21/01/2010

Dân ba miền


Kể với bạn chuyện vui có thật cho nhẹ nhõm tâm tư. Bạn tôi là sếp ngành giao thông công chánh, trong lần nhậu hơi say nên rút ruột như vầy:

"Hễ con đường, đoạn hẻm nào vừa đổ vật tư xuống mà sáng hôm sau mất phân nửa cát/đá thì y như rằng nơi đó lắm Bắc kỳ sinh sống. Nếu đường vừa làm xong mấy bữa mà ngập rác & khai nồng sặc sụa thì rõ ràng Nam bộ chiếm số đông. Còn điện năng thất thoát cao bất ngờ & nước yếu đột xuất thì ko nghi ngờ gì nữa, nơi đó đa phần dân Trung ở!"

Bàn nhậu hôm đó đủ cả 3 miền. Ai nấy đều giật mình tự ái rồi công nhận chí lý :D Vậy là vui vẻ cười xòa.

Ngẫm lại sẽ thấy: Suốt thời gian dài thiếu thốn trăm bề, kham khổ nhọc nhằn vô số kể nên nảy sinh trong đầu (rất vô thức, tự nhiên) phản xạ bòn mót dự phòng. Rất có thể vài ba thúng cát/đá kia chưa hề có nhu cầu sử dụng, nhưng biết đâu - mai này, có khi cần đến? Vậy là cứ xúc vào dấu ém ở góc sân, dù 10 năm sau vẫn chả thấy nhu cầu. Đó là 'phản xạ có điều kiện' của dân Bắc kỳ, dù bây giờ họ là đại gia/trọc phú.

Dân Nam bộ dù vài ba thế hệ sinh ra & lớn lên trên đất SG, giờ đây học cao hiểu rộng, bằng cấp cùng mình nhưng "dễ gì quên cái vi vu lộng gió - giữa cánh đồng cứ thế chổng mông lên"?! Vườn đất mênh mông rộng rãi thì rác của ta cứ vứt ở vườn ta, ai dám nói gì? Thói quen đó di căn hàng trăm năm nữa chứ nào phải 1 đôi ngày là chỉnh sửa được đâu?

Miền Trung (quê tôi) nhọc nhằn vất vả. Hạt gạo củ khoai cũng sần chai như người sớm hôm lam lũ với nắng gắt/gió lào/mưa dầm/bão quật/lũ dâng.. Dẫu vén khéo lo xa cũng thiếu trước hụt sau, chạy ăn từng bữa. Nay sẵn của Trời ban sao nỡ phí, chút gian dối vặt này suy ra cũng chả chết ai. Thôi, biết là khó coi nhưng rất chi dễ chịu. Đỡ đồng mô hay đồng nớ, biết răng chừ!

Từ chuyện vui nho nhỏ đó suy ra, cái thâm căn cốt lõi có sức bền (ỳ) ghê gớm.

Nguồn: Nhula 1 giacmo


----------------

19/01/2010

Thế nào là dân chủ?

Dân Chủ là gì?  Nguồn gốc và nghĩa thực của Dân Chủ?
Tiên đoán DC cho VN?


Theo nghĩa của nó, dân chủ là người dân được tự do làm chủ lấy mình,
không bị lệ thuộc vào vua quan, lãnh chúa, hay hoàng đế.

Nhưng muốn tự do làm chủ lấy mình người dân phải có một trình độ
hiểu biết và suy luận đứng đắn thế nào là tự do dân chủ, không lạm
dụng tự do, tôn trọng tự do của người khác, và không quá ngây thơ để
bị kẻ khác lợi dụng dân chủ nhiễu loạn và thống trị.

Dân chủ là khi sống chung trong một cộng đồng, thôn xã hay đô thị,
người dân cùng nhau trực tiếp quyết định sự lãnh đạo và điều hành của
cộng đồng.  Khi cộng đồng quá rộng lớn, thì sự tham dự của người dân
thường phải qua một hay nhiều tầng đại diện. Quan niệm 'dân chủ'  chỉ
được phát hiện gần đây thôi, chỉ nói đến tự do dân chủ mà không nói
đến  bình đẳng và đoàn kết chung sống thân thiện;  -  Cách Mạng Pháp
1789  chú trọng vào tự do, bình đẳng và tình huynh đệ thân thiện
(liberty, egality, fraternity).

Việt Nam ngày xưa cũng có chế độ xã thôn tự trị, xem ra cũng có vẻ dân
chủ, người dân trong làng xã được chọn xã trưởng và ban quản trị,
nhưng thực ra dân chủ nầy cũng không vượt khỏi lũy tre xanh của xóm
làng, và dân cũng không thoát khỏi cảnh phe đảng cường hào ác bá, cấu
kết với quan trên mua quyền bán chức.  Nho giáo và Phật giáo  nền tảng
luân lý đem lại an ninh xã hội trong  tinh thần tuân phục, an thân thụ
động.

Thời cổ xưa của đô thị La mã (Ý) hay Athens (Hy Lạp), cũng có chế độ
Cộng Hòa, nhưng thực sự quyền hạn đều tập trung vào tay trưởng tộc
các bộ lạc hay các giòng họ lớn; vì sống chung, họ phải đoàn kết để có
sức mạnh chống kẻ thù bên ngoài, họ phải nhân nhượng lẫn nhau, nên
đã tạo ra các cuộc hội họp và bầu cử người lãnh đạo để quyết định các
vấn đề liên quan đến vận mạng của cộng đồng, đô thị.

Sau khi khám phá được Mỹ Châu, dân chúng Tây Âu, vì lý do như kinh
tế, chính trị hay tôn giáo, đã vượt biển Ðại Tây dương tràn vào miền đất
mới nầy lập nghiệp. Số người di cư nầy rất đông, họ thuộc nhiều quốc
gia, nhiều dân tộc, tôn giáo khác nhau, không có một nhóm người nào
có đủ sức mạnh để độc quyền thống trị. Họ đành phải thoả hiệp với
nhau bầu cử  người điều hành lãnh đạo cộng đồng, nhất là về tôn giáo
thì họ phải chấp nhận mọi người trong cộng đồng phải được tự do theo
đạo của mình. Nhờ vào tinh thần dân chủ và tự do tín ngưỡng sơ khởi
nầy, dân di cư cùng sát cánh chống lại các bộ lạc da đỏ để dành đất. Sau
khi tuyên bố độc lập năm 1776, họ phải đánh nhau 8 năm với mẫu quốc
Anh, mãi đến năm 1787 mới có một Hiến Chương dân chủ cho nước Mỹ.

Nhưng  sau đó lịch sử nước Mỹ đã ghi nhiều trường hợp không dân chủ
như tàn sát người dân Mỹ da đỏ nguyên thủy và nô lệ hoá người Mỹ da
đen. Sau nhiều năm chiến tranh tương tàn để xóa bỏ chế độ nô lệ, mà
mãi đến năm 1965 mới có Luật 'Voting Right' để bảo đảm quyền bỏ
phiếu của người da màu. Tính ra đến gần 200 năm dân chủ mới được
thực hiện!

Sau trên 200 năm và 27 lần tu chính, Hiến Chương nầy đã trở thành nền
tảng cho nền dân chủ hiện đại của Mỹ, mà nhiều người hăng say với nền
tự do dân chủ thường cổ võ áp đặt nền dân chủ nầy vào các nước vừa
mở mang thiếu thốn về giáo dục, kỷ thuật, kinh tế v.v...

Ngày nay tại Mỹ, dân chủ được thực hiện như thế nào? Trên lý thuyết thì
mỗi 2 năm đều có cuộc bầu cử để dân chúng tự do lựa chọn người đại
diện cho mình tại các cơ quan lập pháp, hành pháp và các thẩm phán điạ
phương. Nhưng thực tế  thì muốn ra ứng cử vào chức vụ công thì phải
có nhiều tiền để quảng cáo, và người thắng cử thường là người có nhiều
tiền và phương tiện thông tin tràn lấp đối thủ, kể cả thông tin gian trá và
thủ đoạn bới móc thường làm cử tri lầm lẫn.
Do đó dân chủ chỉ có cho tư bản: những người có nhiều tiền, chủ các
công ty, thường chủ động trong các cuộc bầu cử, thuận theo quyền lợi
của công ty thì họ giúp, chống thì phá không cho đắc cử.

Với cuộc Cách Mạng 1789, dân Pháp đã lật đổ chế độ quân chủ thần
quyền, đẩy giới quý tộc và tu sĩ ra khỏi chốn công quyền, cùng phát huy
tư tưởng dân chủ ra khắp các nước láng giềng.  Nhưng sau đó vì chiến
tranh, bị các nước quân chủ liên kết đánh bại, nền quân chủ thần quyền
được tái lập; nên đến mãi gần 100 năm sau nước Pháp mới thực hiện trở
lại  nền dân chủ.

Dù Pháp và Mỹ là nước dân chủ tự do nhưng các nước nầy ngăn cấm
người dân bản xứ, dân thuộc địa, người nô lệ, người không có tài sản,
người không đóng thuế và nhất là không cho phụ nữ được bầu cử,
không cho người dưới 25 tuổi bỏ phiếu. Tại các thuộc địa như VN họ vẫn
giữ chế độ vua quan quân chủ chuyên chế để trị dân bản xứ.

Phụ nữ chỉ được bỏ phiếu tại Pháp vào năm 1918, tại Mỹ năm 1920 và
tại Anh vào khoảng năm 1928. Thanh niên Mỹ dưới tuổi 25, dù phải
nhập ngũ lúc 18 tuổi, gởi đi đánh nhau tại Âu Châu và Việt Nam, nhưng
họ  không được quyền bầu cử, cho mãi đến năm 1971 thì mới được
quyền này.

Tại sao có chuyện phụ nữ, người trẻ tuổi, dân thuộc địa, dân nô lệ,
người nghèo, tại các nước mệnh danh là tự do dân chủ lại không có
quyền bầu cử, mà mãi đến gần đây họ mới có được quyền nầy?

