu. Ngồi chơi chán rồi thì Đứng lên gọi mưa vào Hạ. Nếu khóc, cũng chỉ khóc cho những Chiều mưa đỉnh cao… Mai kia, có ra đi, thì cũng là Như những dòng sông nhỏ.
Người đàn bà trong Trịnh Công Sơn đẹp dung dị và tự do bình thường. Tự do với cuộc đời, với tình yêu, thậm chí với tình dục. Nhạc Trịnh Công Sơn không nói đến tình dục, vì nói đến … làm gì ?
Người phụ nữ nghe và hát nhạc Trịnh Công Sơn thoải mái, vì chỉ hát, hay nghe, mà không phải làm gì cả, không phải Hái Mơ, Lái Đò, bán Hàng Cà Phê, Hàng Nước, không phải thay quần áo làm cô Sơn Nữ,Láng Giềng hay mua lấy số phận Người Yêu của Lính. Và nhất là không phải … đi lấy chồng : hạnh phúc không thấy đâu mà chỉ nghe oán trách dài dài suốt nửa thế kỷ : Em đi trên xác pháo, anh đi trong nước mắt… Em ơi tình duyên lỡ làng rồi, còn chi nữa mà chờ … Và, ở một chân trời khác, họ cũng không phải ba đảm đang, ba sẵn sàng, làm Người Mẹ Cầm Súng, xung phong đi gỡ mìn ở Ngã Ba Đồng Lộc
Sau 1975, khi “Em ở Nông trường, em ra Biên giới” thì người nghe có cảm giác cô Tấm đã trở thành cô Cám, và Trịnh Công Sơn sẽ gào gọi Bống hỡi Bống hời, cô Tấm thỉnh thoảng có tái hiện, nhưng cũng đã tân trang nhiều lắm.
Trong xã hội Việt Nam, cho đến hôm nay, chưa chắc gì người phụ nữ đã được giải phóng, và tôn trọng đúng mức. Trong ca khúc Trịnh Công Sơn, họ được giải phóng và tôn trọng. Tôn trọng người đàn bà, không phải là tán tỉnh, Trịnh Công Sơn, rất hồn nhiên đã hiểu ra và nói vào điều đó.
***
Nhạc phản chiến, đòi hỏi hoà bình của Trịnh Công Sơn thì nhiều người biết, sẽ có nhiều người viết về đề tài này. Mới đây, trong buổi tưởng niệm Trịnh Công Sơn, tại Californie, anh Đỗ Ngọc Yến có nói rõ và nói đúng, khác với Đỗ Ngọc Yến cách đây 40 năm và 20 năm.
Tôi không đủ thì giờ viết về đề tài này, nhưng sẽ đề cập đến ở một dịp khác, nay chỉ vội nói ngay mấy ý kiến chủ quan :
1.- Dù đánh giá ra sao đi nữa, nhạc Trịnh Công Sơn cũng là sản phẩm của chế độ Việt Nam Cộng Hoà, trong cả hai mặt tích cực và tiêu cực của chế độ này.
Không có Miền Nam, cũng có thể có một Trịnh Công Sơn, nhưng là một Trịnh Công Sơn khác, đại khái như một Phạm Tuyên hay Phan Huỳnh Điểu.
2.- Chính quyền Cộng Sản, sau 1975, sau những thăm dò, đã lưu dung một phần trong nhạc phẩm Trịnh Công Sơn và đã khéo sử dụng Trịnh Công Sơn. Có thể nói sau 25 năm chiến thắng, thành công hiếm hoi, nếu không phải là duy nhất, của chính sách văn hoá của chính quyền cộng sản, là tiếp thu nhạc Trịnh Công Sơn, mà công đầu là Thành Uỷ TPHCM. Dùng chữ “chính sách”, là để nhìn toàn cảnh, chứ đối với một cá nhân, chắc chỉ có những quyết định cục bộ, nhất thời, bất thành văn. Dù sao, họ cũng chỉ kế thừa kinh nghiệm Liên Xô vào thời kỳ Tân Chính Sách Kinh Tế (NEP) những năm 1920, sau cuộc nội chiến, khi Lenine thu dung những nhà văn, nhà thơ “bạn đường” (Popoutchiki) như Alexis Tolstoi hay Zamiatine.
Trong chiến tranh chống Pháp, người Cộng Sản đã không thu phục được Phạm Duy. Sau 1954, họ không thu phục được Văn Cao. Nhưng sau 1975, họ thu hoạch được Trịnh Công Sơn, như vậy đã là thành công. Thành công về mặt hiện tượng, không phải về mặt bản chất. Về mặt bản chất, chuyên chính vô sản không bao giờ chấp nhận cái gì khác họ, không phải do họ tạo ra. Mặt khác, ca khúc Trịnh Công Sơn trước kia và bây giờ không có “tiêu chuẩn” đáp lại quy luật của hiện thực xã hội chủ nghĩa. Cố gắng đến đâu thì cây cam cũng không tạo được quả chanh. Trước kia “hai mươi năm nội chiến từng ngày” là sai đường lối, bây giờ hỏi “Em còn nhớ hay em đã quên” vẫn sai lập trường.
Chấp nhận – dù trong giới hạn – những dư vang của một chế độ chính trị mà mình cố công bôi xoá, chính quyền TPHCM, trong chừng mực nào đó, đã nhượng bộ quần chúng, đã gián tiếp thừa nhận mình thất bại, trong việc ngăn chặn nhạc vàng, và nhất là trong việc đào tạo một nền âm nhạc mới đáp ứng với quần chúng. Chính quyền Trung Ương Hà Nội “wait and see” để cho TPHCM “phát huy sáng kiến” ; nếu rách việc thì ra tay chận đứng một “quyết đinh địa phương”, nếu vô hại thì án binh bất động, và thêm được tiếng là cởi mở, hoà hợp.
3.- Về phía Trịnh Công Sơn, anh cũng khéo thoả hiệp với chính quyền mới. Việc anh ở lại Việt Nam sau 1975, hợp tác với các hội văn nghệ Huế, rồi TPHCM là hợp lý, sau khi đã sáng tác Khi đất nước tôi thanh bình, tôi sẽ đi thăm… Đó là sự chọn lựa tự do của anh. Cũng như Nguyễn Trãi xưa kia, cháu ngoại nhà Trần, mà không phò tá các phong trào kháng chiến Hậu Trần, lại đi hợp tác với đám nông dân Lam Sơn. Hay như Ngô Thời Nhậm, nhiều đời ăn lộc chúa Trịnh vua Lê, mà đã đi hợp tác với nhóm áo vải Tây Sơn. Từ đó người ta có thể thông cảm khi anh làm một số bài ca ngợi chế độ mới, không hay lắm và ít được hát, ít người biết : âu cũng là điều may mắn cho anh, vì anh đã có một số câu chữ không hay và không cần thiết.
