21/03/2010

Về những người suốt ngày chỉ nhìn xuống chân ghế

Tác giả: Trực Ngôn
.........................................................
"Ông ơi, nhanh lên kẻo hết ghế..."
Giống như một cảnh trong phim Mỹ về Ngày tận thế, các con đường từ thành phố chạy ra ngoại thành kẹt cứng xe hơi. Nhưng đây là con đường hướng về đền Trần trong ngày lễ Khai ấn. Những ai ở trong những chiếc xe hơi trên con đường chen chúc dài dằng dặc kia? Chúng ta có thể dễ dàng trả lời: chủ yếu là cán bộ nhà nước vốn đã có ít nhiều quyền này chức nọ. Vì công chức quèn hay nông dân thì chẳng có mấy người có lý do đến đó trong cái ngày ấy.



Chen nhau đến đền Trần ngày khai ấn mong thánh thần ban chức quyền. Ảnh minh họa, nguồn dantri.com.vn
Trước cảnh tượng này, Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Việt Nam học, đã phải kêu lên: "Hám tiền" và "mê quyền" xét cho cùng cũng là một thôi và xem ra ở cái vế thứ hai này, khát vọng còn cháy bỏng hơn nhiều. Điều này giải thích tại sao lễ Khai ấn đền Trần lại có lắm người háo hức đến thế".
Có lẽ vì mê quyền quá như Giáo sư Nguyễn Quang Ngọc nói, nên họ lú lẫn tin rằng đến đền Trần trong ngày Khai ấn là hiển nhiên xin được một chức quan. Chẳng lẽ họ không có đủ nhận thức để hiểu rằng làm gì có Thánh có Thần nào phù hộ cho họ chuyện ấy. Nhưng vì tham quá, ham quá mà họ sẵn sàng làm mọi cách để có được thứ họ thèm khát.
Tôi đã từng chứng kiến lãnh đạo của một cơ quan văn hoá quỳ sụp trước trâu giấy, ngựa giấy, vàng mã, nhang nến... vái lấy vái để. Người viết sớ cho ông lãnh đạo này kể rằng ông ấy gạt khỏi tờ sớ tất cả những nội dung không liên quan đến việc ông ấy thăng quan tiến chức.
Lái xe của một ông vụ trưởng thì kể rằng: anh phải dậy từ hai giờ sáng để đưa thủ trưởng đi đền Trần. Vì đã có tuổi nên ông vụ trưởng lục sục mãi mà chưa ra khỏi nhà được. Bà vợ sốt ruột quá bèn gọi "Ông ơi, nhanh nên kẻo hết ghế". Xin thưa, bi hài thay, không phải hết ghế trong rạp hát, trong sân vận động quốc gia Mỹ Đình... mà là hết "ghế quan".
Những câu chuyện nói trên nghe xong mà cười ra nước mắt. Không nhẽ lẽ sống cả đời người chỉ là thế sao? Những cán bộ như thế thử hỏi mang lại cho dân cho nước những gì?
Lạy các Thần, các Thánh, con chẳng dám xin điều gì to tát. Con chỉ xin Thánh, Thần nói cho con biết những gì con đang hỏi.

Về những người suốt ngày chỉ nhìn xuống chân ghế
Trong Bàn tròn trực tuyến với nội dung bàn về nhân sự là những Uỷ viên Trung ương cho Đại hội Đảng lần thứ XI, nguyên Thứ trưởng, Tiến sỹ Mai Liêm Trực lên tiếng: "Tôi nghĩ bức xúc của cuộc sống đã đủ nhiều để những người phần nào nguội lạnh phải xem lại mình. Những cán bộ hôm nay đang được hưởng những thành quả mà nhiều thế hệ đã làm nên. Nhà cửa có rồi, lương bổng sống thế cũng tạm ổn. Lý do gì chúng ta phải lo thu vén cá nhân? Đến nỗi nào mà còn phải lo mất ghế của mình, để hàng ngày phải nhìn xuống chân ghế? Tại sao không có dũng khí như các thế hệ cha anh đã làm cho sự nghiệp này của Đảng và của dân tộc chúng ta".



Ghế ơi, chân còn hay mất???
Ảnh minh họa, nguồn adviet.com
Đây là một phát ngôn vô cùng ấn tượng và đầy trách nhiệm. Phát ngôn đó cho thấy một hiện thực mà người đời vẫn gọi theo cách nói chuyện võ thuật là thế "thu mình giữ ghế". Nhưng bây giờ cũng như mọi lúc, Đảng luôn luôn cần những Uỷ viên Trung ương của mình như những chiến sỹ tiên phong trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước.
Trước kia, các đảng viên càng giữ vị trí cao trong Đảng càng phải đứng mũi chịu sào trước mọi khó khăn gian khổ của đất nước. Họ thật sự là những tấm gương chói ngời để xã hội tôn kính và biết ơn. Ngày nay, có những ông chỉ mới là chủ tịch huyện đã ung dung cưỡi một chiếc xe giá cả nghìn con trâu. Thế mới có thơ trào phúng mấy năm trước in trên báo nói về Chủ tịch huyện cưỡi nghìn trâu đi làm.
Có phải vì làm quan thời nay có quá nhiều bổng lộc mà có những ông vụ trưởng vợ giục chạy nhanh đến đền Trần không thì hết ghế? Với những cán bộ chỉ lo kiếm ghế, chiếm ghế và ngày ngày "chỉ nhìn xuống chân ghế" thì đất nước, nhân dân đợi đến bao giờ mới có thể ngước lên cao được???


---------------
tranhung09

Cả nước "vào cầu", toàn dân "đánh quả"?