Lý do có thể rất dản dị, thành phần nầy vì tình trạng xã hội của họ vào
lúc xưa không cho họ cơ hội học hỏi để có khả năng hiểu biết và suy
nghĩ đứng đắn mà xử dụng lá phiếu bầu cử. Mãi đến sau nầy nhờ mực
sống xã hội cải thiện nên phụ nữ và thanh niên dưới 25 tuổi mới có cơ
hội học hỏi, trau dồi khả năng, đóng góp vào chiến tranh  v.v.., vì vậy
họ mới được quyền bầu cử.

Trên đây chỉ nhận xét qua hai nền dân chủ có ảnh hưởng vào nền chính
trị VN là Pháp và Mỹ. Các nước nầy từ khởi  đầu nền dân chủ cũng phải
trải qua hằng hai trăm năm mới tạm được như hiện tại.

Nhìn vào lịch sử Việt Nam, sau ngàn năm dưới sự đô hộ của Tàu và ngàn
năm ở trong sự cai trị của vua quan, thì chế độ phong kiến đã có ấn
tượng sâu xa vào tinh thần và văn hóa người dân. Cai trị không cần luật
pháp minh bạch mà bằng đặc quyền quân chủ, nhà vua làm chủ tất cả
đất đai, tài sản cùng tính mạng người dân sống trong vùng đô hộ. Người
dân chỉ đóng vai thụ động, tuân hành, không được huấn luyện về trí tuệ.
Vì muốn bảo trì đời sống của mình và gia đình, người dân phải vâng lệnh
và hùa bợ người trên, khi có quyền thì theo lệ lại đàn áp kẻ dưới. Tư
cách con người do đó trở thành ích kỷ, ỷ lại và hèn kém tham sống sợ
chết. Thiếu tinh thần tự chủ, tự trọng, nên thấy giặc đến chưa đánh đã
hàng. Dân nghèo khổ được giặc tuyển dụng làm bọn đánh thuê, khi giặc
chiếm được nước thì thành công thần của triều đình lệ thuộc.

Người Pháp đến chiếm nước ta để đô hộ khai thác tài nguyên và nhân
lực cùng biến người dân ta ra hàng tôi tớ. Thay vì phổ biến, giáo dục
dân bản xứ về dân chủ mà họ thường rêu rao là khai hoá; nhưng tiếc
thay Pháp vẫn duy trì bọn vua quan bù nhìn dùng chế độ quân chủ  thần
quyền để cai trị và khai thác, biến tinh thần và trí óc người dân Việt
thành thụ động như đầy tớ chỉ biết tuân phục chủ, hở ra là ăn cắp, hành
hạ người dưới, có tí quyền hành thì tham nhũng, hối lộ. Người Pháp chỉ
phổ biến Tự do Tứ đổ tường là cờ bạc, rượu chè, đĩ điếm, thuốc phiện.

Sau năm 1945, thì đảng phái tranh dành quyền, người thì theo Tây trở
lại đô hộ,  kẻ đi theo kháng chiến chống Pháp.  Sau Hiệp định Geneve
1954, đất nước chia đôi, miền Nam cũng thoát khỏi sự đô hộ của Pháp,
nhưng lại rơi vào tròng  bảo trợ của Mỹ để thực hiện tự do dân chủ,
nhưng thực ra để thành tiền đồn chống Cộng bảo vệ thế giới tự do,
trước hết là để bảo vệ an ninh cho Hoa Kỳ.

Chính quyền Ðệ Nhất CH thiết lập trên một chế độ độc quyền, quan liêu
gia truyền, gia đình trị; bầu cử gian lận, đàn áp tôn giáo, bợ người trên
áp bức kẻ dưới, giống như thời quân chủ thần quyền. Chế độ chỉ sống
được dưới lá bùa bảo vệ của Mỹ quốc.

Sau đảo chánh 1963 khi chế độ được buông lơi, thì hết đảo chánh nầy
đến đảo chánh nọ, ai cũng muốn làm Tổng Thống; người Thượng Tây
Nguyên cũng muốn có Tổng Thống riêng của họ, các làng tôn giáo
thành ra khu tự trị, người lãnh tụ tôn giáo tại khu lại có luôn quyền hành
chánh, tài chánh và tư pháp; rồi cũng lại bầu cử gian lận, độc diễn.

Ngày 30 tháng 4, 1975 đã phải đến, rồi đến các phong trào tranh đấu tại
hải ngoại, người nào ra tổ chức hội hè cũng muốn làm chủ tịch hay ban
lãnh đạo mới được, rồi chửi bới đánh đấm lẫn nhau. Tổ chức nào cũng
đòi hỏi dân chủ và tự do ngôn luận cho Việt Nam, nhưng họ lại ngăn
không cho người khác được phát biểu ý kiến khác ngoài ý kiến của họ,
họ còn dùng cả bạo lực ngăn cản đồng hương không được thưởng thức
chương trình ca nhạc không do bọn họ trình diễn.

Nếu có dân chủ thực sự ở Việt Nam, hay Hoa Kỳ đem quân tái chiếm Việt
Nam để đem tự do dân chủ đến cho người Việt như đã làm ở  Iraq thì kết
quả sẽ ra sao?

-   Như tự do dân chủ đã đến với nhân dân Nga Sô, hậu quả là Liên Bang
Sô Viết biến mất, chia thành mươi nước khác nhau, nhưng không biết tại
các nước nhỏ nầy có tự do dân chủ thực sự hay không?

- Nước Yougoslavia cũng thế, tự do dân chủ đã đưa đến chia ba xẻ năm,
chiến tranh tương tàn khốc liệt đến nỗi LHQ phải can thiệp mới tạm yên.

-
Với Việt Nam thì ra sao? Tiên đoán?

Người nghèo đói, dốt nát không đủ trí tuệ để chọn người đại diện mình
bằng cách tự do bầu cử, dễ bị mua chuộc bởi những hứa hẹn hão huyền
hay bằng tiền bạc, hoặc có mặc cảm sợ hãi thế lực. Dốt nát nên tinh thần
mê tín dị đoan, lười biếng mà lại mơ tưởng đời thiên đường, nên thường
bị bọn buôn thần bán thánh lợi dụng cho tư lợi.

Ðem dân chủ đến với các nước có số dân trình độ thấp kém, không hiểu
gì về dân chủ, không biết kính trọng tự do dân chủ của người khác, nhất
là còn ảnh hưởng của đời làm tôi tớ ngoại bang, thiếu tinh thần tự trọng,
tự tồn, tự túc mà lại quen thói vụng trộm thì kết quả sẽ ra sao?

Cùng với tự do dân chủ, công ty tư bản ngoại quốc sẽ nhảy vào, dùng
tiền bạc và vật chất để ủng hộ ứng cử viên nào ủng hộ chánh sách khai
thác kinh tế tài chánh của công ty, kể cả giúp tuyền truyền xuyên tạc,
hối lộ, bạo hành, lập băng đảng, tổ chức biểu tình chống đối.

Cùng với tự do dân chủ giới tư bản sẽ nhảy vào trợ lực để thành lập các
nước độc lập tự trị tại các khu người Thượng Tây Nguyên, khu người
Thái miền Bắc, khu người Hoa tại Chợ Lớn, Long Xuyên, khu tôn giáo tại
Bùi Chu Phát Diệm, Vĩnh Long, Châu Ðốc, Tây Ninh, Hố Nai. Có thể VN sẽ
biến ra thành vài chục nước nhỏ tự trị thụt lùi vào cảnh thập nhị xứ
quân của hơn ngàn năm về trước.

Sau đó tại các nước nhỏ nầy, tư bản sẽ bỏ tiền ra xây đựng các khu giải
trí, tự do rượu chè, cờ bạc, đĩ điếm, ma túy để cho dân các vùng lân cận
đến vui chơi giải trí mà không bị ràng buộc cấm đoán của pháp luật. Bao
nhiêu tiền dành dụm, tiền tham nhũng, tiền trộm cắp lường gạt sẽ đổ
vào các khu giải trí nầy đem nhuận lợi cho nền tư bản, còn nhà nước VN
sẽ không được gì tuy công dân của mình đem tiền vào đó.

Ta đã thấy khu thuộc địa giải trí Macao, Hồng Kông trước kia đã làm kiệt
quệ nước Tàu, - khu giải trí Las Vegas đã thâu được một số lợi tức
khổng lồ, tuy nhiên Las Vegas không là một nước tự trị nên phải đóng
thuế cho Liên Bang, tiền thâu được vẫn làm lợi cho nước Mỹ.

Tại sao với tự do dân chủ đất nước lại bị chia xẻ? Rất dàn dị: Tinh thần
quân chủ thần quyền, phong kiến, tinh thần tôi tớ của kẻ bị đô hộ mấy
ngàn năm qua vẫn còn tồn tại, di truyền trong đầu óc người dân, người  
nào cũng muốn dành quyền lãnh đạo, người nào cũng muốn làm Tổng
thống,Tổng trưởng; không dành được quyền tại các nước lớn thì đòi
chia cắt rồi làm Tổng thống tại nước nhỏ vậy. Làm chức vụ cao thì tha
hồ thao túng tham nhũng, đó là thông lệ tại các nước nghèo đói thiếu trí
thức, hậu quả của những đời nô lệ ngại bang.

Trên đây chỉ là ý kiến tổng quát của tác giả, không bàn về nhiều ngoại
lệ, nhất là các ngoại lệ đã đưa đến một nước VN độc lập và thống nhất   
cho đến ngày nay. Xin cáo lỗi và tri ân quý vị đã giúp đỡ, hy sinh cho đất
nước và dân tộc.

Ng. Tiên Tri.
Tháng 2, 2005



----------------

18/01/2010

Ba bài học làm người

Bài học 1:

Thấy Quạ ngồi trên cây cả ngày mà không làm gì, Thỏ con hỏi:

- Tôi có thể ngồi cả ngày mà không làm gì như anh không?

- Tất nhiên, tại sao lại không. - Quạ nói.

Vậy là Thỏ con ngồi dưới đất nghỉ ngơi. Bỗng nhiên, Cáo già xuất hiện,
vồ lấy Thỏ và ăn thịt.