Anh là người được hưởng nhiều bổng lộc của chính quyền, nhiều hơn những cán bộ đã vào sinh ra tử trong cả hai cuộc chiến tranh. Anh có thể hát Đời Cho Ta Thế. Thật ra, đời không cho ai cái gì mà chỉ đổi chác ; anh đã phải trả giá, có khi là giá rất đắt. Anh không trả thì nhiều người khác phải trả. Ý thức điều đó có lần anh viết : “Tôi không bao giờ có tham vọng trở thành một người viết ca khúc nổi tiếng. Nhưng đời đã tặng cho tôi món quà ấy thì tôi không thể không nhận. Và khi đã nhận rồi thì phải có trách nhiệm với mọi người “.
Nói thì ngon lành như thế. Thực tế không đơn giản : người ta cho anh bó hoa, chai rượu. Ai cho anh trách nhiệm ? Anh hát “mỗi ngày tôi chọn một niềm vui“, khi bạn anh, Thái Bá Vân, phó viện trưởng Viện Mỹ Thuật Hà Nội than : “một năm không được một ngày vui“. Muốn mua vui, phải vào Sài Gòn … chơi với Sơn. Nhưng chẳng qua là niềm vui của phận “chim lồng cá chậu” ; Hiểu như thế, bạn bè không đòi hỏi gì nhiều ở một nghệ sĩ yếu đuối, sống chết giữa trùng vây như anh.
Người ta đánh giá một tác giả qua những tác phẩm anh ta đã thực hiện, chứ không qua những tác phẩm mà “lẽ ra” anh ta phải thực thực hiện. Nhân danh cái “lẽ ra” ấy, người làm văn học nghệ thuật đã là nạn nhân của bao nhiêu là oan khiên, oan khốc và oan khuất.
Không những vì chút tình riêng, nhưng còn vì tình đời, luật công bình, luật tương đối, luật chơi, chúng ta nên gạt sang một bên nhiều cái “lẽ ra” đối với Trịnh Công Sơn, mà chỉ xét những cái anh đã làm ra.
4.- Qua bốn mươi năm truân chuyên, Trịnh Công Sơn đã có những đóng góp lớn lao vào nền văn học nghệ thuật, vào đời sống xã hội, và lịch sử chính trị. Phần lớn sự nghiệp anh đã thành hình và thành công dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà, mà mọi người đã biết. Bài này tạm thời chưa nói đến.
Ngoài quần chúng cũ, nghe nhạc Trịnh Công Sơn vì yêu thích hay để nhớ lại ngững âm hao xưa cũ, thì thính giả khác, giới thanh niên Việt Nam ngày nay, hay người miền Bắc trước 1975, đón nhận ra sao ?
Trong xã hội Việt Nam ngày nay, ca khúc Trịnh Công Sơn mang lại chất Thơ cho đời sống. Nhìn qua một số đĩa hát CD, thu nhiều bài của nhiều soạn giả, thì cái tên chung thường mượn tiêu đề của Trịnh Công Sơn, như Lời Thiên Thu Gọi (Hồng Nhung), Xin Mặt Trời hãy ngủ yên (Mỹ Linh), những tiêu đề nhiều âm vang, nhiều thi vị. Những nhạc sĩ khác, Dương Thụ, Phú Quang, Trần Tiến, Bảo Chấn… đều tài cao, nhưng được đào tạo và trưởng thành trong một xã hội duy dụng và thực dụng, óc sáng tạo cao siêu của họ không đặt ra những câu hỏi vớ vẩn như là Sóng Về Đâu ? Vì thực tế : sóng thì … về đâu ? Trong một mẩu xã hội nào đó, đặt những câu hỏi như thế, là có cơ nguy bị nhốt vào nhà thương điên.
Chủ nghĩa hiện thực xã hội rất nghiêm khắc, yêu chuộng văn vần, một loại văn xuôi diễn ca (prose versifiée), với điều kiện loại văn vần ấy không có chất Thơ. Thi phẩm của “công thần” Nguyễn Đình Thi còn bị gạt ra nói gì đến “hàng thần” Trịnh Công Sơn ? Nhưng ca khúc Trịnh Công Sơn đã lọt qua được các mắt lưới, vì đã cấp thời đáp lại được “lời gọi của khoảng trống” (l”appel du vide) và ca khúc là một thể loại nhẹ, phù phiếm (genre léger), chính quyền dung dưỡng vì có khả năng chận đứng bất cứ lúc nào – như đã làm với nhạc Văn Cao ngày xưa : thậm chí bài Quốc Ca còn bị hăm doạ thay đổi. Và đang làm với Phạm Duy ngày nay. Trong các CD thu tại Việt Nam hiện nay có ai thấy Giấc Mơ Hồi Hương, nhạc Vũ Thành ?
Chính quyền dung dưỡng ca khúc Trịnh Công Sơn không phải vì động cơ nghệ thuật, nhưng như một thế phẩm (ersatz), trong thời kỳ quá độ, như bác sĩ ban thuốc an thần cho bệnh nhân mất ngủ. Trong khi chờ đợi, thính giả hưởng lạc khoản, được ngày nào hay ngày ấy. Họ đang được nghe bài Sóng Về Đâu một trong ca khúc cuối đời Trịnh Công Sơn :
Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi
Đừng xô tôi ngã dưới chân ngườI
Biển sóng, biển sóng đừng xô nhau
Ta xô biển lại sóng về đâu
Sóng bạc đầu và núi chìm sâu
Ta về đâu đó
Về chốn nào mây phủ chiêm bao
Xã hội chủ nghĩa có thể tạo ra nhiều bài hát hay hơn. Nhưng tạo ra được cái gì na ná như thế thì vô phương. Thiên tài không phải là người không bắt chước ai, mà là người không để ai bắt chước được mình.