"Hám tiền" và "mê quyền" xét cho cùng cũng là một thôi và xem ra ở cái vế thứ hai này, khát vọng còn cháy bỏng hơn nhiều. Điều này giải thích tại sao lễ Khai ấn đền Trần lại có lắm người háo hức đến thế" - GS. Nguyễn Quang Ngọc, Viện trưởng Viện Việt Nam học, Chủ tịch Hội Sử học Hà Nội.
Lễ khai ấn không phải lễ... thưởng công
- Thưa GS, lễ Khai ấn đền Trần có nguồn gốc từ đâu?
Lễ Khai ấn là tục lệ cổ mở đầu ngày làm việc chính thức đầu tiên của triều đình trong một năm mới. Thời đó ta ăn Tết không chỉ trong 3, 4 ngày, mà còn tham gia lễ hội, du xuân... kéo dài đến tận rằm tháng giêng. Kết thúc năm cũ là nghi lễ đóng ấn, và lễ khai ấn vào rằm tháng giêng khi triều đình chính thức trở lại với các công việc hành chính.
Sở dĩ nghi lễ này gắn với đền Trần bởi vùng Tức Mặc chính là kinh đô thứ hai của đất nước dưới triều Trần, nơi Thái thượng hoàng (sau một thời gian làm vua, muốn bồi dưỡng thế hệ trẻ nên giao lại ngai vàng cho con) lui về Tức Mặc nhưng vẫn cùng với vị vua trẻ mới nối ngôi tiếp tục điều hành công việc của đất nước. Lễ khai ấn tổ chức ở đây để Thái thượng hoàng - người vẫn giữ quyền hành cao nhất - chứng kiến, cả triều đình cùng hy vọng một năm mới nhiều thuận lợi và thành công.
Ông Nguyễn Quang Ngọc. Ảnh: Khánh Linh
- Chứ không phải lễ khai ấn còn là dịp mừng chiến thắng quân Nguyên Mông, nơi quan quân được thăng chức, được ban thưởng?
Nói là mừng thắng trận thì phải biết cụ thể là trận thắng nào. Trận thứ nhất ta thắng lớn vào ngày 24 tháng Chạp năm 1257 (tức 29 tháng 1 năm 1258), trận thứ hai ta thắng to vào ngày 20 tháng 5 (tức 24 tháng 6) năm 1285, con trận thứ ba ta đại thắng ở Bạch Đằng vào ngày 8 tháng 3 (tức 9 tháng 4) năm 1288. Những ngày này cả âm dương lịch đều không có liên quan gì đến Rằm tháng Giêng phải không?
Người ta cũng có thể nghĩ rằng lễ mừng thắng trận sẽ được tổ chức sau ngày chiến thắng một ít ngày. Nếu tính như thế thì hai chiến thắng lần 2 và lần 3 (một vào tháng 5 năm 1285, một vào tháng 3 năm 1288), sau Rằm tháng Giêng đến mấy tháng, chắc chắn không thể tính vào đây được. Chỉ còn chiến thắng lần thứ nhất vào 24 tháng Chạp (1257) và được vua Trần Thái Tông tổ chức lễ mừng công ngay khi trở về kinh đô Thăng Long vào ngày mồng một Tết (1258). Sự kiện này nếu được lấy làm kỷ niệm thì cũng không có liên quan gì đến ngày Rằm tháng Giêng tại Thiên Trường.
Nói như thế để biết rằng lễ Khai ấn ở đền Trần vốn không phải là lễ mừng thắng trận hay thưởng công của vua Trần sau đại thắng quân Mông - Nguyên, mà chỉ đơn giản là nghi lễ đánh dấu ngày đầu tiên triều đình chính thức trở lại làm việc sau một thời gian nghỉ Tết dài, ngày mở đầu làm việc hanh thông và hiệu quả, hứa hẹn một năm làm việc thành công.
Cần nói thêm là triều đình nhà Trần cũng chú trọng sự đơn giản, tiết kiệm. Lễ khai ấn chỉ tổ chức lớn vào những năm Tý - Ngọ - Mão - Dậu, tức là 3 năm mới tổ chức lớn một lần thôi, chứ không phải năm nào cũng đại lễ cả đâu!
- Các triều đại sau này có thực hành nghi lễ Khai ấn không, thưa GS?
Tôi không thấy sử ghi chép. Có thể dự đoán các triều đại sau vẫn có, nhưng tổ chức dưới hình thức khác chăng? Đời Trần do có hai kinh đô, trong đó Tức Mặc khiêm nhường hơn nhưng lại là nơi quyết định, nơi Thái thượng hoàng có thể gọi vua về dạy dỗ, chấn chỉnh.
Từ một nghi lễ của triều đình, sau này lễ Khai ấn đã thành phong tục truyền thống của địa phương. Theo đó, 7 làng ở khu vực xung quanh Tức Mặc (làng Vọc, làng Lốc, làng Hậu Bồi, làng Bảo Lộc, làng Kênh, Làng Bái và làng Tức Mặc) rước kiệu các vị thần trở về tụ họp ở đền Thượng để tế các vua Trần. Nghi lễ Khai ấn được tổ chức rất trang nghiêm tại sân đền Thượng. Như thế, theo truyền thống thì chỉ có 7 làng tham gia lễ Khai ấn đền Trần, chứ không phải cả tỉnh Nam Định, càng không phải cả nước như bây giờ.
Chỉ là lễ xin chức, xin tiền?
Ta bảo tồn, đổi mới, phát huy giá trị của các thuần phong mỹ tục cổ truyền phục vụ cho cuộc sống hiện đại thì hết sức có ý nghĩa, nhưng để các nghi lễ, phong tục truyền thống bị biến dạng thành lễ cầu xin chức tước; rồi người tứ xứ đổ về, chen chúc, dẫm đạp, giầy xéo lên nhau, tranh cướp nhau, nhiều khi cái dồn toàn bộ sức bình sinh ra để cướp được ấy lại chỉ là của dởm!. Các bậc đế vương anh hùng của một thời "hào khí Đông A" làm nên "non sông muôn thuở vững âu vàng" có bao giờ tưởng tượng ra con cháu họ ở đầu thế kỷ XXI lại đến đận này không?
- Lễ hội đầu năm rất nhiều, tại sao lễ Khai ấn lại bị lạm dụng đến mức ấy?
Từ khi chúng ta xóa bỏ cơ chế quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường, có hai loại lễ hội phát triển đột khởi, trở thành có quy mô cực lớn. Đó là lễ hội xin tiền và lễ hội cầu quyền.
Trước tiên là lễ hội xin tiền. Như bà chúa Kho tương truyền là người giữ kho quân lương phục vụ kháng chiến chống Mông-Nguyên thời Trần. Sau này có nguồn cho là bà chúa thời Lý, nhưng theo tôi là thời Trần. Từ người giữ kho quân lương, giờ lại thành bà chúa quản lý tài lộc cả trên trời dưới biển, ai muốn ăn ra làm nên thì đầu năm đến "vay" bà, rồi cuối năm đến "trả".