Bài học rút ra: Để được ngồi không, bạn phải ngồi ở vị trí rất, rất cao.
------------------------------------------------------------------------------------------

Bài học 2:

Gà tây nói với Bò tót:

- Tôi muốn nhảy lên ngọn cây kia nhưng tôi không đủ sức.

- Vậy thì rỉa phân tôi đi. - Bò tót khuyên.

Gà tây mổ phân của Bò tót và thấy thực sự đủ sức để nhảy lên cành cây
thứ nhất. Ngày tiếp theo, sau khi ăn một ít phân bò, Gà tây nhảy được
đến cành cây thứ hai. Cứ thế đến nửa tháng sau, Gà tây đã lên tới ngọn
cây. Không lâu sau đó, Gà tây bị một bác nông dân bắn rơi.

Bài học rút ra: Sự ngu ngốc có thể đưa bạn lên đỉnh cao nhưng không
thể giữ bạn ở đó mãi.
--------------------------------------------------------------------------------------------

Bài học 3:

Chim non đang bay về phía nam để tránh rét thì bị đông cứng và rơi
xuống một cánh đồng. Trong khi nó đang nằm đó thì Bò cái tới và phóng
uế lên người nó. Trong lúc bị đông cứng vì rét, bãi phân bò lại làm
cho Chim non thấy ấm lên và tỉnh lại. Nó cất tiếng hót vì sung sướng
thì một chú mèo đi qua nghe thấy. Mèo tìm đến bãi phân bò, lôi Chim
non ra rồi ăn thịt.

Bài học rút ra:

1) Không phải bất cứ ai vấy bẩn lên bạn cũng đều là kẻ thù.

2) Không phải bất cứ ai kéo bạn ra khỏi chốn bẩn thỉu cũng đều là bạn.

3) Khi bạn đang ở sâu trong chốn bẩn thỉu, hãy im lặng.

--------------------------------------------------------------------------------


ST từ blog dkhanhtran



----------------

17/01/2010

"Kiến trúc sư" của những nhà tình báo huyền thoại

NHÀ TÌNH BÁO CHIẾN LƯỢC VIỆT CỘNG MƯỜI HƯƠNG BỊ BẮT NHƯ THẾ NÀO, VÌ SAO ĐƯỢC THẢ ?

( Tư liệu từ phía bên kia... )

Đặng Văn Nhâm.