5.- Chứng từ cho giá trị một tác phẩm nghệ thuật, là khả năng kết hợp rộng rãi và lâu dài của nó. Nhạc Trịnh Công Sơn được hát rộng rãi ở Miền Nam trước 1975, chúng ta đã biết. Nhưng trước 1975, Miền Bắc đã nghe và đã thích nhạc này, như Văn Cao đã kể lại7. Nguyễn Duy kể thêm rằng ở dọc Trường Sơn, bộ đội miền Bắc cũng đã nghe :
“Mặt trận Đường Chín-Nam Lào (1971)… trong căn hầm kèo bên dòng sông Sêbănghiêng … Nghe, nghe trộm – vâng, lúc đó gọi là nghe trộm – đài Sài Gòn, tình cờ ‘gặp’ Trịnh Công Sơn qua giọng hát Khánh Ly… Diễm Xưa… Mưa vẫn mưa rơi … làm sao em biết bia đá không đau … Quỷ thật ! giai điệu ấy và lời ca ấy tự nhiên ‘ghim’ lại trong tâm tưởng tôi ngay từ phút bất chợt ấy. Rồi Như Cánh Vạc Bay… Quái thật ! … Cảm nhận bất chợt, những bài hát rất mượt mà, đắm đuối ấy… ừ thì có buồn đấy, đau đấy, quặn thắt nữa đấy… nhưng còn là cái gì lành mạnh nảy nở trong đó. Hình như là cái Đẹp… Bảng lảng, lờ mờ, khó phân định cho đúng nghĩa, nhưng rõ ràng là đẹp, đẹp làm sao… Và cũng hơi ma quái thế nào … “8
Người ác ý có thể ngờ vực : Nguyễn Duy là nhà báo có quyền nghe đài, sau này là bạn rượu của Trịnh Công Sơn, nên thêm thắt. Thì đây, một chứng từ khác đến từ một anh bộ đội, không quen biết gì, không điếu đóm gì với Trịnh Công Sơn, nhà văn Nguyễn văn Thọ, hiện ở Berlin :
Năm 1972, khi ấy tôi là bộ đội trong rừng Trường Sơn. Thằng bạn tôi, sau chiến dịch Lam Sơn 719 vớ được cái đài Sony rất tốt.
Đêm Trường Sơn, chờ cho mọi người đi ngủ hết, chúng tôi lén mở đài BBC và cả đài Sài Gòn. Đấy là lần đầu tiên tôi được nghe tiếng hát Khánh Ly với nhạc Trịnh Công Sơn.
Chúng tôi là lớp người lớn lên từ Miền Bắc, thường quen với những khúc thức hùng tráng. Trong tiếng chộn rộn rú rít của sóng vô tuyến, tôi vẫn thấy một giọng lạ của một thứ âm nhạc mới. Một thứ nhạc da diết, đầy lãng đãng từ ca từ, tới khúc thức. Một thứ nhạc xanh không giống bất cứ nhạc xanh nào mà tôi từng nghe, kể cả trong những đĩa hát quay tay cổ mở suốt ngày rên rỉ ở đầu chợ trời những ngày sau hoà bình.
Rất lạ, với tôi khi đó nhạc Trịnh Công Sơn như làn gió khởi từ xa xăm đâu đó, tách khỏi hận thù trận mạc, tha thiết một tình yêu đồng loại, giống nòi, yêu bè bạn, hoà bình, đạo lý. Nó lạ, vì lối ca từ phi tuyến tính, không giống cách viết truyền thống trên những ca khúc của Hà Nội khi đó”
Quý hoá hơn nữa, anh Thọ đã ghi lại cảm giác khi tiến quân vào Sài Gòn, nghe nhạc Trịnh Công Sơn hát Nối Vòng Tay Lớn, buổi trưa ngày 30/4/1975, trên đài Sài Gòn :
Mặt đất bao la … anh em ta về … gặp nhau trong bão lớn quay cuồng trời rộng …
Lời ca không phải là tiếng thách thức tử thủ. Lời ca không phải là tiếng bể máu như kết cục thường của chiến cuộc, lời ca khi ấy làm chùng xuống không khí thù hận và hằn học.
Chúng tôi tiến vào Sài Gòn…
Nối Vòng Tay Lớn
Chiến tranh nào bao giờ chẳng có mặt trái, nhưng tiếng hát kia, bản nhạc ấy, mở ra cho cả hai bên nghe như một liều thuốc vô hình đã làm chùng xuống một thời khắc thường dễ nổi cáu và nổi doá.
Đấy là kỷ niệm thứ hai của tôi về anh
Tiếng hát làm chùng tay súng. Một ngày, một giờ mà sinh mệnh của hằng triệu con người nằm trên đường tơ kẽ tóc, một sự kiện như thế không trọng đại hay sao ?
Văn học nghệ thuật Việt Nam, đã bao nhiêu lần đóng vai trò đó ?
Sau này, Thọ sang sinh sống tại Đức, theo diện xuất khẩu lao động, vẫn nghe nhạc Trịnh Công Sơn :
Ngay cả sau này, đôi khi tự an ủi mình, nâng đỡ mình, tôi khe khẽ hát “Tôi ơi đừng tuyệt vọng”… và nhiều bài ca khác trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, nhưng tôi vẫn nhớ từng chi tiết và cám ơn nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở trưa phát thanh trên làn sóng Sài Gòn ngày đó 9
Ở một chân trời khác, nhiều người oán trách Trịnh Công Sơn về việc lên đài hát Nối Vòng Tay Lớn, trưa ngày 30.4.1975. Thật ra, anh có hát hay không hát, thì chế độ Việt Nam Cộng Hoà cũng tan rã. Anh có hát, và có hợp tác với chính quyền mới, âu cũng là một cách cứu vãn vết tích văn hoá của nền Việt Nam Cộng Hoà đã đào tạo ra anh về mặt tài năng và sự nghiệp, thậm chí tạo ra cả một huyền thoại Trịnh Công Sơn.
Một lần nữa, ông Nguyễn Văn Trung, sau Ảo Ảnh Thanh Thúy nếu viết Trịnh Công Sơn Thực Chất và Huyền Thoại cũng sẽ nghĩ ra nhiều điều hay.
Nếu có ai đó nói rằng : Trịnh Công Sơn là một khổ nhục kế, để kéo dài hơi thở văn hoá của một chế độ chính trị đã bị bức tử, thì là lời đại ngôn, duy cảm, nghịch lý, vớ vẩn.
Vớ vẩn như một số lời ca trong tác phẩm Trịnh Công Sơn. Nhưng biết đâu chẳng là sự thực ? Sự thực trong bao nhiêu cái vớ vẩn, kể cả trong lịch sử.
Chế Lan Viên, năm 1984, đã viết : ” Văn hoá của thực dân mới là con đẻ của chủ nghĩa thực dân mới. Quân sự, chính trị thực dân mới có chết, có băng hà thì nó cũng truyền ngôi cho văn hoá “10. Và Chế Lan Viên không phải là người vớ vẩn, viết lách vớ vẩn.