Đã vay thì phải trả, trả rồi lại tiếp tục vay, chưa giàu thì xin được giàu, giàu rồi thì muốn giàu thêm nữa, muốn thu hết của cải xã hội về cho riêng mình. Rồi không chỉ xin bà chúa Kho mà xin rất nhiều bà chúa khác, đến đâu cũng chỉ xin tiền và xin giàu thôi. Ai mà chẳng thích giàu nhỉ, nhưng phải là giàu bằng tài năng, công sức của mình, chứ chỉ đi xin thôi mà thành giàu, thì xem ra quá viển vông.
Cầu tài vẫn chưa đủ đâu, phải có chức cao lộc hậu mới là mục đích cao sang của cuộc đời. Người ta thực tin cứ có chức là có tiền, càng chức to càng nhiều tiền, lại còn là danh dự của bản thân, gia đình, dòng họ, quê hương... nữa chứ. Chỉ có tiền thì đôi khi cũng bị coi thường là trọc phú, là "ít" văn hóa, nên không ít người khi đã có tiền rồi thì tính chuyện "đầu tư" cho chức, vì có chức là có quyền và có quyền thì sẽ có nhiều tiền hơn.
Thậm chí nhiều người thực tin hướng đầu tư này là "phát triển nhanh và bền vững" và "hiệu quả rất cao" nữa kia. Vậy thì "hám tiền" và "mê quyền" xét cho cùng cũng là một thôi và xem ra ở cái vế thứ hai này, khát vọng còn cháy bỏng hơn nhiều. Điều này giải thích tại sao lễ Khai ấn đền Trần lại có lắm người háo hức đến thế.
Nếu muốn trở thành có vai trò, vị thế thì hãy phấn đấu, làm việc hết mình để chứng minh khả năng của bản thân. Chức vụ sẽ rất vinh quang nếu phản ánh đúng tài năng, đức độ, cống hiến, trình độ của chính mình. Nếu chức vụ mà xin được thật thì dù có được ngồi chễm chệ trên ngôi cao cũng chỉ là thứ bố thí mà thôi, nào có vinh quang gì.
Khách thập phương nô nức kéo về đền Trần dự lễ khai ấn. Ảnh: haihau24h.com
Xin lãnh đạo đừng bật đèn xanh cho tiêu cực
- Có người lý giải người dân đổ xô đến lễ hội vì tâm lý xã hội hoang mang, còn quan chức đến lễ hội vì sao?
Theo tôi, quan chức đến lễ Khai ấn đền Trần vì nhiều lý do, trong đó có chuyện hiểu nhầm đây là lễ hội của chức tước. Tôi thấy lạ là những lễ hội bị biến tướng như thế, nhưng ngành văn hóa-du lịch lại không bày tỏ chính kiến. Hình như chính họ còn muốn khai thác tâm lý cần chức, cần tiền của xã hội để kéo "cả nước vào cầu, toàn dân đánh quả" thì phải?
Người dân dù ở tầng lớp nào, nếu đến lễ hội với mục đích xin chức, xin tiền thì đa phần sẽ thất vọng. Không lẽ tất cả đều được lên chức, tất cả sáng mai ngủ dậy là có một đống tiền. Cuối cùng thì cũng đành phải tự an ủi mình rằng "không được cái nọ thì được cái kia"; các cụ đời xưa còn nói "tả tơi xem hội" cơ mà. Đến cả cái "tả tơi" này mà cũng còn phải mua bằng tiền thật nữa đấy!
Lỗi lớn nhất, theo tôi, thuộc về những cơ quan tham mưu, những người tư vấn cho các lãnh đạo. Nếu có những tư vấn chính xác, lãnh đạo sẽ quyết định đúng việc có nên đến lễ hội này hay có thể từ chối lời mời đến lễ hội kia. Nếu lễ hội tổ chức theo phong tục truyền thống, có ý nghĩa khuyến khích động viên phát huy truyền thống văn hóa của dân tộc, thì lãnh đạo cần phải đến chứ? Đằng này, có khi chính những người tư vấn lại giải thích sai về lễ Khai ấn là lễ phong chức, phong thưởng không chừng?
- Vậy là theo GS, câu chuyện lễ Khai ấn đền Trần có thể chấn chỉnh từ đâu?
Trách nhiệm đầu tiên thuộc về các các cơ quan văn hóa và cơ quan du lịch (nay đã về dưới mái nhà chung). Trước hết là phụ trách văn hóa của tỉnh, sau là văn hóa trung ương. Họ phải chịu trách nhiệm về sự được - mất của các lễ hội. Họ phải biết dựa vào lực lượng làm chuyên môn chân chính để chấn chỉnh ngay những lệch lạc trong tổ chức hoạt động lễ hội.
Các nhà lãnh đạo phải biết khai thác và sử dụng những người làm chuyên môn thực sự để có những quyết định đúng. Việc làm của lãnh đạo dù lớn hay nhỏ cũng đều tác động đến người dân. Như câu chuyện cụ thể của đền Trần, nếu tổ chức đúng như nghi lễ mở đầu một năm làm việc mới với những hy vọng tốt đẹp, thuận hoà, hanh thông thì rất cần đến sự có mặt của các nhà lãnh đạo. Nhưng nếu chỉ là xin chức, xin quyền thì có lẽ các vị không nên tới, vì chắc gì đã được, mà lại không khỏi gây ra tâm lý hoài nghi, với cái nhìn phản cảm của dân chúng về ngay cái chức vụ và địa vị mà các vị đang nắm giữ.
Trong xã hội Việt Nam truyền thống, lễ hội là trung tâm và là đỉnh cao của sinh hoạt văn hoá cộng đồng. Đến với lễ hội dường như mọi mong muốn của con người đều được thoả mãn, mọi tài năng của con người đều được bộc lộ, con người được sống hết mình, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn... Lễ hội là sự thăng hoa làm quên đi tất cả mọi lo toan vất vả của cuộc sống đời thường.
Đành rằng xã hội đã thay đổi, nhưng lễ hội truyền thống với các giá trị của nó vẫn rất cần cho con người và cộng đồng. Tùy tiện thay đổi lễ hội theo mục tiêu kiếm tiền và kiếm quyền sẽ gây ra tổn hại không thể lường hết được cho chính lễ hội, cho cả văn hoá và con người Việt Nam. Xin đừng bật đèn xanh cho tiêu cực