HỘI ĐỒNG TƯỚNG LÃNH NỐI GIÁO CHO VIỆT CỘNG!
Sau khi chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ, tất cả những hành động ra mặt yểm trợ và bao bọc cán bộ CS nằm vùng của giới kiêu tăng trong tổ chức PG đấu tranh miền Trung, theo tôi, đều vẫn chưa đáng nói bằng vụ các tướng Minh, Khánh, Đôn, Xuân , Đính, Thiệu, Kỳ, Khiêm.. đã công khai dung dưỡng và ngang nhiên giải thoát một cán bộ tình báo chiến lược cao cấp nhất cuả CSBV vốn hoạt động từ lâu ở miền Nam là Mười Hương. Chính Mười Hương là người đã tổ chức cán bộ điệp báo nổi tiếng như: ký giả Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Huỳnh Văn Trọng, Lê Hữu Thuý... và xây dựng các cụm gián điệp H.10 và A. 22 v.v...( muốn biết rõ chi tiết xin đọc thêm bộ sách BÍ MẬT HẬU TRƯỜNG CHÍNH TRỊ MIỀN NAM, gồm 3 quyển tân biên với nhiều bổ túc giá trị mới tái bản tòan bộ).
Tuy nhiên, điều cần phải đặc biệt chú ý nhất và bắt buộc tôi phải nêu lên đây là tay trùm gián điệp Mười Hưông đã bị bắt giam từ năm 1958, dưới thời đệ nhất CH. Nhưng ngay sau khi vưà lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, các tướng lãnh VNCH đã họp nhau thành một cơ chế gọi là " Hội Đồng An Ninh Quốc Gia"( HĐANQG). Căn cứ trên danh xưng đáng lẽ tổ chức này có trách nhiệm phải bảo vệ nền an ninh quốc gia, tiễu trừ phiến loạn, giặc Cộng, và bạo động...Song các tướng đã hành động ngược lại, một mặt lo chụp mũ "cần lao ác ôn", mũ " kinh tài nhà Ngô" và năng nổ truy lùng những nhân vật liên hệ với chế độ cũ, bắt giam vô thời hạn, lưu đày Côn Đảo... để moi tiền, và trấn lột tài sản. Tức là những hành động tiêu diệt những ngưới QG đã có công bài trừ CS. Nạn nhân điển hình là BS Bùi Kiện Tín, ông Huỳnh Văn Lang cựu giám đốc Viện Hối Đoái, BS Trần Kim Tuyến, ông Cao Xuân Vỹ v.v...
Ngoài Mười Hương, các tướng còn dùng chiêu bài HĐANQG để ngang nhiên " giải phóng " luôn cho những " đồng chí cán bộ điệp báo cao cấp" khác. Trong số đó, có vợ cuả Huỳnh Tấn Phát, vợ cuả Nguyễn Bửu Kiếm và Mã Thị Chu (vợ cuả Nguyễn Văn Hiếu) v.v...
MƯỜI HƯƠNG LÀ AI ?
Nếu cái tên Mười Hương đối với đa số quần chúng lao động lam lũ, và giới binh só tầm thường ở VN không mang một ý nghiã gì đáng kể; nhưng ngược lại đối với giới cầm quyền quân sự, an ninh, tình báo và chánh trị ở miền Nam, cái tên đó chính là một yếu tố then chốt quyết định sự thắng bại cuả miền Nam. Các tướng lãnh miền Nam phóng thích Mười Hưông, sau khi lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm, năm 1963, chẳng khác nào " thả cọp về rừng". Ngay lúc bấy giờ, tôi và BS Trần Kim Tuyến đã có cùng một nhận định chung: các tướng thả Mười Hưông vào mật khu chẳng khác nào như một phát súng ân huệ mà các tướng đã bắn trên lưng hàng trăm ngàn chiến sĩ VNCH đang cầm súng ngoài tiền tuyến.
Thuở sinh thời, BS Tuyến đã tâm sự và than thở với tôi rất nhiều về chuyện này.[ dĩ nhiên ngoaì những chuyện tôi đã được nghe từ Dương Văn Hiếu, Nguyễn Tư Thái ( Thái Đen) và Nguyễn Thiện Dzai (to cao, tóc quăn soắn, và màu da nâu đậm như lai Tây Đen)]. Một phần vì nó nằm trong phạm trù nghiệp vụ cuả ông. Phần khác nó liên quan mật thiết đến sự sống còn cuả miền Nam.
Trong những giờ phút nằm khoèo tán gẫu với ông, từ hồi ở VN cho đến những ngày ở Cambridge, tôi còn đọc được tâm trạng chua cay thấm thiá cuả một tay trùm mật vụ đã thấy biết rất nhiều, nhưng vì hoàn cảnh éo le trói buộc, đành khoanh tay nhìn bọn võ biền dốt nát, một mặt hai lòng, muá rối. Ông đau đớn nhất khi nghe tin Mười Hương, một đối thủ giá trị đã từng nằm trong vòng tay kềm chế cuả mình hàng bao nhiêu năm trời nay đã được phóng thích, sống nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật và tiếp tục hoạt động đánh phá miền Nam gần như công khai trước mũi ông.
Trong khi đó bản thân ông lại bị mất tự do và bị đối xử nghiệt ngã! Tôi rất thông cảm nỗi đau đớn thầm kín, sâu xa ấy cuả ông. Đồng thời, tôi biết ông cũng quan tâm đến sự an nguy cuả tôi, nên nhiều khi ông đã ân cần thủ thỉ dặn dò tôi:
- Về phần cậu, cậu phải thật cẩn thận và kín đáo.Ngay cả ở hải ngoại này cũng thế. Nên nhớ các cụ ta đã dạy:" Trong thời buổi loạn ly này, khôn cũng chết , dại cũng chết, chỉ có biết là sống thôi... Biết đây tức là biết người và biết cả ta nưã đó, Nhâm ạ!...
Vậy, Mười Hương là ai đã khiến cho ông Trùm Mật Vụ cuả miền Nam phải nhức nhối khi nghe tin đã được tự do ?
Mười Hương tên thật là Trần Ngọc Ban, sinh quán ở Phủ Lý , Nam Định, con trai cuả nhà thầu khoán xây cất Trần Ngọc Tân. Thuở nhỏ Ban đã học cả chữ Nho và chữ quốc ngữ . Chữ Nho học với ông đồ Trần Đức Qùi ( sau làm thứ trưởng văn hoá cuả chánh phủ HCM). Chữ quốc ngữ học ở trường tiểu học Phủ Lý, rồi lên Hà Nội học tiếp ở trường Dòng, và đổi tên là Hưông. Khoảng 15 , hay 16 tuổi Hưông đã bị Tây bắt vì tội hoạt động bí mật cho CS, và bị giam chung với Nguyễn Thọ Trân ( chú cuả Đỗ Mười) và Lê Toàn Thư ( bí thư cuả Trường Chinh) .
Sau khi được trả tự do, vì tuổi vị thành niên, Hương liền được hướng dẫn luôn theo CS, và được chuyển về " An Toàn Khu" ( gọi tắt là:ATK), và làm việc trong ban cán sự tỉnh Phúc Yên. Về sau Hương được Trường Chinh đem về làm thư ký riêng, và là một trong số những người đã có công trong việc tổ chức buổi ra mắt quốc dân cuả Hồ Chí Minh , ngày 2. 9. 45, tại quảng trường Ba Đình ( Hà Nội).
QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG
Năm 1945, khi phong trào toàn quốc kháng chiến phát khởi, chính phủ CS Hồ Chí Minh lập ra tổ chức gọi là " giao thông liên lạc an toàn khu", nắm giềng mối thông tin liên lạc từ trung ưông đến các chiến khu. Từ năm 1946 đến 1948 , Mười Hương làm việc trong cô quan này. Năm 1949, Mười Hương được chuyển sang hoạt động trong ngành an ninh tình báo.
Sau hiệp định Genève 1954, Mười Hưông đã được Lê Đức Thọ tiến cử đặc biệt trước chánh trị bộ, lãnh công tác gián điệp địch hậu ở miền Nam. Chính các nhân vật chóp bu cuả miền Bắc, gồm cả Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng ...đều tán thành và trực tiếp gặp gỡ , ân cần trao phó công tác cho Mười Hưông trước khi lên đường vào Nam.
Sau khi đã giả trang với lý lịch ngụy tạo, khoảng tháng 9.1954, Mười Hương đã được tháp tùng Lê Đức Thọ trong một chuyến bay quân sự cuả Pháp, cất cánh từ phi trường Gia Lâm vào Nam. Nôi đây, trong thời gian đầu, Mười Hương đã gặp lại các đồng chí quen biết cũ ngoài chiến khu BV là Phan Trọng Tuệ, tư lệnh quân khu 9, và Lê Toàn Thư ( cựu bí thư cuả Trường Chinh, lúc này đang giữ chức Xứ Ủy Nam Kỳ) , và cộng tác với Mai Chí Thọ và Cao Đăng Chiếm trong lãnh vực an ninh tình báo, mở các lớp đầu tiên huấn luyện cán bộ tình báo. Sau đó ít lâu, vì nhu cầu công tác , Mười Hương được chuyển qua ban " Địch tình xứ uỷ", tuy nhiên vẫn tiếp tục mở các lớp huấn luyện về tình báo cho các cán bộ được tuyển lưạ trong ngành công an.
Trong thời gian này Mười Hương đã bắt được liên lạc trở lại với Vũ Ngọc Nhạ, vốn là cán bộ đã từng được Mười Hương xây dựng từ khi còn làm Thị Uỷ thị xã Thái Bình. Kế đó, Mười Hương lại có thêm một cán bộ điệp báo quan trọng khác là Lê Hữu Thúy (tên khác là Lê Nguyên Vũ). Trong đường giây điệp báo cuả cụm A. 22 do Vũ Ngọc Nhạ cầm đầu, ngoài Lê Hữu Thúy, Vũ Xuân Hoè, Lê Hữu Ruật , còn có Huỳnh Văn Trọng ( lúc đó Trọng đang làm đổng lý văn phòng bộ Nội Vụ, Lê Hữu Thúy làm công cán uỷ viên, thời ông Huỳnh Văn Nhiệm , đại diện cuả giáo phái Hoà Hảo , làm tổng trưởng) . Về sau, qua cầu Hoà Hảo, Lê Hữu Thúy còn được các tướng Năm Lưả, Hai Ngoán tôn sùng như một thứ "quân sư quạt mo". Xem thế, ta mới biết, ngay cả trong các tổ chức giáo phái chống Cộng hung hãn nhất ở miền Nam , như Hoà Hảo, Cao Đài, Thiên Chuá Giáo di cư...đều là hang ổ an toàn cuả bọn điệp viên CSBV cao cấp nhất !
Bây giờ tôi xin trở lại chuyện Mười Hương. Ngay sau khi vào Nam , Mười Hương đã xây dựng được một cán bộ điệp báo xuất sắc, đã có công tạo được nhiều thành tích nằm vùng rất kín đáo trong giới báo chí Mỹ ở VN. Đó là ký giả Phạm Xuân Ẩn, bí danh là Hai Trung. Lúc đó Ẩn đang làm thơ ký cho một công sở , và thường làm thông dịch viên cho người Mỹ. Chính Mười Hưông đã hướng dẫn Phạm Xuân Ẩn trong việc đi Mỹ học về ngành báo chí. Sau khi tốt nghiệp, Ẩn trở về VN làm việc trong văn phòng đại diện cuả tạp chí Time ở Sài Gòn.
Với tư cách một ký giả, cộng tác trong một tạp chí lớn có uy tín cuả Mỹ, Phạm Xuân Ẩn đã tạo được một vỏ bọc rất kiên cố cho nghiệp vụ điệp báo cuả mình. Trong thời gian làm báo ở quê nhà, đã có dịp quen biết khá thân với Phạm Xuân Ẩn và một số đông tướng lãnh trong quân đội VNCH, tôi có thể nói đại đa số các tướng lãnh VNCH đều không có tật nọ cũng mắc bịnh kia, tức không trai gái, bê tha, cũng tham nhũng, ăn hối lộ, buôn lậu v.v...nên đã tỏ ra rất kiêng nể giới báo chí ngoại quốc.
Giới quân phiệt này có thể bịt mồm báo chí Việt Ngữ dễ dàng bằng nhiều biện pháp dã man, rừng rú, nhưng lại không dám và không thể động được đến một cọng lông chân cuả báo chí ngoại quốc. Do đó Phạm Xuân Ẩn cũng đã được các tướng nể sợ lây. Từ Ng. Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Cao Kỳ, Cao Văn Viên, đến Nguyễn Khắc Bình v.v... đều muốn được lòng Phạm Xuân Ẩn, hơn là Ẩn cần phải lấy lòng mấy ông tướng đó để moi tin tức. Vì thế Phạm Xuân Ẩn đã có khả năng cung cấp rất nhiều tin tức quân sự vô cùng giá trị cho quân CSBV.
Đối với các điệp viên khác, thường phải có "hộp thơ ", có "giao liên bàn đạp" , để chuyển tin cách bí mật, lén lút vào mật khu. Nhưng riêng Phạm Xuân Ẩn, anh ta đã coi thường guồng máy an ninh tình báo cuả các tướng lãnh VNCH đến mức không thèm xài " hộp thư", cũng chẳng cần đến " giao liên bàn đạp". Một tháng đôi ba lần , khi có tin tức quan trọng, nóng hổi cần cấp báo, Ẩn đã đi thẳng vào mật khu như ta đi du ngoạn, để báo cáo trực tiếp cho Mười Hương biết!...
[ * Ghi chú thêm: năm 2002, về VN, tôi đã có dịp gặp lại Phạm Xuân Ẩn tại tư gia của anh ở đường Yên Đỗ (nay gọi là Lý Chính Thắng). Được biết, sau ngày 30.4.75, anh đã được CSBV phong quân hàm cấp tướng, và nay thì đã trở thành một viên tướng hồi hưu mà mồ đã xanh cỏ!...]
MƯỜI HƯƠNG ĐÃ BỊ VÂY BẮT NHƯ THẾ NÀO? TẠI SAO ĐƯỢC THẢ?
Như trên tôi đã kể , Mười Hương vào Nam khoảng tháng 9.54 cùng một chuyến bay với Lê Đức Thọ để hoạt động điệp báo chiến lược do chính Hồ Chí Minh, Trường Chinh và Phạm Văn Đồng ủy thác. Nhưng chưa đầy bốn năm sau, khoảng tháng 6.1958, Mười Hương đã bị cơ quan Mật Vụ cuả BS Trần Kim Tuyến bố trí vây bắt được tại một điểm hẹn ở Gò Vấp.