***
“Không xa đời và cũng không xa mộ người…”
Trịnh Công Sơn đã xa đời lúc 12 giờ 45 tại Sài Gòn, ngày 01.4.2001.
Đám tang ngày 4 tháng tư, nghe nói lớn lắm, hàng trăm tràng hoa ngập con hẻm 47 Duy Tân. Hàng vạn người đưa tiễn, trong đó có thể có người đi tiễn một điều gì khác, một tâm tình hay u hoài nào đó của riêng mình, chẳng hạn.
André Malraux có nói đâu đây rằng “trong Thiên Chúa Giáo, chỉ có những pho tượng là vô tội”. Trịnh Công Sơn đã sống non nửa sau cuộc đời, trong một chế độ chính trị mà các pho tượng cũng không phải là vô tội.
Những đoá hoa đặt trên mộ Toa, Sơn ơi, không phải là đoá hoa nào cũng vô tội.
Bây giờ moa mới khóc Toa đây. Tại nhà moa, ngồi ở chỗ Toa ưa ngồi vẽ, nhìn dòng sông nhỏ, mà Toa đã gọi là sông An Cựu.
Sơn ơi, đời này, và sang đời khác nữa, làm gì có đến hai dòng sông An Cựu ;
an cựu, Sơn ơi.

3. Tóm tắt:

  • Trịnh Công Sơn quê làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.
  • Ông sinh vào giờ Thìn, ngày 10 tháng Giêng năm Kỷ Mão tức ngày 28 tháng 2 năm 1939, tại Daklak.
  • Ông mất vào 12:45 trưa ngày 1 tháng 4 năm 2001, tại Saigon. Ông an nghỉ tại nghĩa trang Gò Dưa chùa Quảng Bình, tỉnh Bình Dương bên cạnh mộ của thân mẫu.
  • Năm 1943 từ Daklak ông theo gia đình chuyển về Huế. Ông học trường tiểu học Nam Giao (nay là Trường An), vào trường Pellerin, theo học trường Thiên Hựu (Providence). Ông tốt nghiệp tú tài ban Triết tại Chasseloup Laubat, Sài Gòn. Học trường Sư Phạm Quy Nhơn khoá I (1962-1964). Sau khi tốt nghiệp ông lên dạy học và làm Hiệu trưởng một trường Tiểu học ở Bảo Lộc (Lâm Đồng). Sau 1965, ông bỏ hẳn nghề dạy học, về sống và sáng tác tại Saigon.
  • Sau 1975 ông sống ở Huế một thời gian dài và sau đó vào ở hẳn tại Saigon.
  • Ngoài Âm nhạc, tác phẩm của ông còn gồm nhiều thể loại thuộc các lãnh vực như: Thơ, Văn và Hội Họa.
  • Ông tự học nhạc, bắt đầu sáng tác năm 1958 với tác phẩm đầu tay Ướt Mi (Nhà Xuất Bản An Phú in năm 1959). Cho đến nay nhạc sĩ đã sáng tác hơn 600 tác phẩm, có thể được phân loại dưới 3 đề mục lớn: Tình Yêu – Quê Hương – Thân Phận.
  • Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng ở Nhật Bản với bài “Ngủ Đi Con” (trong Ca Khúc Da Vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly phát hành trên 2 triệu bản.
  • Giải thưởng cho Bài hát hay nhất trong phim “Tội Lỗi Cuối Cùng
  • Giải Nhất của cuộc thi “Những bài hát hay nhất sau 10 năm chiến tranh” với bài “Em Ở Nông Trường, Em Ra Biên Giới”
  • Giải Nhất cuộc thi “Hai mươi năm sau” với bài “Hai Mươi Mùa Nắng Lạ”
  • Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhạc Sĩ cho một chuỗi bài hát: “Xin Trả Nợ Người”, “Sóng Về Đâu”, “Em Đi Bỏ Lại Con Đường”
  • Trịnh Công Sơn có tên trong tự điển Bách Khoa Pháp “Encyclopédie de tous les pays du monde” (Coll. Les Millions)…
  • Quan niệm sáng tác: “Tôi chỉ là một tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo…”
  • Quan niệm sống: “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng, dù không để làm gì cả, dù chỉ để… gió cuốn đi!
  • Các tuyển tập ca khúc nổi tiếng: Ca Khúc Trịnh Công Sơn,Tình Khúc Trịnh Công Sơn, Tuổi Đá Buồn, Khói Trời Mênh Mông, Ca Khúc Da Vàng, Kinh Việt Nam, Ta Phải Thấy Mặt Trời, Phụ Khúc Da Vàng, Như Cánh Vạc Bay, Tự Tình Khúc, Lời Đất Đá Cũ,Thần Thoại Quê Hương Tình Yêu và Thân Phận, Một Cõi Đi Về, Huyền Thoại Mẹ, Cỏ Xót Xa Đưa, Em Còn Nhớ Hay Em Đã Quên, Những Bài Ca Không Năm Tháng.
Khi nghe tin ông mất ca sĩ Khánh Ly đã phát biểu: “Ông Trịnh Công Sơn không của riêng ai. Ông là của tất cả mọi người. Ông yêu dân tộc và quê hương. Việc ông ở lại và nằm xuống trên quê hương là điều đúng. Từ ông, tôi đã thành danh, và quan trọng hơn là thành nhân. Sống cùng với tên tuổi của ông gần 40 năm với những lời ông dặn bảo phải sống giữa đời với một tấm lòng, và sống với người bằng sự tử tế. Ông là một nửa đời sống của tôi.”

———————————————————————–

Bài 1: TIỂU SỬ

Sâm Thương, nhà văn, biên kịch, một trong các người bạn chí thân luôn luôn có mặt bên Trịnh Công Sơn trong nhiều năm tháng sau cùng, đã khởi sự những trang viết về cuộc đời người nhạc sĩ. Nhân dịp năm thứ ba Trịnh Công Sơn qua đời, Sâm Thương đã hân hạnh đưa lên mạng phần thứ nhất: từ thuở ấu thơ cho đến năm Trịnh Công Sơn mười chín tuổi.
Một tháng sau hiệp ước Munich, Nhật bắt đầu cuộc Nam tiến bằng việc chiếm đóng Quảng Châu, cô lập Hồng Kông khỏi đại lục Trung Quốc. Ngày 10.02.1939, bước đầu Nhật tiến chiếm các cứ điểm chiến lược ở biển Đông đảo Hải Nam gần bờ biển Đông Dương thuộc Pháp và quần đảo Sinam, Trường Sa.