Khánh Linh

Xem thêm:
Đừng biến tín ngưỡng thành cuồng si
Nguồn: TuanVietnam

----------------

Từ chuyện người chèo bè nghĩ về lòng tự trọng dân tộc

Tác giả: Nguyễn Quang Thiều
Một doanh nghiệp không có lòng tự trọng sẽ không bao giờ làm nên thương hiệu. Bởi thiếu tự trọng, họ sẽ cho ra đời những sản phẩm của sự vô trách nhiệm. Và những sản phẩm như thế sẽ không bao giờ tồn tại lâu dài hay có khả năng chinh phục xã hội. Một dân tộc không có lòng tự trọng sẽ mãi mãi phụ thuộc như một thứ nô lệ vào dân tộc khác. Một dân tộc không có lòng tự trọng không có khả năng hiện thực hoá giấc mơ độc lập, tự do, văn minh và phồn thịnh của mình. Một dân tộc đánh mất lòng tự trọng trước sau sẽ dẫn đến mất nước mà lại không hề hay biết gì.
Mới đây, một bài báo trên Vietnamnet kể về một thanh niên làm nghề chèo bè chở khách du lịch ở thác Bản Giốc khi được khách cho thêm tiền đã không nhận. Câu chuyện tưởng như rất bình thường nhưng đã làm không ít người đọc xúc động. Lý do làm cho người chứng kiến hành động của người thanh niên kia phải cầm bút viết một bài báo khá dài và làm cho người đọc xúc động có lẽ bởi lâu nay lòng tự trọng của chúng ta đã và đang bị đánh mất trong cuộc sống thường nhật.
Lâu nay, việc người ta tìm cách để " móc túi" người khác một cách phi lý và không một chút áy láy lương tâm như đã trở thành lẽ tự nhiên. Một sự thật mà hầu hết những người Việt Nam đều biết là cứ thấy ai là người nước ngoài thì rất nhiều những người tham gia làm dịch vụ du lịch từ khách sạn, nhà hàng đến xích lô, bán hàng lưu niệm... đều tìm cách lấy được từ những khách du lịch ngoại quốc này thêm đồng nào hay đồng ấy mà không cần nghĩ đến những ảnh hưởng xấu của việc làm đó.
Sự "khôn lỏi" và sự "ăn xổi" để kiếm thêm một hai đồng lẻ chỉ riêng trong khu vực của những người tham gia làm các dịch vụ du lịch đã đánh mất đi những lợi ích lớn hơn rất nhiều và có tính lâu dài. Nó cho thấy chúng ta thiếu tư cách của những chủ nhân và thiếu một tư duy chiến lược cho sự phát triển lĩnh vực mình kinh doanh.
Một lần, tôi thấy hai thanh niên đi hát rong mà chúng ta vẫn thường gọi là "ăn mày" đứng hát trước một quán cà phê. Họ ăn mặc sạch sẽ, có hệ thống âm thanh khá tốt, thuộc nhiều bài hát và hát khá đúng nhạc. Có những người dè bỉu họ  "ăn mày" còn chơi sang. Nhưng tôi có suy nghĩ khác. Tôi gọi họ là "những người hát rong". Cho dù nghề hát rong kiểu này ở xã hội chúng ta vẫn coi là "ăn mày". Họ đứng hát nhưng không cầm cái mũ như thông thường dúi vào tay khách hay kỳ kèo ép khách phải cho tiền.
Họ biểu diễn thực thụ cho dù chỉ là những người hát rong. Sự lao động một cách chân chính và trong sạch của họ đã chiếm được cảm tình của rất nhiều người uống cà phê ở đó. Nhiều người uống cà phê nói với họ hãy thường xuyên đến quán cà phê đó hát. Những người uống cà phê này không phải là những người mê giọng hát hay phong cách biểu diễn của họ hơn những ca sỹ chuyên nghiệp hay các DIVA trong nước mà là có cảm tỉnh với thái độ lao động của họ.
Tôi đã hỏi hai thanh niên kia cần gì mà họ phải ăn mặc nghiêm chỉnh như thế, chuẩn bị đồ nghề kỹ như thế và có một "chương trình biểu diễn" khá phong phú như thế. Họ trả lời "Làm gì cũng phải cho đàng hoàng. Đói cho sạch, rách cho thơm chú ạ". Đấy chính là lòng tự trọng. Nếu không có lòng tự trọng ấy thì hai thanh niên "ăn mày" kia không được những người uống cà phê có cảm tình như thế. Lòng tự trọng của hai thanh niên "ăn mày" đã làm ra tư cách và thương hiệu của họ. Những người uống cà phê ở đó đã gọi họ là Ban nhạc hai chàng trai.
Trên đây là những câu chuyện rất nhỏ của những cá nhân bé nhỏ trong xã hội. Nhưng câu chuyện của họ chính là câu chuyện về lòng tự trọng cho cả một quốc gia. Bản chất của vấn đề ấy không có gì khác giữa một cá nhân vô danh và một quốc gia cho dù rộng lớn đến nhường nào. Lòng tự trọng hay nói một cách khác là tư cách của một con người hay một quốc gia không phụ thuộc vào sự giàu ngèo của cá nhân đó hay quốc gia đó trong một giai đoạn nào đó.
Trong những năm tháng chiến tranh, con người Việt Nam phải chịu biết bao mất mát, đau thương và sống trong đói ngèo, nhưng cũng trong những năm tháng ấy, lòng tự trọng của những cá nhân con người Việt Nam cho đến lòng tự trọng của dân tộc Việt Nam đã làm nên tư cách của mình. Một người trốn tránh nghĩa vụ của mình đối với tổ quốc như đóng thuế, tham gia quân đội... sẽ là sự hổ nhục của cả gia đình, dòng họ và cũng là sự hổ nhục của cộng đồng nhỏ anh ta sinh sống trong đó như làng xóm hoặc khối phố.
Nùng Mạnh Hùng - người chèo đò tự trọng dưới chân thác Bản Giốc. Ảnh: K.Trung