Nên nhớ đưới thời đệ nhất CH, khả năng tiêu diệt cán bộ CS nằm vùng cuả cô quan Mật Vụ rất hiệu nghiệm. Một số cán bộ cao cấp, nếu không bị bắt,[ thí dụ như: các điệp viên Minh Văn, Hội, và điệp viên tên Hoàng, trưởng phòng tình báo khu V], hay bị chiêu hồi, ra đầu thú, [thí dụ như các tên Lâm, Đạt, phó bí thư Thưà Thiên, Thưởng , tiểu đoàn trưởng, và tên Thống, trưởng ban kinh tài khu V], thì cũng tìm mọi cách "chui thật sâu" để chờ đợi thời cô.
Trường hợp con cá bự Mười Hương bị sa lưới chính vì một đồng chí cuả ông ta đã bị cơ quan Mật Vụ Phủ Tổng Thống khống chế, rồi thả ra cho làm cò mồi để nhử bắt Mười Hương. Sơ lược cuộc bố trí vây bắt diễn tiến như sau:
Mười Hương đã được chánh trị bộ thả vào Nam làm gián điệp không bao lâu thì đảng và nhà nước lại bí mật tăng phái thêm một điệp viên có tầm vóc nưã, tên Tam ( dĩ nhiên chỉ là ngoại danh như hầu hết các điệp viên CS ), vào Nam, với nhiệm vụ phụ tá xứ ủy đặc trách ngành tình báo, để phối hợp hoạt động trong mạng lưới tình báo chiến lược do Mười Hương lãnh đạo. Nhưng không may cho Tam, khi mới xâm nhập vào tới Quảng Trị, đã bị Đoàn Công Tác Đặc Biệt Miền Trung do Dương Văn Hiếu và Thái Đen chỉ huy, dưới hệ thống cuả sở Mật Vụ Phủ Tổng Thống, bắt được. Điệp viên Tam bị khai thác mạnh, chịu không nổi, nên đã cung khai hết sự thật và chấp nhận hồi chánh.
Cơ quan Mật Vụ phủ Tổng Thống liền xếp đặt một kế hoạch thật tinh vi, bí mật đem Tam vào Sài Gòn, rồi thả ra cho làm " cò mồi" để nhử bắt các đồng chí cộng tác trong mạng lười gián điệp với đưông sự.
Sự bố trí cuả sở Mật Vụ khéo léo đến mức tất cả cán bộ cao cấp trong guồng máy gián điệp cuả CS ở miền Nam không một ai nghi ngờ gì về hành động cuả Tam. Riêng Mười Hương, là người phải phối hợp công tác chặt chẽ với Tam, sau nhiều lần gặp gỡ tại những điểm hẹn bí mật ở Phú Nhuận, với con mắt tinh ranh già dặn cuả một điệp viên thượng thặng cũng không phát hiện được một dấu hiệu phản bội nào trong các hành động, ngôn ngữ và cử chỉ cuả Tam. Vì thế, đến một cuộc hẹn bí mật quan trọng cuối cùng tại một cơ sở ở Gò Vấp, Mười Hương đã bất ngờ bị nhân viên Mật Vụ PTT vây bắt tại trận.
Thoạt tiên, Mười Hương đã bị Mật Vụ đem về giam trong một nhà kho cũ cuả Bảy Viễn ở Bình Xuyên. Cuộc thẩm vấn sơ khởi Mười Hương đã do Dương Văn Hiếu, giám đốc Cảnh Sát Đặc Biệt ( mới thăng chức) và TT Khanh, giám đốc sở Hoạt Vụ cuả tổng Nha Cảnh Sát QG đích thân khai thác. Sau đó ít lâu, Mười Hưông được đem ra Huế, giam tại nhà lao Toà Khâm...
Sau ngày 1.11.63, sau khi đã thủ tiêu hai anh em ông Ngô Đình Diệm và truy lùng bắt giam những người đã cộng tác mật thiết với chế độ cũ, dù là đã có công rất lớn trong việc tiểu trừ CS, các tướng làm " cách mạng" như: Minh, Khánh, Đôn, Xuân, Kim, Khiêm, Có, Thiệu , Kỳ v.v... còn tìm cách " giải phóng " luôn cho các cán bộ CS cao cấp nằm vùng ở miền Nam, trong số đó có Mười Hương.
Theo tôi, việc các tướng thả Mười Hương ra ngay sau ngày 1.11.63 chẳng phải do dốt nát, nhầm lẫn vô tình, hay do sơ xuất trong cuộc điều nghiên, mà bởi do một chủ trưông đã được xếp đặt có bài bản lớp lang hẳn hoi cuả hai tướng Dưông Văn Minh ( quốc trưởng) và Nguyễn Khánh ( thủ tướng).
Đây là những sự kiện cụ thể, xin bạn đọc hãy lấy trí thông minh cuả mình mà phán đoán, chớ đừng vội nghe theo tôi mà buộc tội các tướng này oan uổng!
Lúc bấy giờ các tướng lãnh Sài Gòn cho phép dùng một chuyến xe lưả đặc biệt chở hết các tù nhân CS đang bị giam giữ trong các nhà giam ở Huế, như: Thừa Phủ, Toà Khâm, Chín Hầm, Mang Cá v.v...về Sài Gòn. Một số đem giam ở Chí Hoà, một số khác giam ở Tổng Nha Cảnh Sát QG, để lấy lại lời khai. Trong trường hợp này các cán bộ CS đều được phép đảo cung. Dĩ nhiên, lẫn lộn trong số đó gồm cả thảy 22 cán bộ CS nằm vùng cao cấp nhất, Mười Hưông cũng được bố trí cho phép đảo cung và kêu oan. Mười Hương vẫn giữ nguyên danh tánh là Trần Ngọc Ban, nhưng thay đổi chút đỉnh về lý lịch, nhận là một giáo viên dạy tư, không hề biết gì về chánh trị, con cuả bà Lê Thị Nhiễm [một cán bộ cô sở cuả CS] có chồng đã chết cũng họ Trần. Trước Hội Đồng An Ninh QG, Mười Hương cực lực phủ nhận tội trạng, cho rằng đã bị Mật Vụ cuả chế độ Ngô Đình Diệm bắt oan và dùng biện pháp tra tấn cực hình cưỡng bách nhận tội...
Chỉ cẩn đảo cung khơi khơi như thế là Mười Hương liền được các tướng ra lệnh trả tự do cho đưông sự và không quên dạy đưông sự bằng câu sáo rỗng phường tuồng:" sau khi về nhà rồi phải nhớ hết lòng " phục vụ quốc gia" nghen!"
Được các tướng ban ơn trả tự do, Mười Hương về ngụ tại nhà cuả bà Nhiễm ở quận 3, mỗi tháng ngoan ngoãn đến ty cảnh sát trình diện một lần cho có lệ. Nhưng thực sự, sau khi được phóng thích Mười Hương chỉ đi trình diện có một lần duy nhất.
Đến tháng sau, khi cục R đã bố trí hoàn bị đường giây đưa Mười Hương vào mật khu ở Củ Chi, thì Mười Hương không còn phải đi trình diện cảnh sát nưã. Vào tới căn cứ Củ Chi, Mười Hưông đã được ngay các đồng chí cán bộ cao cấp ở miền Nam gồm: Nguyễn Chí Thanh, Nguyễn Văn Linh, Trần Văn Trà, và Trần Văn Danh...túc trực đón chào.
Sau đó ít lâu, Mười Hương đã được chánh trị bộ rút về Hà Nội và đích thân Hồ Chí Minh đã cho phép Mười Hương đi Âu Châu một chuyến để "bồi dưỡng" và đoàn tụ với vợ. Đến năm 1968 Mười Hương lại trở vào miền Nam hoạt động với công tác an ninh miền. Đến năm 1970, Mười Hương được chuyển qua thường vụ T, giữ nhiệm vụ trưởng ban an ninh T 4 với các công tác đặc biệt là: diệt ác ôn, đánh bại thế chánh trị cuả miền Nam, tiến hành và phát triển hoạt động điệp báo ngay trong lòng địch...
Sau ngày 30.4.75, Mười Hương được cử làm phó bí thư thành ủy TP Hồ Chí Minh, đặc trách an ninh. Không lâu sau, trong khoá 4, Mười Hương được trở thành Uỷ viên trung ưông đảng , và lần lượt giữ các chức vụ: Phó bí thư thành uỷ TP Hà Nội, tổng cục trưởng Tổng Cục Du Lịch, phó ban Thanh tra Nhà Nước, trưởng ban Nội Chính Trung Ưông...
NHỮNG THÀNH QỦA CHIẾN LƯỢC DÂNG CHO CSBV
Sau khi đã chiếm trọn miền Nam VN, theo tiết lộ của Nguyễn Huy Dân, ủy viên UBBĐV của TUCMN, trong cuộc đảo chánh thành công ngày 1. 11. 63, Dương Văn Minh đã tạo được những thành tích quan trọng , đáng dùng làm những món qùa tinh thần dâng lên cho Bác và đảng như sau :
- Thành tích đặc biệt có lợi cho công cuộc trường kỳ kháng chiến của quân dân cả nước dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là : Dưông Văn Minh đã can đảm ra lịnh hạ sát cả 2 anh em Diệm -Nhu , như chặt rắn mất đầu, để các lực lượng võ trang ở miền Nam không còn một lãnh tụ chánh trị nào xứng đáng nữa.
- Khi vừa lên giữ chức quốc trưởng, Dưông Văn Minh đã tìm cách phóng thích ngay Mười Hưông, vốn đã bị bắt giam từ thời đệ nhất CH, và trả tự do cho Tống Thị Lý, can tội giết chồng, chủ tiệm giày Nam Việt, sau dinh gia Long…
- Nhưng nghiêm trọng nhất là Dương Văn Minh đã hạ lịnh triệt tiêu 16.000 ấp chiến lược trên toàn thể lãnh thổ miền Nam. Đây là một thành tích cực kỳ lớn lao, đã đóng góp đắc lực trong công cuộc tái sinh các kế hoạch du kích chiến của TUCMN.Từ đây, các lực lượng vũ trang nhân dân của TUCMN đã có thể lần hồi khôi phục được sinh lực , sống với dân như cá với nước , khiến các mũi nhọn tiến công của Mỹ và Ngụy bị vô hiệu hóa đến 80 %. Về sau, để khắc phục sai lầm này, chế độ Thiệu-Kỳ mới đẻ ra " chiến dịch PHƯỢNG HOÀNG " do Williams E. Colby, nguyên giám đốc CIA chủ xướng. Nhưng kết qủa vẫn không đáng cho các lực lượng võ trang nhân dân của CS lo ngại.
- Về mặt chiến lược, khi bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mc. Namara đề nghị ném bom nổ chậm xuống đê sông Hồng , ở miền Bắc, để làm cho miền Bắc bị nạn lụt lội, bị mất mùa , dân chúng đói khổ, tinh thần chiến đấu của quân đội nhân dân miền Bắc bị suy giảm. Nhưng Dương Văn Minh đã cưông quyết lắc đầu, trả lời Mac Namara :" Tôi không muốn đồng bào miền Bắc bị đói !".
Nhờ công trạng đó , mà cuộc chiến của quân đội nhân dân miền Bắc vẫn tiếp tục duy trì cường độ, áp lực Mỹ Ngụy phải bước đến bàn hội nghị.
- Sau hơn 10 năm sống lưu vong ở Thái Lan, khi về nước Dương Văn Minh đã có công tập họp các lực lượng đấu tranh chống Mỹ và Ngụy quyền ở Sài Gòn , và nhất là đã có công bảo vệ các cơ sở nội tuyến của cách mạng, để chờ thời cô hành sự.
KÉO BÈ KẾT CÁNH LẬP THÀNH PHẦN THỨ 3 TOÀN LÀ CÁN BỘ CS NẰM VÙNG NGƯỜI MIỀN NAM !
Trong thời gian ông Minh bị 2 ông Thiệu- kỳ đày sang Thái Lan, tôi đã sang Thái nhiều lần, nhờ anh Nguyễn Văn Ứng , nhân viên của toà đại sứ VN tại Bangkok, đưa đến nhà ông Minh , để thăm ông. Dịp này ông Minh đã nói với tôi:
-" Em à, em về nói với 2 ông Thiệu- Kỳ cho qua về nước. Qua không làm chánh trị nữa đâu. Qua nhớ nhà.Qua về, chỉ lo vui tuổi gìa với vườn Lan thôi !"
Chẳng bao lâu sau khi ông Minh về nước, tôi thấy trong nhà ông đã dập dìu tấp nập toàn những người miền Nam , như : Lý Quí Chung , Ngô Công Đức, Nguyễn Hữu Chung , Dưông Văn Ba, Hồ Ngọc Nhuận, Hồ Ngọc Cứ, Võ Long Triều, Lý Chánh Trung, Trần Ngọc Liễng, Huỳnh Tấn Mẫm, nghị sĩ, cựu đại tá Hồng Sôn Đông, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh,và Triệu Quốc Mạnh, phó biện lý toà sô thẩm Gia Định...Đám này đã họp thành một khối chánh trị mệnh danh " thành phần thứ 3 ", mang màu sắc trung lập, nhưng thực chất đều là bọn CS nằm vùng,hoặc thân cộng.
[ghi chú: Măm 2004, Lý Qúi Chung, rất năng nổ và đắc lực nhất trong nhóm " thứ 3" của Dưông Văn Minh đã viết một quyển hồi ký. Nhưng vừa in xong liền bị chính quyền CS tịch thu hết. Tuy nhiên quyển sách này đã nằm trong tay tôi. Nay mai tôi sẽ lần lượt công bố trọn vẹn, để đồng bào có thêm dữ kiện phán xét về " thành phần thứ 3" của Dưông Văn Minh]…
Trong côn dầu sôi lửa bỏng ở Sài gòn , ông Minh đã vội vàng phong ngay cho chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, một sĩ quan đã giải ngũ, nằm vùng cho CS , đảm nhiệm chức vụ trọng yếu phụ tá tổng tham mưu trưởng , dưới quyền của Vĩnh Lộc. Đồng thời , ông còn phong cho Triệu Quốc Mạnh, một tên cán bộ CS , lãnh chức giám đốc cảnh sát đô thành. Ngoài ra ông Minh còn liên lạc chặt chẽ với Lê Đức Thọ, Võ Văn Kiệt... qua trung gian của người em tên Dưông Văn Nhựt, bí danh Mười Ty. Việc này đã được ông Jen-Marie Mérillon cựu đại sứ Pháp ở miền Nam tiết lộ rồi….
ĐẶNG VĂN NHÂM
Theo: Phamvietdao
 