Mùa Xuân năm 1939, Đức quốc xã kéo quân đến biên giới Tiệp Khắc, và ngày 13.03 năm đó, xâm nhập vào thủ đô Prague của Tiệp Khắc. Một tháng sau, ngày 7.04, quân đội Ý đánh chiếm lãnh thổ Albanie trong vùng Balcan. Các quốc gia Tây Âu yếu thế, không có phương án đối phó, đành phải quay về một số nước nhược tiểu ở miền đông để thiết lập một “phòng tuyến cuối cùng để bảo vệ hòa bình”. Ngày 13.04.1939, hai chính phủ Anh, Pháp ký với chính phủ Ba Lan một hiệp ước liên minh quân sự. Nhưng ngày 28.04.1939, Đức xóa bỏ Hiệp ước bất xâm phạm với Ba Lan, và tuyên bố bãi bỏ luôn cả Hòa ước Anh–Đức.
Ngày 25.5.1939, Hitler và Mussolini cùng ký kết một Hiệp ước mang tên Pact of Steel liên minh hai quốc gia Đức -Ý về mọi phương diện. Đức quốc xã bắt đầu uy hiếp Ba Lan và lên tiếng đòi lại hải cảng và eo đất Dantzig ở bên trong lãnh thổ quốc gia này. Chiến Tranh Thế Giới thứ hai đã khởi đầu với những đau thương tang tóc chưa từng có.
Trong khi đó, Việt Nam đang sống dưới ách thống trị của thực dân Pháp, một nước Pháp đang chà đạp các dân tộc thuộc địa và run rẩy trước sức mạnh của bọn Phát-xít Đức đang lớn dậy. Trịnh Công Sơn đã có mặt trên “cõi tạm” này trong một bối cảnh chính trị thế giới và quốc nội như thế đó.
Trịnh Công Sơn sinh ngày 28 tháng 2 năm 1939 tại Daklak, cha là Trịnh Xuân Thanh, mẹ là Lê Thị Quỳnh. Thật ra, Daklak không phải quê quán của anh, cha mẹ anh trước đây đều sinh sống tại Thừa Thiên – Huế, gốc làng Minh Hương, xã Hương Vinh, huyện Hương Trà. Thân sinh Trịnh Công Sơn là một người yêu nước, không chấp nhận chế độ hà khắc và bạo ngược của thực dân Pháp đối với đồng bào mình, nên đã có những họat động bí mật chống đối nhà cầm quyền Pháp, ủng hộ những lực lượng kháng chiến. Nói đúng, ông không đứng trong hàng ngũ những người Cộng Sản, mà chỉ là một người yêu nước như bao nhiêu người Việt Nam yêu nước khác thời đó. Do luôn bị mật thám của Pháp theo dõi và gây không ít khó khăn, năm 1937, ông đã lặng lẽ đưa vợ vào sinh sống ở Daklak. Ở đây, ông mở cửa hiệu may mặc Kam Tik trên đường Nguyễn Thái Học (nay là đường Điện Biên Phủ), cạnh rạp chiếu bóng Buôn Mê Thuột.
Trịnh Công Sơn không phải là đứa con đầu của cặp vợ chồng trẻ từ Huế vào đây định cư. Sơn có một người anh tên Trịnh Xuân Dương, sinh trước Sơn ba năm tại Huế, nhưng chưa được hai tháng tuổi thì mất. Trịnh Công Sơn nghiễm nhiên trở thành con trai trưởng trong gia đình họ Trịnh. Nhưng gia đình Sơn cũng không ở Daklak được lâu, bốn năm sau khi Sơn ra đời thì gia đình quay trở về Huế, ngụ tại Bến Ngự.
Mùa hè năm 1944, sau khi nước Pháp được giải phóng, De Gaulle và nước Pháp tự do phải đối mặt với vấn đề xây dựng một chính sách chung đối với đế chế thuộc địa Pháp trong thời hậu chiến. Chính sách cơ bản của Pháp là muốn hất cẳng quân phiệt Nhật, quay trở lại Đông Dương, tập trung vào việc tạo ra một cơ cấu chính trị, trong đó toàn thể đế chế đều được đại diện, nhưng thực chất quyền kiểm soát chủ yếu vẫn nằm trong tay các chính quyền bảo hộ.
Mùa Thu năm 1945, Trịnh Công Sơn lên sáu, tuổi cắp sách đến trường thì chứng kiến nạn đói năm Ất Dậu, Nhật đầu hàng Pháp và Cách Mạng tháng tám bùng nổ. Sơn theo học trường tiểu học Trần Quốc Toản (Thành Nội, Huế), nhưng chỉ học ở đây một năm, rồi chuyển về học trường Nam Giao. Thời gian này gia đình Sơn ở Bến Ngự. Qua khỏi cầu Bến Ngự là đường Phan Chu Trinh, đi thẳng là đường Nguyễn Hoàng, nay đổi là đường Phan Bội Châu. Qua đường rầy xe lửa, đi thẳng lên dốc, hẻm đầu tiên bên trái có giếng nước là nhà Sơn. Nay là số 43B Phan Bội Châu, Huế.
Cũng cần nói thêm, cách nhà Sơn không xa, có hai địa điểm rất quan trọng đối với tuổi thơ của Sơn mà thỉnh thoảng Sơn vẫn nói tới trong chỗ thân tình. Địa điểm thứ nhất: quay trở lại cầu Bến Ngự, thay vì đi thẳng đường Nguyễn Hoàng, đến đường Phan Chu Trinh rẽ trái, khoảng 50 mét là đồn Hiến binh Pháp. Nơi đây là chỗ tạm giam những người bị tình nghi có tham gia hoạt động chống đối chính quyền bảo hộ. Hằng đêm, người dân sống quanh khu vực này vẫn thường nghe tiếng la hét, giẫy giụa của những tù nhân bị tra khảo, hỏi cung. Đặc biệt, phía trước bờ rào của đồn Hiến binh có một cây cóc, quanh năm trái xanh trĩu nặng. Không biết có phải vì những trái cốc xanh chọc thèm hay vì một lý do tiềm ẩn nào khác, mà đám trẻ, trong đó có Sơn, mỗi khi đi ngang qua thường tìm cách lấy đá ném vào, cho đến khi bọn Tây trong đồn xách súng ra, cả đám mới chịu bỏ chạy.