Có những đứa trẻ hồi đó nhặt được một chiếc bút chì hay một viên tẩy của bạn học cùng lớp nhưng không muốn trả lại đã bần thần suốt đêm chờ sáng hôm sau đến lớp thật sớm để lại những vật ấy vào bàn của người bạn có những vật ấy bị mất. Nhưng bây giờ, trong một đời sống vật chất có thể nói được cải thiện gấp cả trăm lần thì lòng tự trọng kia lại giảm đi cả trăm lần. Chúng ta từng chứng kiến có những người vi phạm luật pháp và ăn cắp tài sản của Nhà nước, của Nhân dân mà vẫn sống với thái độ như chẳng có chuyện gì.
Cách đây mấy năm, báo chí nói về một cán bộ quản lý phạm tội tham nhũng khi bị Toà tuyên án vẫn "nở" một cái cười như chẳng có chuyện gì thậm chí là một cái cười nghênh ngang. Đó chính là một cú đấm thẳng mặt của sự xỉ nhục vào lòng tự trọng của toàn xã hội. "Cái cười" của kẻ ăn cắp đó tựa như lời tuyên bố láo xược và như một thách thức trắng trợn của một lối sống phi nhân cách trước xã hội. Trước kia, một người ăn cắp một ổ trứng gà bị phát hiện đã bỏ làng đi vì xấu hổ. Ngày nay, có những người ăn cắp hàng chục tỷ đồng của tập thể vẫn "nhe răng cười". Sự thật này nói với chúng ta một cách rõ ràng và logic rằng: lòng tự trọng của xã hội đang bị đưa ra làm trò cười.
Pháp luật của Nhà nước đã không tha cho những hành động phạm pháp như thế. Nhưng chúng ta phải nhận thức ngay rằng: lòng tự trọng hay nói cách khác là nhân cách sống của xã hội đã và đang bị nhạo báng và phá vỡ ở những chỗ nào đó rất quan trọng trong cấu trúc đạo đức xã hội. Một bác sỹ bạn tôi đã nhận xét những "Cái cười" kia theo "bệnh nghề nghiệp" của mình là: Những vi khuẩn gây bệnh chỉ có thể ngang nhiên hoạt động trong một môi trường thiếu trong sạch.
Và đến lúc này, chúng ta phải vứt đi lòng tự ái vặt để nói với nhau rằng:  Môi trường  sống của xã hội chúng ta đang có những vấn đề nhiễm độc trầm trọng. Chúng ta chỉ lấy ví dụ về hai thành phần của xã hội ở mọi quốc gia là thầy thuốc và thầy giáo. Đấy là hai thành phần mà cái xấu khó xâm nhập nhất. hai thành phần này là đại diện cho nhân cách của mọi quốc gia. Nhưng khoảng mươi năm trở lại đây, có những hình ảnh của thấy thuốc và thầy giáo đã làm cho cả xã hội kinh hoàng.
Một giám đốc bệnh viện nói: số y, bác sỹ nhận tiền của bệnh nhân chỉ là con sâu bỏ rầu nồi canh. Một cán bộ quản lý giáo dục nói: số thầy, cô đánh đập học sinh, đổi tình lấy điểm... chỉ là những con sâu bỏ rầu nồi canh. Đúng vậy. Tỷ lệ theo số đếm của những thầy thuốc, thầy giáo mất nhân cách chiếm rất nhỏ so với số lượng thầy thuốc và thầy giáo hiện có. Nhưng thưa các vị, tỷ lệ của sự suy đồi thì tăng vọt. Nó cho thấy số lượng những con người suy đồi trong hai thành phần đặc biệt nhất của xã hội đang tăng lên còn mức độ suy đồi thì còn tăng hơn nữa. Chẳng lẽ  hiện thực này không nói với các vị một điều gì ư?
Đấy là những ví dụ cụ thể về lòng tự trọng của con người mà chúng ta có thể quy thành tội theo các điều khoản của luật pháp. Nhưng bên cạnh đó, sự thiếu tự trọng của chúng ta còn thể hiện ở nhiều nơi trong đời sống xã hội cho dù sự thiếu tự trọng đó chưa kết thành tội. Đó chính là một lối sống cẩu thả và bừa bãi mà mỗi người chúng ta nhắm mắt lại cũng có thể liệt kê ra một con số không nhỏ. Những điều đó được thể hiện trong lối sống và trong thái độ ở các công sở, ở rạp hát, ở công viên, ở đường phố, ở bến tàu, bến xe... và ở ngay cả những chốn linh thiêng như đền, chùa hay các di tích văn hoá và lịch sử khác.
Tôi có nói đến lòng tự trọng sẽ làm nên nhân cách và thương hiệu của con người đó, của công ty đó hay của quốc gia đó. Sự cố của Toyota vừa qua đã đánh vào lòng tự trọng lớn nhất của những người thực sự có trách nhiệm của Hãng xe hơi lớn nhất thế giới này. Chính lòng tự trọng của người Nhật đã làm nên thương hiệu đó. Và cũng chính vì sự thiếu trách nhiệm trong một lúc nào đó đã làm cho thương hiệu của họ bị đổ vỡ qúa lớn. Trách nhiệm cũng chính là một yếu tố đặc biệt quan trọng làm nên lòng tự trọng. Một tập đoàn khổng lồ như Toyota mất vài tỷ đô la không làm cho ông Chủ tịch tập đoàn khóc. Ông đã khóc vì thương hiệu của tập đoàn đã bị đổ vỡ. Hay nói cách khác, lòng tự trọng của ông và những người làm nên danh tiếng của Toyota đã bị vấy bẩn.
Một doanh nghiệp không có lòng tự trọng sẽ không bao giờ làm nên thương hiệu. Bởi thiếu tự trọng, họ sẽ cho ra đời những sản phẩm  của sự vô trách nhiệm. Và những sản phẩm như thế sẽ không bao giờ tồn tại lâu dài hay có khả năng chinh phục xã hội. Một dân tộc không có lòng tự trọng sẽ mãi mãi phụ thuộc như một thứ nô lệ vào dân tộc khác. Một dân tộc không có lòng tự trọng không có khả năng hiện thực hoá giấc mơ độc lập, tự do, văn minh và phồn thịnh của mình. Một dân tộc đánh mất lòng tự trọng trước sau sẽ dẫn đến mất nước mà lại không hề hay biết gì.