Trần Quốc Hương-"Kiến trúc sư" trưởng của một mạng lưới tình báo
"Kiến trúc sư" Trần Quốc Hương.

Ngồi chờ ở phòng khách của Khu biệt thự Hồ Tây, tôi mường tượng rằng ông - một huyền thoại tình báo đã đi vào lịch sử sẽ là một người quắc thước, mạnh mẽ và dĩ nhiên, có phần nghiêm nghị. Để rồi, khi đồng chí Phạm Văn Hùng - sĩ quan bảo vệ mời ông vào phòng, tôi đã ngỡ ngàng khi trước mặt là ông cụ nhỏ nhắn, đẹp lão, với nụ cười hiền hậu, phong thái nhẹ nhàng, thấm đẫm văn hóa phương Đông.


Với chiếc áo khuy ngang màu ngà và tấm khăn rằn quàng cẩn thận trên cổ, trông ông hệt một ông già phương Nam giản dị. Trong câu chuyện, mỗi lần kể về mẹ hay những người phụ nữ đã giúp đỡ ông trong cuộc đời hoạt động cách mạng và thay ông chịu bao đau khổ, ông đều không giấu nổi nghẹn ngào. Ông - “kiến trúc sư” của một mạng lưới tình báo với những chiến công đã đi vào lịch sử đây ư? Câu hỏi ấy cứ vang lên trong đầu tôi suốt cuộc chuyện trò.
Con đường trở thành nhà tình báo
Nhắc đến các nhà tình báo nổi tiếng như Phạm Xuân Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Lê Hữu Thúy, Phạm Ngọc Thảo – những người mà tên tuổi đã vượt ra khỏi biên giới vì sự cống hiến của họ cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, không thể không nhắc đến ông - người mà mỗi chiến công của các điệp viên huyền thoại ấy đều gắn bó với sự chỉ đạo mang tầm chiến lược của ông. Đó chính là nhà tình báo Trần Quốc Hương, còn gọi là Mười Hương - Ủy viên Trung ương từ khóa IV đến khóa VI, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương và đã được trao tặng  - Huân chương cao quý nhất.
Tên thật của ông là Trần Ngọc Ban, quê ở Vụ Bản, Bình Lục, Hà Nam. Là con trai út một gia đình tư sản, nhưng ông lại tham gia cách mạng từ rất sớm, lúc mới 13 tuổi, nhờ sự giác ngộ của người thầy học Nguyễn Đức Quỳ - sau là Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, rồi Thứ trưởng Bộ Văn hóa. Được thầy Quỳ giới thiệu, ông lên Hà Nội gặp các ông Trường Chinh, Lê Toàn Thư, Hoàng Đình Tuất rồi gặp Bác Hồ và càng ý thức rõ hơn về việc tham gia cách mạng của mình.
Năm 1941, ông bị Pháp bắt cùng với ông Nguyễn Thọ Chân  vì treo cờ Cộng sản và rải truyền đơn, rồi bị tống giam hơn một năm trước khi ra tòa án binh của Pháp. Nhưng do còn nhỏ tuổi, ông đã được trả tự do với lời cảnh báo của một mật thám Pháp: “Đừng thấy nó nhỏ tuổi mà coi thường, Cộng sản đã ăn vào máu của nó rồi”. Năm 1943, ông đã trở thành đảng viên Đảng Cộng sản. Trước và sau Cách mạng tháng Tám, ông làm thư ký riêng của Tổng Bí thư Trường Chinh và là một trong những người chuẩn bị chu đáo cho buổi ra mắt quốc dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ lâm thời tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945.


Ông Mười Hương trong chương trình giao lưu "Ký ức thời hoa lửa" tổ chức tại Học viện cảnh sát nhân dịp 30/4/2008.
Ông vẫn còn nhớ rõ vì sao mình bước chân vào nghề tình báo: “Khoảng tháng 7/1954, Xứ ủy Nam Kỳ cử đồng chí Lê Đức Thọ ra gặp Trung ương để bàn về chiến lược cách mạng và xin Trung ương cử tôi vào đó. Tổng Bí thư Trường Chinh xin ý kiến và được Bác Hồ đồng ý. Anh Trường Chinh gặp tôi giao nhiệm vụ và nói: “Khó khăn nhiều lắm đấy, đi không biết bao giờ trở lại. Phải suy nghĩ cho kỹ, nếu thấy đi không được thì cứ báo cáo, Trung ương không ép”. Bác Hồ cũng gặp tôi dặn dò: “Công việc thì các chú khác đã dặn chú kỹ rồi, xem làm được thì nhận và đã nhận thì đừng phụ lòng Trung ương, đi sao nhớ về vậy!”.
Thế là ông nhận nhiệm vụ. Rồi ghé về thăm mẹ, bởi ông hiểu rằng, với việc ra đi của ông, không ai khổ hơn mẹ. Thấy con đột ngột trở về, linh cảm của người mẹ cho bà cụ biết sẽ là khởi đầu một cuộc chia tay dằng dặc, nên cụ lặng lẽ nấu một nồi cháo thịt cho con ăn, rồi giục ông đi ngủ. Ông nghẹn ngào nhớ lại: “Tôi nằm nghỉ trên tấm phản, mẹ ngồi bên cạnh âu yếm rờ nắn khắp mặt mũi, chân tay tôi. Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn còn cảm thấy hơi ấm nóng từ những giọt nước mắt của bà rơi trên mặt tôi đêm đó”. Không ai ngờ chuyến đi ban đầu dự định chỉ 6 tháng, đã kéo dài tới 10 năm.
Vào Nam, lạ nước lạ cái, nhưng ông may mắn được các đồng đội thân thiết, nhất là ông Phan Trọng Tuệ - từng là bạn tù và ông Lê Toàn Thư giúp nắm bắt tình hình để cùng ông Mai Chí Thọ và Cao Đăng Chiếm nhanh chóng mở các lớp huấn luyện nghiệp vụ tình báo.
Năm 1958, ông sa vào tay giặc. Biết ông là cán bộ cao cấp, anh em họ Ngô tìm cách “chuyển hướng” tư tưởng để sử dụng. Đích thân Ngô Đình Nhu bố trí gặp ông tại nhà nghỉ mát của Ngô Đình Cẩn ở cửa Thuận An (Huế) để hòng lung lạc. Không khuất phục được, chúng đã đưa ông vào danh sách 200 tù nhân cần thủ tiêu, nhưng chưa kịp thực hiện thì cuộc đảo chính Diệm xảy ra.
Ông nhớ lại những ngày tháng ấy: Chúng liên tiếp hỏi cung cả ngày lẫn đêm, không cho ngủ, nếu ngủ gật là chúng đánh, nhằm làm cho ông căng thẳng tinh thần đến không chịu nổi. Ông bảo, nó muốn thế thì mình phải trụ vững. Cơm tù chỉ có một đĩa nhỏ, chúng còn trộn muối sống vào, thì ông lựa từng hạt cơm để ăn có sức mà tranh đấu. Hơn nữa, “đôi mắt trong veo của cậu con trai đầu lòng nhìn tôi lúc chia tay thường hiện về, góp phần động viên tôi đủ nghị lực không sa ngã trước quân thù. Chỉ vì một lẽ đơn giản đến khó tin là, tôi sợ mình không dám nhìn vào đôi mắt đó khi gặp lại, nếu không giữ được khí tiết cách mạng”.
Người thầy của những nhà tình báo anh hùng
Với vai trò một “kiến trúc sư” của một mạng lưới tình báo, ông Mười Hương là người có tầm nhìn sâu sắc, toàn diện và tinh tế về thế mạnh, khả năng làm tình báo và phẩm chất của từng người. Trước khi vào Nam, qua sự giới thiệu của ông Nghĩa, Bí thư tỉnh Thái Bình, ông Mười Hương đã xây dựng ông Vũ Ngọc Nhạ làm cơ sở. Đây là nước cờ quan trọng cho một kế hoạch dài hơi mà ông tính đến, xứng danh một nhà tình báo chiến lược.
Nhận nhiệm vụ trong Ban Địch tình Xứ ủy, với vỏ bọc là giáo viên dạy tư tại Sài Gòn, ông Mười Hương đã móc nối thành công với điệp viên Vũ Ngọc Nhạ để triển khai tiếp kế hoạch đã vạch. Thực hiện chỉ đạo của ông Mười Hương, ông Vũ Ngọc Nhạ đã chiếm được lòng tin của Giám mục Lê Hữu Từ - Giám mục giáo xứ Phát Diệm, trở thành người đại diện trong quan hệ với chính quyền họ Ngô rồi gây được ảnh hưởng trong gia đình Diệm, tạo nên những chiến công lừng lẫy trước khi bước vào tiểu thuyết “Ông cố vấn” nổi tiếng của nhà văn Hữu Mai.
Với điệp viên xuất sắc Lê Hữu Thúy (Đại tá, Anh hùng LLVTND, nguyên mẫu của nhân vật Lê Nguyên Vũ trong “Điệp viên giữa sa mạc lửa” của Nhị Hồ), ông Mười Hương khai thác triệt để sự thông minh lanh lợi, sự hiểu biết cũng như các mối quan hệ của Lê Hữu Thúy với các nhân vật chóp bu trong chính quyền Diệm, tạo nên vỏ bọc vững chãi cho điệp viên này chui sâu vào hàng ngũ của địch, phục vụ các yêu cầu của cách mạng.
Khi đã chiếm trọn lòng tin của Tổng trưởng Nội vụ Huỳnh Văn Nhiệm, rồi chinh phục cả Bảy Viễn - thủ lĩnh Bình Xuyên lẫn Năm Lửa - tướng của Hòa Hảo, Lê Hữu Thúy đã thành công trong việc khơi sâu mâu thuẫn giữa các tổ chức giáo phái với chính quyền họ Ngô, buộc Diệm phải mất rất nhiều thời gian cùng binh lực để ổn định tình hình, tạo thời cơ cho cách mạng miền Nam có thêm thời gian và điều kiện xây dựng, củng cố lực lượng.
Với từng đường đi nước bước của chiến lược gia Mười Hương, điệp viên Phạm Ngọc Thảo đã tiếp cận Ngô Đình Diệm và bằng tài năng cá nhân, nhanh chóng được Diệm đặc biệt tin cẩn và trọng dụng, rồi leo cao trong chính quyền ngụy. Năm 1965, Phạm Ngọc Thảo đã tiến hành đảo chính định lật đổ Nguyễn Khánh nhưng việc không thành nên bị địch sát hại.
Nhìn thấy khả năng thiên phú của ông Phạm Xuân Ẩn, từ rất sớm, Mười Hương cùng ông Mai Chí Thọ quyết định đưa Phạm Xuân Ẩn sang Mỹ học nghề báo để về nước phục vụ cách mạng. Kế hoạch được thực hiện trọn vẹn khi với vỏ bọc này, nhà tình báo tài ba Phạm Xuân Ẩn đã có cơ hội diện kiến nhiều nhân vật quan trọng của cả Mỹ lẫn ngụy, để khai thác và chuyển về hậu cứ những thông tin có giá trị về các chiến lược đặc biệt của kẻ thù, giúp quân ta có kế hoạch đối phó và đập tan mọi âm mưu của địch và vững bước đến thắng lợi trọn vẹn.
Chiến công rất lớn của người thầy tình báo Mười Hương còn là, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, ông đã chỉ huy mạng lưới tình báo góp phần giải phóng Sài Gòn gần như nguyên vẹn, đỡ tốn xương máu.
Ông kể: “Lúc còn sống, đồng chí Lê Đức Thọ và một cán bộ tình báo đã gặp Dương Văn Minh để hỏi thẳng rằng, điều gì làm cho ông tuyên bố án binh bất động trong ngày 30/4/1975, thì Dương Văn Minh nêu nhiều lý do, trong đó cùng với lực lượng quân đội còn có sự tác động của một số nhóm thuộc lực lượng an ninh của ta”. 