Địa điểm thứ hai trên đường Nguyễn Hoàng, qua khỏi đường rầy là một con đường nhỏ dọc theo đường xe lửa. Ngay ngã tư này, bên trái có một cây bàng cổ thụ, thân cây to lớn, tàng lá che cả một khoảng trời. Có những buổi sáng sớm, dân chúng nhốn nháo, tụ tập trước cây bàng đó để chứng kiến những xác người chết, Tây có ta có, bị chém treo ngoảnh, đầu quoặt ngược, với hàng chữ bằng máu viết lớn trên ngực áo hay trên băng vải: “Đây là hình phạt dành cho những tên Việt gian bán nước” hoặc “Tên xâm lăng, cướp nước phải đền tội”. Những hàng chữ và hình ảnh này vẫn luôn gây sự xôn xao chú ý của dân chúng sống quanh vùng, kể cả đám học sinh nhỏ tuổi như Sơn hồi đó. Những lần như thế, trước khi đến trường, Sơn theo chân một vài đứa bạn lén lút theo dõi cảnh tượng đó, rồi tản đi một mình với những suy nghĩ có lẽ chưa được định hình…
Một thực tế khác, trực tiếp tác động đến suy nghĩ và hành động của Sơn, bắt anh phải nhìn thẳng vào sự thật lịch sử. Đó chính là cuộc đời và thân phận nghiệt ngã của thân sinh anh. Theo như lời Sơn kể thì từ 1945 đến 1949, năm năm liền, năm nào thân sinh anh cũng bị bắt giam trong lao Thừa Phủ, Huế mỗi khi tình hình có dấu hiệu biến động. “Thời gian này, tại Huế, mẹ tôi và tôi thay nhau đi thăm nuôi và năm 1949 tôi được vào nhà lao Thừa Phủ ở cùng ba tôi, một năm trước khi cả gia đình cùng kéo nhau vào Sàigòn”. Nhìn thấy hình ảnh cha tiều tụy với thân thể đầy những vết đòn roi hiểm ác khi bước ra khỏi cổng nhà tù, anh đã nghẹn ngào ôm chặt lấy cha, lòng đầy đau thương và phẩn hận. Những ấn tượng đó chẳng bao giờ phai nhạt trong ký ức anh. Nó sẽ theo đuổi, bám chặt lấy anh trong cuộc sống cũng như trong sáng tác của anh sau này.
Sơn và thế hệ của anh vẫn còn quá nhỏ để hiểu biết và trách nhiệm về tất cả những biến động lịch sử đang diễn ra trước mắt.
Năm 1949, nói là “cả gia đình kéo nhau vào Sàigòn“, nhưng thực tế, để thuận lợi cho việc khuếch trương buôn bán, thân sinh anh cho mở văn phòng giao dịch ở Sàigòn; ông đưa Sơn, Hà vào trước, những người còn lại năm sau mới vào. Ban đầu, Sơn cùng gia đình ở đường Calmette, Tân Định (nay là Đinh Công Tráng) một thời gian, rồi chuyển đến đường Dypre (một đường nhỏ cắt ngang đường Nguyễn Trãi) và cuối cùng dọn đến đường Parinol (nay là đường Đặng Trần Côn). Vào Sàigòn, Sơn học lớp nhất trường Hưng Đạo, Cống Quỳnh (1949-1950). Lên cấp hai, Sơn chuyển qua chương trình Pháp ở Jean Jacques Rousseau cho đến khi thi xong Brevet (1950-1954).
Khoảng tháng tám 1954, sau khi hiệp định Genève được ký kết, cả gia đình Sơn quay về Huế, mở cửa hàng Thanh Tâm ở đường Hàng Bè (Huỳnh Thúc Kháng), sau đó chuyển về số 79 B đường Gia Long (nay là Phan Đăng Lưu) giao dịch và phân phối phụ tùng xe đạp, xe gắn máy cho các đại lý ở Huế và các vùng phụ cận.
Trở lại Huế, Sơn học ở Lycée Francais một năm, năm sau chuyển qua trường Providence (Thiên Hựu), tốt nghiệp Tú tài 1 (Bac I) niên khóa 1955-1956. Trường Providence là một trong ba trường tư thục lớn thuộc Giáo hội Thiên Chúa giáo. Thời đó, ở Huế những ai được theo học trường Providence, Pellerin (nam) hay Jeanne D’Arc (nữ) đều là những gia đình khá giả. Trong thời gian này, Sơn đã bắt đầu tiếp cận với những tác phẩm của Alfred de Musset, Alphonse Daudet, Anatole France, Saint Exupéry, v.v …
Dù học trường Pháp, được giáo dục theo chương trình Pháp, Sơn và thế hệ anh đều cùng chứng kiến đất nước bị chia cắt, sông Bến Hải làm lằn mức phân ranh Bắc Nam. Một lần nữa, anh và thế hệ của anh chưa phải là những kẻ chịu trách nhiệm trực tiếp về tình trạng đau thương đó. Bởi anh chưa đủ trí khôn để tìm hiểu lý do tại sao lớp cha anh mình cầm súng bắn vào nhau, coi nhau như thù địch.
Sau hiệp định Genève cuộc chém giết tạm ngưng không lâu, tổng tuyển cử giữa hai miền được ấn định vào năm 1956 bị hủy bỏ, máu lại tiếp tục đổ, xác đồng bào tiếp tục ngã xuống. Sơn và thế hệ của anh lớn lên trong khung cảnh tưởng như thanh bình của chế độ Ngô Đình Diệm. Tất cả đều được nuôi dưỡng, giáo dục tại miền Nam, do chính quyền miền Nam đảm nhận. Chữ giáo dục ở đây tôi dùng theo nghĩa rộng, bao hàm cả hệ thống thông tin, tuyên truyền.
Một sự thật không ai có thể phủ nhận được, đó là chính quyền Ngô Đình Diệm đã tiếp nhận nửa phần đất bên này trong tay thực dân Pháp do sự dàn xếp của người Mỹ với một xã hội mà trong đó những giá trị cũ đã đỗ vỡ, hủy hoại. Bi đát là miền Nam không tìm thấy một hệ thống lý thuyết nào thay vào chỗ trống. Thật ra, chính quyền Ngô Đình Diệm cũng đã ý thức được sự thiếu hụt đó và đã nổ lực bù đắp bằng cách xây dựng một học thuyết, nhưng thực chất học thuyết đó chỉ là một sự mô phỏng và vay mượn chủ nghĩa Nhân Vị (Personnalisme) của Emmanuel Mounier.