Một comment trên Bog Quê choa về bài này:

“Một dân tộc không có lòng tự trọng không có khả năng hiện thực hoá giấc mơ độc lập, tự do, văn minh và phồn thịnh của mình. Một dân tộc đánh mất lòng tự trọng trước sau sẽ dẫn đến mất nước mà lại không hề hay biết gì.”
————————-
Bài viết lương thiện có lòng trăn trở với vận mệnh đất nước, cảm hơn tác giả.
Giá mà đoạn cuối tác giả đổi “dân tộc” bằng “chế độ” hoặc “nhà nước” hoặc nói thẳng ra “đảng”, thì chính xác hơn. Thể chế hay nhà nước hay đảng nằm trong đoạn văn đó không nhất thiết phải được hiểu là chống báng chính thể hiện tại, mà có thể hiểu là các từ đó gần với chủ thể là một chính phủ đang cai quản một số lượng dân chúng trên một lãnh thổ và có hiến pháp, luật lệ. Chủ thể đó chịu trách nhiệm đối với những gì xảy ra với dân tộc trong giai đoạn nó cầm quyền.
Vậy thì thay thử xem sao:
“Một nhà nước không có lòng tự trọng không có khả năng hiện thực hoá giấc mơ độc lập, tự do, văn minh và phồn thịnh của mình. Một nhà nước đánh mất lòng tự trọng trước sau sẽ dẫn đến mất nhà nước mà lại không hề hay biết gì.”
qx


----------------

11/03/2010

Yêu nước phải thương dân


Truyền thống:
Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã đánh thắng mọi bè lũ xâm lược, dù từ đâu đến, chỉ có đói nghèo vẫn chưa thắng nổi. Thế kỷ 13, giặc Nguyên Mông 3 lần đưa quân vào xâm lược nước ta đều thảm bại. Giang sơn, bờ cõi đã vẹn toàn, thuật giữ nước của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn: “Lúc bình thì khoan sức cho dân để làm kế sâu rễ bền gốc” đã mang lại cơm no áo ấm cho dân, bồi dưỡng sức dân sau nhiều năm chiến tranh. Hưng Đạo Vương là vị danh tướng đệ nhất nước Nam, và sau chiến thắng vĩ đại, ông vẫn sống thanh bạch, gần dân, hết lòng vì dân.

Mất nước vì bọn tham quan ô lại
Sau khi Hưng Đạo Vương mất, bọn gian thần nổi lên gạt bỏ mọi người tài đức và chúng ra sức bóc lột dân. Đến đời vua Trần Dụ Tông (1341-1369), triều đình tối ngày rượu chè, sa đoạ, dân phải đóng sưu cao thuế nặng, còn phải làm lao dịch xây cung điện, đào hồ đắp núi. Vua cho gọi các nhà giàu vào trong điện để đánh bạc, còn khuyến khích bọn tham quan ô lại thi nhau uống rượu, ai uống được nhiều thì thăng chức. Nhà danh nho Chu Văn An thấy chính trị bại hoại làm sớ dâng lên xin chém bảy tên gian thần đã sống xa hoa, hưởng lạc trên mồ hôi công sức của dân nhưng vua không nghe. Ông từ quan về ở núi Chí Linh. Triều đình thối nát, giặc cướp nổi lên khắp nơi, dân đói khổ triền miên. Đất nước tan hoang như không có chủ. Giặc Minh kéo quân vào chiếm nước ta một cách dễ dàng.