Nhân dân Sài Gòn đổ ra đường hoan hô bộ đội giải phòng vào ngày 30/4/1975.
Thế nhưng, nhắc về những chiến công lẫy lừng ấy, “kiến trúc sư” Mười Hương giản dị: “Thành tích mà các anh ấy có được, là do sự lãnh đạo của Trung ương và các lực lượng cách mạng, do tài năng và lòng quả cảm của chính các anh đó, còn tôi chỉ là người được giao chắp nối các đầu mối. Hoạt động tình báo như diễn kịch và các nhà tình báo trên đã thực hiện xuất sắc vai diễn của mình”.
Phía sau hào quang
Không thể nói hết sự lớn lao trong những chiến công mà ông Mười Hương và đồng đội đã lập lên cho nền độc lập của dân tộc. Nhưng mấy ai biết rằng, phía sau vầng hào quang chói lòa ấy, là bao mất mát, hy sinh, thầm lặng nhưng dai dẳng, để đến hôm nay, nhắc lại thôi cũng đủ làm ông đau lòng.
Ngày ông vào Nam hoạt động, cả 2 đứa con còn nhỏ xíu. Vì yêu cầu bí mật, cuộc chia tay không hẹn ngày về của ông chỉ có vòng tay bịn rịn và cặp mắt trong veo, nhòe ướt của cậu con trai nhỏ. 10 năm không tin tức, vì nguyên tắc hoạt động và mất tới 6 năm ông ở trong tù. Trở ra Bắc, đứa con gái nhỏ lẫm chẫm bò lúc ông đi, chạy vuột khỏi tay cha: “Bà ngoại ơi, có ông nào đến nhận là bố con!”. Nhưng đau đớn nhất là ông phải đối diện với sự tan vỡ của cuộc sống tình cảm vợ chồng.
Lại thêm gần 10 năm nữa vào Nam hoạt động. Dằng dặc gần 2 thập niên ấy, các con ông tiếng là có cha nhưng rất ít khi được gặp chứ nói gì được ông chăm sóc. Nhưng cùng với các con, ông cũng chịu nhiều mất mát. Ngày đất nước thống nhất, mọi người hân hoan đoàn tụ, còn ông, nỗi cô đơn thấm tận đáy lòng. Ông không dám trách ai, bởi biết rằng, vì nhiệm vụ cao cả, ông đã không thể làm tròn vai trò của người chồng, người cha trong gia đình.
Cả cuộc đời ông cứ lặng lẽ hy sinh cho đất nước. Mãi gần 10 năm sau ngày giải phóng, đã ở tuổi 60, ông mới lại có được hạnh phúc muộn mằn Thanh Hằng
Nguồn: cand.com