Thực tế đã cho thấy chủ nghĩa Nhân Vị của chính quyền Diệm không đáp ứng được nhu cầu lịch sử dân tộc, không phù hợp với những biến chuyển chung của nhân loại, bao hàm như một tư tưởng chủ đạo làm nền tảng để quan niệm và tổ chức xã hội. Tuy nhiên, dù dụng tâm chủ yếu của chính quyền Ngô Đình Diệm là muốn rèn luyện cho thế hệ trẻ của mình một tinh thần chống Cộng, nhưng không thể phủ nhận nền giáo dục đó đã góp phần tạo được những ý hướng tốt đẹp như đề cao lòng yêu nước, tinh thần bất khuất chống xâm lăng và lãnh thổ Việt Nam là một dải đất hình chữ S chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, chứ không phải chỉ nửa nước với hình thù kỳ dị như đã được vẽ trên các bản đồ của các căn cứ quân sự Mỹ, hay trong sách giáo khoa bậc tiểu học do chính phủ Hoa Kỳ gửi tặng vào thời kỳ đó.
Dù chỉ đề cao bằng lời nói, những bài học đó cũng có một tác dụng thật vô cùng quan trọng và lâu bền trong tâm hồn những thế hệ trẻ ở miền Nam. Hình ảnh một Nguyễn Huệ, một Hoàng Hoa Thám, một Phan đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Trung Trực v.v… vẫn là hình ảnh chói sáng với gương anh hùng cứu nước.
Suốt thời kỳ đó, Sơn và những người cùng thế hệ với anh đã bị che đậy, bị cấm đoán để không biết gì về cuộc kháng chiến chống Pháp lần thứ hai mà trong đó những thế hệ cha anh họ tham dự. Họ không biết gì về miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ngoài những điều mà chính quyền Ngô Đình Diệm muốn họ biết.
Sơn cũng như nhiều đứa trẻ cùng tuổi khác, đã sống và lớn lên bên sông Hương, núi Ngự. Hằng ngày, nhìn thấy vết tích trên những thành quách cổ kính, cầu Tràng Tiền sáu vài mười hai nhịp, những chuyến đò ngang, những con đường chạy dài thẳng tắp với hai hàng cây long não lá xanh, những chùm phượng vỹ đỏ rực, những tà áo trắng, những chiếc nón lá nghiêng nghiêng ngày ngày cắp sách đến trường, những cơn mưa rả rích kéo dài… Bên tai Sơn vẫn nghe tiếng cầu kinh niệm Phật, tiếng chuông chùa buổi sáng buổi chiều, những câu hò nhịp nhàng từ giữa sông vọng lại càng làm Sơn đắm chìm trong thế giới mơ mộng, khát vọng của riêng mình. “Thuở ấy, tôi là một đứa bé thích ca hát. Mười tuổi biết solfège, chép lại những bài hát yêu thích đóng thành tập, chơi đàn mandolin và sáo trúc. Mười hai tuổi có cây đàn guitar đầu tiên trong đời và từ đó sử dụng guitar như một phương tiện quen thuộc để đệm cho chính mình hát”.
Ngày 17.06.1955, thân sinh Sơn đã cùng với ông Lộc Lợi và ông Lê Văn Tông (em trai mẹ Sơn) mỗi người mỗi xe trên đường đi Quảng Trị- Huế với kế hoạch mở rộng mạng lưới làm ăn. Trong khi ông đang điều khiển chiếc vespa trên đường thì bị một chiếc xe hàng đụng phải và ông đã mất mấy tiếng đồng hồ sau khi được chở đến bệnh viện.
Trước nay, tất cả kinh tế gia đình do cha anh đảm đương. Ông chính là trụ cột của gia đình. Mọi chu cấp cho anh và các em ăn học, một cuộc sống đầy đủ, có thể nói phong lưu hơn phần lớn những người cùng trang lứa với anh, nhất là ở một thành phố nhỏ và trầm lặng như Huế đều do một tay ông sắp xếp. Ngay từ thời đó, gia đình Sơn là gia đình đầu tiên có được một chiếc máy hát đĩa, khi thứ máy móc mới này bắt đầu xuất hiện. Cha mất, đối với Sơn là một biến cố quan trọng. Chính Sơn đã thú nhận: ”Thời thơ ấu tôi luôn luôn bị ám ảnh về cái chết. Trong giấc ngủ hằng đêm tôi thường thấy cái chết của ba tôi”.
Trong thời gian chịu tang cha, Sơn quy y ở chùa Phổ Quang, lấy pháp danh là Nguyên Thọ. Có thể trong nỗi đau mất mát quá lớn Sơn tìm đến Phật Tổ như một sự nương tựa của tâm hồn. Thực ra, đối với Phật giáo, Sơn vốn có duyên nợ. Theo như Sơn cho biết, ngay từ thuở bảy, tám tuổi, Sơn đã có thói quen một mình mang sách vở vào vườn chùa ngồi học, đọc sách, suy nghĩ hoặc tập ngồi chép kinh Phật bằng chữ Hán. Chính tư tưởng Phật giáo đã thấm dần trong máu huyết Sơn, giúp Sơn tiếp cận và thấu hiểu được cái tâm của mình, cái tâm của người, điều khó khăn nhất trong những điều khó khăn nhất của kiếp người.
Hết hè 1956, sau khi tốt nghiệp Tú tài 1 (Baäc 1) Sơn một mình vào Sàigòn học ban triết (classe Philo) ở Jean Jacques Rousseau. Từ đây, Sơn có những chuyến đi dài. Sơn không còn ở tuổi mười lăm non trẻ để phải mơ ước làm người lớn. Sơn có thể thực hiện cái mộng “ lãng du trong người, cứ lên đường và đi. Đi để có một khoảng cách với quê nhà, với tình yêu, đi để có một cái gì để lại phía sau. Đi để có những lá thư gửi về, để có thêm những nỗi nhớ nhung, những lời than thở”.