Cứu nước phải cứu dân

Cuộc kháng chiến chống giặc Minh dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi, Nguyễn Trãi kéo dài 10 năm (1418-1427). Sau ngày quét sạch giặc Minh, giải phóng đất nước, Nguyễn Trãi bàn với Lê Lợi tha thuế cho dân trong cả nước, tha hẳn hai năm điền tô và các thứ thuế vàng bạc, đầm nước, đồi nương, bãi dân. Ý tưởng của Nguyễn Trãi là yêu nước phải yêu dân, cứu nước phải cứu dân!
Cứu nước mới là cứu dân thoát khỏi hoạ đàn áp bóc lột của bọn thống trị nước ngoài. Muốn cho dân thật sự hết lầm than khổ cực, còn phải cứu dân thoát khỏi ách đàn áp bóc lột của bọn thống trị trong nước. Như thế mới thật sự cứu dân, thật sự yêu dân, thật sự vì dân.
Trong các thời đại trước, có không ít những nhân vật tận trung với nước, nhưng thiếu mặt tận hiếu với dân. Họ đánh giặc tài giỏi, đối với nước hết lòng nhưng đối với dân thì hoặc ít quan tâm hoặc có những thái độ, hành động đáng chê trách, đáng phê phán mà lịch sử còn ghi.
Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, bệnh công thần xuất hiện rất sớm. Nhiều quan lại cho là đã chịu đựng nhiều gian khổ, trong 10 năm kháng chiến, nằm gai nếm mật, nay đất nước hoà bình chúng có quyền được hưởng giàu sang phú quí. Chúng đặt ra các thứ đặc quyền đặc lợi để bóc lột dân. Nguyễn Trãi không nhận đặc quyền, đặc lợi nào. Ông vẫn sống như mọi người dân bình thường. Được cấp 100 mẫu ruộng nhưng ông chỉ nhận nửa mẫu. Bọn gian thần không chịu nổi chính sách an dân của ông “phải biết lo trước cái lo của thiên hạ” (sau này ta gọi là: khổ trước sướng sau), sau khi Lê Lợi mất, chúng thâu tóm mọi quyền hành và gạt Nguyễn Trãi khỏi triều đình, bắt ông về trông nom ngôi chùa của triều đình ở Côn Sơn là chùa Tư Phúc.
Nguyễn Trãi còn sống là mối đe doạ đến bộ máy cai trị. Để bảo vệ quyền lợi của đám vua quan hại dân hại nước, cuối cùng chúng đổ tội cho ông là… có âm mưu đầu độc vua. Chúng giết ông và tru di ba họ.
Những năm chống Mỹ, viết bài ca ngợi thân thế và sự nghiệp Nguyễn Trãi đăng trên báo Nhân Dân, Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét: Nguyễn Trãi đã chết chỉ vì “thương dân quá, thanh liêm quá, trung thực quá”.
Bìa cuốn Sống như anh
Bìa cuốn "Sống như anh" - Trần Đình Vân

Loạn không chỉ từ… bên ngoài

Giữa thế kỷ 19, Pháp đưa quân sang xâm lược nước ta. Triều đình nhà Nguyễn chủ hoà chứ không chủ chiến. Mấy nhà vua yêu nước đi theo ngọn cờ khởi nghĩa cùng với nhân dân đều bị bắt. Lòng dân ly tán. Đất nước như bó đũa tháo rời. Vua Tự Đức cho là mọi khó khăn của đất nước đều do… ngoại bang gây ra. Nhà canh tân Nguyễn Trường Tộ đã hoàn toàn bác bỏ luận điệu này. Ông gửi Tự Đức bản điều trần “Thiên hạ đại thế luận”, trong đó có đoạn như sau:
“Hiện nay tình hình đất nước rối loạn. Trời thì sanh tai biến để cảnh báo, đất thì hạn hán tai ương, tiền của sức lực của ta đã kiệt quệ, việc cung ứng cho quân binh đã mệt mỏi. Trong triều đình, quần thần chỉ làm trò hề cho vui lòng vua, che đậy những việc hư hỏng trong nước, ngăn chặn những bậc hiền tài, chia đảng lập phái khuynh loát nhau, những việc như vậy cũng đã nhiều. Ngoài các tỉnh thì quan lại tham nhũng, xưng hùm xưng bá, tác phúc tác oai, áp bức tàn nhẫn kẻ cô thế, bòn rút mỡ dân, đục khoét tuỷ nước, việc đó đã xảy ra từ lâu rồi. Những kẻ giận đời ghét gian tà, những kẻ thất chí vong mạng, phần nhiều ẩn núp nơi thảo dã. Thế mà sao đối ngoại thì không có cách nào để động đến một mảy may lông của quân Pháp, cũng chẳng thuyết phục được ai để giải vây cho, lại đi tàn sát dân mình, giận cá chém thớt, khiến cho dân bị cái hại “cháy nhà vạ lây”. Thật đúng như câu nói “đào ao đuổi cá”, “nối giáo cho giặc”. Cây cối trước hết tự nó hư mục, sau mới bị sâu đục. Nước mình trước hết không biết tự giữ thể diện thì người ta mới khinh mình. Dân loạn bên trong rồi kẻ địch mới nhân đó mà vào. Như thế, loạn không phải chỉ từ bên ngoài, mà ở ngay trong nước vậy”.
Nhìn lại lịch sử nước nhà thấy mất nước thường không phải kẻ thù bên ngoài mạnh, mà chỉ vì ta yếu quá và đều do bộ máy thống trị trong nước gây nên. Trong đó thời nào tham nhũng (tham ô và lãng phí) cũng là tội phạm lớn nhất.
Yêu nước phải yêu dân, thương dân, chia ngọt sẻ bùi với dân. Nếu không, yêu nước chỉ là ngoài miệng, sớm muộn cũng bỏ dân, trở thành những kẻ bóc lột dân. Tham nhũng là bóc lột tệ hại nhất.

     Nhà báo lão thành THÁI DUY ( Trần Đình Vân)

Nguồn: Hoinhavan

----------------

Mất biên giới văn hoá dẫn đến mất nước


Trong thời thế giới phẳng nên coi biên giới là một khái niệm mềm và mở hơn. Bắt buộc phải coi, phải có ý thức rằng văn hóa cũng là biên giới. Mất văn hóa là mất nước. Trong lịch sử thế giới đã có những trường hợp đất nước đó, quốc gia đó không còn nhưng văn hóa của họ thì vẫn còn, vẫn sống mãi.
Trong suốt 1000 năm Bắc thuộc, nhà Hán thực hiện chính sách đồng hóa, phá hủy văn minh vật chất và tinh thần của người Việt nhưng người Việt vẫn là người Việt, nước Việt vẫn còn. Bằng chứng là hết thời Bắc thuộc, văn hóa nghệ thuật  Đại Việt của Lý và tiếp theo là Trần đã ngay lập tức phát triển rực rỡ. Thơ văn Lý Trần cùng với hội họa (gốm và điêu khắc) là 2 đỉnh trong kho tàng di sản nghệ thuật truyền thống.
Một ví dụ về sức mạnh của văn hóa, của nghệ thuật trong việc giữ nước ở thời Trần: Nhà Trần ba lần đánh thắng quân Nguyên, người ta có thể xem gốm Trần để hiểu được thêm nguyên nhân của chiến thắng đó hay nói cách khác, gốm Trần cũng là một sức mạnh. Văn hóa, nghệ thuật cũng là một sức mạnh, đâu chỉ riêng quân sự. Và có lẽ cái sự thuyết phục đối với kẻ thua trận chưa chắc quân sự đã làm được.