Sơn có một đặc tính nổi bật, đó là thích “ăn ngon mặc đẹp”. Có lẽ phát xuất từ quan niệm giáo dục của mẹ Sơn, một phụ nữ mang đặc trưng Huế quý phái và đảm đang. Đối với bà, bữa cơm khi được dọn lên bàn, không chỉ ngon, nhiều món mà còn phải đẹp, màu sắc thức ăn phải hài hòa mỹ thuật. Ngay từ năm học lớp chín (troisième) áo quần của Sơn lúc nào cũng thẳng nếp, giày bóng loáng, tóc chải láng mượt. Đi chơi, đi học và ngay cả khi ở nhà, khi ngồi vào bàn ăn đều rất lịch sự, tươm tất. Thói quen đó Sơn vẫn giữ cho đến khi mất. Do đó, những khi ốm đau trên giường bệnh, Sơn không thích ai đến thăm viếng. Sơn không muốn hình ảnh của mình không đẹp trong mắt người khác, nhất là với phụ nữ. Bởi vì đối với Sơn: ”Con người đẹp nhất đối với tôi là thiếu nữ, với những vẻ đẹp theo cách nhìn của tôi“. Và “(…) Bởi nó (nhan sắc-ST) làm cho con người thấy cuộc đời là đẹp, là đáng tồn tại để ngắm nhìn. Là thật đáng sống bởi vì không thể có một lời hứa hẹn thiên đường nào đòi hỏi con người phải yêu thương hơn nơi đây. Quê hương là em. Các em làm sinh nở cuộc đời. Và từ đó cuộc đời mới biết hát ca”.
Ở tuổi mới lớn, Sơn cũng có những mối tình lãng đãng, sương khói, hoàn toàn không có gì cụ thể. Dường như cả thế hệ của Sơn ở Huế đều như vậy, “yêu một mái tóc, một dáng hình, mỗi ngày chỉ cần nhìn thấy mặt nhau, thấy em qua khung cửa sổ là cả ngày thấy vui. Có khi đạp xe sau lưng em mà em không biết mình là ai, vẫn thấy vui như thường“ .
Về mặt cơ thể, Sơn có một đặc điểm không mấy người biết. Khác với chúng ta, Sơn có đến ba trái thận. Không biết sự khác biệt này có ảnh hưởng gì đến tính cách và năng lực của Sơn ? Có lẽ điều này phải nhờ đến những nhà chuyên môn giải thích. Có một điều trái ngược với suy nghĩ của nhiều người khi bắt gặp hình hài ốm yếu của Sơn sau này. Thời trai trẻ, Sơn có một thân hình rắn chắc, khoẻ mạnh, thích chơi thể thao. Sơn không chỉ luyện tập điền kinh, mà còn học cả Vô Vi Nam đến đai nâu.
Trong chuyến về thăm nhà giữa năm học, một lần Sơn dợt chơi với Hà, em trai kế của Sơn. Hà đã tung một đòn vai, Sơn ngã xuống sàn, cùi chỏ Hà vô tình đập vào ngực Sơn làm vỡ mạch máu phổi. Sơn phải nằm dưỡng bệnh hơn cả năm trời. Đây chính là nguyên nhân chuyển biến cuộc đời Sơn sang một hướng khác. Nói như Nguyễn Du:
Bắt phong trần phải phong trần
Cho thanh cao mới được phần thanh cao
Những ngày tháng trên giường bệnh, Sơn ngấu nghiến đọc Apollinaire, Marcel Pagnol, Jacques Prévert, Rabindranath Tagore, Marcel Proust, v.v… trước khi đọc Nietzsche, Nikos Kazantzakis, Albert Camus, Jean Paul Sartre, Heidegger, Merleau Ponti, … Sơn đặc biệt yêu thích những tác phẩm của Albert Camus, truyện Kiều của Nguyễn Du và triết lý Phật giáo. Sơn đọc đi đọc lại nhiều lần. Sơn không chỉ tiếp cận với văn học, thi ca mà còn mày mò, tìm hiểu dân ca Việt Nam, âm nhạc của người da đen: blues, gospel, v.v…
Sơn từng thổ lộ với một vài người bạn thân thiết của anh: “Khi rời khỏi giừơng bệnh, trong tôi đã có một một niềm đam mê khác – âm nhạc. Nói như vậy hình như không chính xác, có thể những điều mơ ước, khát khao đó đã ẩn chứa từ trong phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, trổi dậy” .
Trong một bài viết, Trịnh Công Sơn đã khẳng định con đường anh đã đi trong quá khứ: “Tôi không đến với âm nhạc như một kẻ chọn nghề. Tôi nhớ mình đã viết những ca khúc đầu tiên từ những đòi hỏi tự nhiên của tình cảm thôi thúc bên trong… Đó là những năm 56-57, thời của những giấc mộng ngổn ngang, của những viễn tưởng phù phiếm non dại. Cái thời tuổi trẻ xanh mướt như trái quả đầu mùa ấy, tôi rất yêu âm nhạc nhưng tuyệt nhiên trong tôi không hề gợi lên cái ham muốn trở thành nhạc sĩ…”
“Dạo ấy ba tôi mất, mẹ tôi ở xa, tôi một mình giữa Sàigòn này phải tự quyết định mọi chuyện về đời mình. Cái gánh đời tuổi tác còn quá nhẹ. Có lúc tôi bỏ dở cái trò lãng mạn viết lách này với nỗi ám ảnh ngu ngốc “xướng ca vô loại”. Tôi trằn trọc đêm này qua đêm khác, ray rứt ngày này qua tháng nọ. Nhưng càng cố lãng quên thì tiếng hát trong tôi càng vang lên rõ rệt, tràn ngập cả lúc đứng ngồi, cả trong giấc ngủ.”
“Dần dà những năm về sau, mới bắt đầu hình thành trong tôi một quan niệm rõ rệt: sống là sống với người khác và muốn có cảm thông chúng ta phải luôn luôn diễn đạt mình. Trong những cách diễn đạt bằng tiếng nói, bằng chữ viết và nhiều phương tiện khác, tôi thấy tâm hồn mình có khuynh hướng nghiêng về phía ca khúc. Trên mảnh đất nghệ thuật nhỏ nhắn này, tôi tìm thấy tự do và tôi nghĩ rằng ở nay tôi có thể bày tỏ được với người khác về những niềm vui nỗi buồn của cuộc sống”.
Vào thời điểm này, Trịnh Công Sơn sắp bước qua tuổi mười chín. Hành trang của anh nặng trĩu trên đôi vai và trong trái tim cả một tuổi thơ đi qua trong chiến tranh. Trước mặt anh, không gian mở rộng dần, cuộc chiến tranh tàn khốc tiếp nối sẽ phủ chụp xuống thân phận của đồng bào anh và của chính anh. Các vấn đề của cuộc sống, của chiến tranh, của con người, của thời đại đan chen vào nhau, tác động giao thoa đã hình thành nơi Trịnh Công Sơn một nhân cách đặc biệt trước khi chính thức nhập cuộc. Anh sẽ sống như thế nào và làm gì để chứng minh sự hiện hữu của mình trước cuộc đời ?

Gài độ