Nhà Trần dùng quân sự để đuổi kẻ thù ra khỏi bờ cõi nhưng nhà Nguyên không tấn công Đại Việt lần thứ 4 nữa, tâm phục khẩu phục người Việt hơn nữa là do họ đã thấy được sức mạnh của người Việt thông qua văn hóa nghệ thuật Việt, trong đó có gốm hoa nâu, có duyên nâu của người Việt đời Trần. Mà nói quá lên một chút thì thấy Nguyên thua Trần là thua văn hóa thôi, chứ sức mạnh  quân sự của Nguyên đã chinh phục quá nửa thế giới thì thua Đại Việt sao được.
Có thể nói trong thời hiện đại, sẽ không bao giờ có trường hợp "1000 năm Bắc thuộc" được nữa. Sẽ không bao giờ có cơn "đại hồng thủy" phá hoại văn hóa như quân Minh gây ra trong thời 20 năm thuộc Minh được nữa (trấn yểm huyệt đất phát, đốt sách, thư tịch, phá đình chùa). Trong thời chiến tranh thì văn hóa còn nhưng trong  thời hiện tại, thời hòa bình thì văn hóa Việt đang bị mất mát nhiều nhất. Và sự đau đớn là ở chỗ chính chúng ta đang tự làm mất.
Nhà văn Nguyên Ngọc bảo đặc tính của văn hóa là nó rất bền vững nhưng cũng lại rất mong manh, dễ vỡ. Tôi hỏi sao vậy, ông bảo vì cái đẹp nào chả mong manh. Trước đây thì chưa chắc nhưng hai chục năm lại đây quá nhiều nét đẹp văn hóa đã bị mất đi. Ác một nỗi là thời chiến tranh, thời nghèo khó thì cái đẹp còn.
Thời mở cửa, thời làm ăn, thời kinh tế khá lên thì cái đẹp lại mất. Nếu để được tí tiền mà mất đi từng ấy văn hóa thì chả biết có nên không? Kiếm tiền tưởng là khó nhưng hóa ra vẫn dễ hơn kiếm văn hóa. Những nét đẹp văn hóa bị mất đi trong khoảng hai chục năm qua liệu 40 năm nữa có lấy lại được không? Chưa kể là có những thứ mất đi là mất vĩnh viễn chẳng bao giờ lấy lại được.
Không muốn vội nói đến các địa phương khác, chỉ trong phạm vi Hà Nội thôi, biết bao biệt thự cũ đã bị bán cho tư nhân để họ đập ra xây trung tâm shopping, khách sạn. Bao đình chùa miếu mạo đã bị phá hoại nhân danh tu tạo. Đấy là mất cái nhìn thấy, còn những thứ chỉ cảm thấy, những giá trị tinh thần như phong tục, tập quán, nếp sống thì mất, nhưng không dễ thấy.
Đáng nhẽ mở cửa hội nhập, đáng nhẽ đời sống kinh tế khấm khá hơn, bát cơm đầy hơn, miếng thịt to hơn thì phải đồng nghĩa với một mặt bằng văn hóa cao hơn, nhưng có vẻ như mọi sự đang diễn biến ngược lại. Chả nói gì to tát, lời ăn tiếng nói hàng ngày, cái tưởng chẳng bao giờ có thể mất cũng đã mất đi quá nhiều.
Chính xác là vẻ đẹp thanh lịch của lời ăn tiếng nói không những mất đi mà được thay thế bằng sự dung tục. Nó biểu hiện sự nhếch nhác trong tâm hồn. Có lẽ mất văn hóa làm cho tinh thần người ta trở nên tăm tối nhanh nhất.
Thêm một ví dụ khác nữa, đơn giản nhất là bạn hãy để ý một chút, trên đoạn đường từ nhà đến cơ quan mỗi buổi sáng. Chen lấn xô đẩy không ai chịu nhường ai, còi bóp, khói xả, bụi bặm, rác đổ, nước thải tràn lan, kênh rạch ô nhiễm, đường xá xuống cấp, tình trạng đào bới công trình ngầm vô tổ chức, các loại dây điện, điện thoại chằng chịt, các loại biển quảng cáo dọc ngang lộn xộn, kẹt xe, chửi bới, đánh lộn vv...
Rồi thì bằng giả, thuốc giả và còn nhiều thứ tưởng rằng không thể giả được cũng là đồ giả, trinh tiết giả, tiến sỹ giáo sư giả, chùa giả, đám cưới giả, thương binh giả, mộ (liệt sỹ) giả. Tất cả những sự mất mát nêu trên chính là mất đạo đức, mất nhân cách, mất lương tâm, mất danh dự, mất đạo, mất văn hoá. Hiện nay đô thị thì ngày càng nông thôn hoá còn nông thôn thì ngày càng bị đô thị hoá nhưng rất tiếc là hai khu vực này chỉ nhiễm thói hư tật xấu của nhau.
Mất đất của cha ông để lại cũng là mất xương máu. Điều đó dễ nhận thấy. Nhưng nguy hiểm hơn, mất văn hóa, mất biên giới - văn hóa dẫn đến mất nước thì đó là sự mất mát không mất ngay, không thấy ngay, không dễ thấy ngay.
Hoạ sỹ Lê Thiết Cương

Nguồn: TuanVietnam

----------------

Gài độ