Ông nói: Chỉ huy là Trung ương Đảng, là cả lực lượng cách mạng, còn tôi là người được giao lại các đầu mối. Các nhà tình báo giỏi, lập được nhiều chiến công lớn do tài năng của họ. Bởi công việc hoạt động bí mật, độc lập, không ai cầm tay chỉ việc được.
      Ghi chép. NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI
Ông tự nhận mình là người “chỉ trỏ” đường hướng thôi. Nhưng ai cũng biết, người chỉ huy trực tiếp mà vạch đường sai, kịch bản tính nhầm một bước là có thể tan nát hết.
Với nhà tình báo Lê Hữu Thúy, ông Mười Hương nhớ lại: “Lúc kháng chiến chống Pháp, anh Thúy là cán bộ công an. Đến cải cách ruộng đất, do gia đình thuộc tầng lớp trên nên anh bị đưa ra khỏi ngành. Nhưng ở Nha tình báo của ta, người lãnh đạo tài năng Trần Hiệu đã nhìn thấy con người anh Thúy có nhiều phẩm chất xuất sắc nên đã móc nối lại, tổ chức đưa anh Thúy đi Nam. Anh vào cùng đợt, làm việc với Vũ Ngọc Nhạ. Sau này khi cấp trên giao anh Nhạ cho tôi cũng giao luôn cả anh Thuý làm việc trực tiếp với tôi. Anh Thúy là cử nhân văn chương, quen nhiều quan chức cao cấp. Ngô Đình Diệm đưa anh vào giống như một phái viên Chính phủ bên cạnh Hòa Hảo. Khi xảy ra nhiều vụ lộn xộn giữa các giáo phái, chúng tôi nói anh vào với Bình Xuyên. Đám Bảy Viễn dùng anh liên lạc với Phòng nhì Pháp”.
Nằm sâu trong hậu trường sân khấu chính trị miền Nam, tình báo viên chiến lược Lê Hữu Thúy với tên hoạt động là Lê Nguyên Vũ đã sáng tạo, thận trọng thực hiện chính xác từng kế hoạch tinh vi củng cố được lòng tin của Diệm - Nhu. Dưới vai trò phụ tá cho tổng trưởng nội vụ Huỳnh Văn Nhiệm, cho giám đốc Sở nghiên cứu Chính trị - mật vụ Trần Kim Tuyến, cho Giám đốc Nha an ninh quân đội Đỗ Mậu, là những vỏ bọc bằng thép giúp cho Lê Hữu Thuý rất nhiều trong công tác tình báo của mình.
Ông Mười Hương đã “tìm ra” Vũ Ngọc Nhạ như thế nào? Trả lời câu hỏi này, ông Mười Hương kể: “Tôi biết anh Nhạ lúc chuẩn bị vào chiến dịch Điện Biên Phủ. Khi đó, ai cũng náo nức muốn tham gia chiến dịch lịch sử này. Nhưng tôi không được tham dự mà lại được phân công đi xuống khu tả ngạn để làm nhiệm vụ chọn cán bộ gài theo người di cư vào Nam. Tôi đã chọn được hai anh cán bộ của Thị ủy Thái Bình là Nhạ và Ruật”.
Ông Mười Hương đã gợi ý cho Vũ Ngọc Nhạ bám cha Quỳnh để qua đó thân được với cha Lê Hữu Từ là lực lượng Công giáo mà Ngô Đình Diệm rất cần nhưng không nắm được. Chính mối quan hệ này cho phép Vũ Ngọc Nhạ lập được nhiều chiến công sau này, tránh được nhiều nguy hiểm, thậm chí thoát chết trong gang tấc.
Khi Vũ Ngọc Nhạ bị bắt và chuyển về Toà Khâm ở Huế thì ông Mười Hương cũng đang bị bắt nhốt tại một phòng tối cách đó khoảng 200 mét. Ông đã bí mật tìm cách liên lạc, nhắn Vũ Ngọc Nhạ giữ nguyên vỏ bọc, cứ hướng cũ mà làm. Sau này, mối quan hệ của Vũ Ngọc Nhạ với gia đình họ Ngô được nâng cao.
Nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo dưới sự chỉ huy của Ban địch tình xứ ủy Nam bộ mà người trực tiếp chỉ đạo là ông Mười Hương. Nguyên tắc của Trung ương lúc đó rất chặt chẽ trong việc sử dụng tình báo. Dùng cán bộ cấp nào phải được cấp ủy nào đồng ý, không thể tùy tiện. Trường hợp Phạm Ngọc Thảo do đồng chí Lê Duẩn cho phép và giới thiệu. Trường hợp nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn cũng do đồng chí Phạm Ngọc Thạch trực tiếp giao nhiệm vụ.
Lúc đó, Ban địch tình xứ ủy (tiền thân của Ban An ninh miền Nam) gồm ba người: đó là ông Năm Xuân (tức Mai Chí Thọ), ông Cao Đăng Chiến và Mười Hương. Hai người kia không ở Sài Gòn được vì dễ lộ nên đã giao ông Mười Hương liên hệ với Phạm Ngọc Thảo, lúc đó ông đang có vỏ bọc là thầy giáo dạy kèm, có thể đi lại tự do. Ngày nhận nhiệm vụ, ông Mười Hương đến gặp Phạm Ngọc Thảo để bàn luận tìm đường lối hoạt động. Không thể để Thảo giấu đi cái lý lịch kháng chiến của anh ấy được - ông phân tích -  phải công khai điều đó. Vậy lý do gì anh ta từ bỏ kháng chiến về làm với đối phương. Và làm sao để họ tin? Hai người đã trao đổi với nhau và tìm ra những hướng hợp lý nhất.
Có khá nhiều lần ông Mười Hương và Phạm Ngọc Thảo gặp nhau ở Sài Gòn theo những ám hiệu mật. Cũng có một số chuyến ông xuống thẳng nơi Phạm Ngọc Thảo đang làm việc ở trụ sở. Đó là dạo Phạm Ngọc Thảo làm đại úy bảo an ở Sađéc. Thảo rất tích cực, lập nhiều mối quan hệ tốt. Anh còn cho biết ở vị trí của anh có thể cung cấp nhiều tin tình báo, không biết Trung ương có cần không. Tôi bảo anh: “Anh có nhiệm vụ là xây dựng ảnh hưởng, có lực lượng chính trị bên cạnh anh để dùng. Anh phát huy bằng uy tín chính trị của anh chứ đừng ham mê tổ chức thêm ai cả. Dễ bị lộ lắm. Đừng tham việc. Dứt khoát là không tổ chức cơ sở”. Phạm Ngọc Thảo có nói đến khả năng đảo chính xảy ra. Ông Mười Hương bảo: “Ý anh phân tích đúng rồi đó: sẽ có đảo chính. Vậy anh cứ tạo xung quanh mình lực lượng chính trị để tác động. Khi có đảo chính, anh có thế lực, dùng thế lực đó ảnh hưởng đến đám sĩ quan cao cấp. Anh tuyệt đối không tổ chức mạng lưới gì cả”.
Ông Mười Hương thấy rõ sau đó Phạm Ngọc Thảo đã thực hiện rất tốt. Được một thời gian thì ông bị bắt. Ông vẫn nhớ người chiến sĩ tài năng ấy: “Người vừa tầm, hơi đen, khỏe mạnh, linh hoạt và dũng cảm. Đã làm được nhiều kỳ tích. Sau khi tôi ra tù lúc Diệm đổ, theo đúng nguyên tắc, không liên lạc với anh ấy nữa. Nhưng tôi biết anh qua nhiều nguồn khác. Anh đã từng làm đến Tỉnh trưởng Bến Tre, thả cả ngàn cán bộ ta bị địch bắt”.
Còn công việc với nhà tình báo Phạm Xuân Ẩn thì thành công chủ yếu của ông Mười Hương là ở một cách nhìn chiến lược. “Lúc tôi vào Nam, anh Ẩn đang làm thư ký nhà đoan, đưa tin tức tình báo về việc quân Pháp vận chuyển vũ khí. Anh báo ra những tin tức tàu đến tàu đi, chở hàng hóa, vũ khí ra các miền. Ẩn giỏi tiếng Anh, sau đó làm ở cơ quan viện trợ Mỹ. Lúc bấy giờ, sau Hiệp định Giơneve, Mỹ đang thay chân Pháp. Tôi nghĩ: nếu anh Ẩn cứ đi theo con đường này, giỏi lắm leo lên đến đại tá, không phải chỗ ngon ăn. Tụi này là cơ quan chính trị, nó mà thanh trừng lẫn nhau, dễ chết lây sang Ẩn. Đối tượng của Cách mạng Việt Nam sẽ là Mỹ”. Khi được Phạm Xuân Ẩn dẫn tới nhà đám sĩ quan Mỹ mà Ẩn quen, ông Mười Hương thấy đám Mỹ này thích Ẩn lắm. Ông bèn bàn với Ẩn: “Phải chuyển thôi. Phải làm nghề tự do. Tôi nhớ ngày xưa Cụ Hồ đi hoạt động cũng làm tân văn ký giả”.
Ông nghĩ Phạm Xuân Ẩn phải đi học báo chí ở Mỹ, về viết báo Mỹ hẳn hoi chứ không phải chỉ về làm báo lá cải kiểu “Tiếng Chuông” cũng không ra gì. Anh phải được hiểu rõ văn hóa Mỹ, học cho được những cái hay của văn hóa, của con người Mỹ, để có thể viết và nghĩ như người Mỹ. Theo ông, nếu kết hợp văn minh Mỹ với nhân văn, văn hóa Việt Nam mới ra được con người như Phạm Xuân Ẩn. Thế là sau khi bàn bạc, xin ý kiến lãnh đạo của Trung ương, phương án đi Mỹ học báo chí của Phạm Xuân Ẩn hình thành. Nói lại chuyện này, ông Mười Hương nhắc đến bà cụ thân sinh ra Phạm Xuân Ẩn với bao nhiêu lời quý trọng: Công bà già lớn lắm. Anh ấy hoàn thành nhiệm vụ cũng do công bà mẹ đóng góp nhiều. Bà không nói năng, lẳng lặng nuôi con, chăm lo cho con với tình người mẹ thương con và yêu nước.
Chính khi Phạm Xuân Ẩn đang học ở Mỹ thì hầu như toàn bộ tổ chức trong nước bị chế độ Diệm đánh phá hàng loạt. Ông Mười Hương bị bắt và số phận chàng sinh viên Ẩn bị đe dọa nếu ông khai báo. Nhưng ông Mười Hương đã chịu đựng sự khốc liệt này, giữ nguyên được tổ chức và Phạm Xuân Ẩn hoàn thành việc học tập tại Mỹ.
Những năm tháng cả dân tộc bước vào chiến dịch quyết định cho ngày toàn thắng, ông làm gì?
Sau khi Diệm đổ, ông trở ra Bắc và trở vào Nam khi chuẩn bị chiến dịch Mậu Thân 1968 và năm 1970 làm Trưởng ban An ninh Sài Gòn Gia Định cho tới tận chiến dịch toàn thắng năm 1975.
“Công tác an ninh lúc đó phát triển mạnh, chuẩn bị cho chiến dịch lớn bằng cách xây dựng những lõm chính trị. Đó là những khu vực chính quyền Sài Gòn kiểm soát nhưng ta dựa vào phong trào thanh niên trốn lính và lính trốn, xây dựng những “lõm” liên hoàn thành một vành đai tròn ngoại thành, để lực lượng Cách mạng ra vào được dễ dàng, ta làm chủ được ban đêm. Đám ác ôn nào nổi lên là bị lực lượng vũ trang trấn áp liền. Đến năm 1975 thì các lõm này đã khép kín quanh Sài Gòn, tạo được hành lang từ căn cứ Củ Chi vào, làm đường vận chuyển vũ khí nhẹ vào nội đô. Ông Mười Hương thường đi dạo ở những vòng ngoài đó xuống cơ sở ở Củ Chi, Gò Vấp vào ban đêm, trụ lại trong hầm bí mật ở đó.
Một công việc nữa ông được đồng chí Nguyễn Văn Linh, lúc đó là Bí thư Trung ương Cục miền Nam, giao cho là tuyển chọn thanh niên, sinh viên của nhóm A10 cài vào hoạt động cùng lực lượng thứ ba, trong đó có họa sĩ Ớt tức Huỳnh Bá Thành. Vì Bộ Chính trị xác định cuộc đấu tranh cần phải diễn ra tổng hợp trên ba mặt trận: Chính trị, quân sự và ngoại giao. Đầu năm 1975, ông Mười Hương giao cho nhóm A10 nhiệm vụ cực kỳ quan trọng là thâm nhập sâu vào lực lượng thứ ba của Dương Văn Minh để tác động trong việc đầu hàng sau này.
Ngay khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, Thành ủy phân công từng đồng chí trong Thường vụ đi theo từng cánh. Ông Mười Hương phụ trách cánh phía Bắc. Từ Tân Bình, vào Quận 5, 6, vào các quận trung tâm, sang đến Bà Chiểu. “Tôi vào Sài Gòn, đưa anh em vào ém quân ở Tân Bình từ đêm 28 tháng 4. Ở với cơ sở, với nhiệm vụ khi nào thấy pháo bắn vào Tân Sơn Nhất thì phải giải tán được chính quyền Ngụy ở đó. Nhưng đến đêm 29, tề ngụy bỏ chạy hết”.
Đến bấy giờ ông còn nhớ như in không khí 30 tháng 4 đó: “Đang ở trong khu lao động người Hoa quận 11, tôi đi xe lam vào nội đô. Suốt dọc đường bà con bán cờ giải phóng treo rợp trời. Cứ y như cảnh tôi đã chứng kiến sự xuất hiện cờ đỏ sao vàng hồi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vậy”.
Đó là một phần sự thật về con người ông - Mười Hương - Trần Quốc Hương, và một phần sự thật về những nhà tình báo xuất sắc nhất của chúng ta. Sự thật, chứ không phải huyền thoại!             
     N.T.N.H
Ảnh trong bài: T.L

Nguồn Vannghequandoi

Huyền thoại tình báo Mười Hương

14/08/2011 08:57:36
- Mười Hương (tên thật là Trần Ngọc Ban) hồi đầu khi mới tham gia một số nhiệm vụ không hề ý thức được khả năng thiên phú của mình trong lĩnh vực tình báo, và cũng chưa khi nào nghĩ rằng mình lại trở thành một nhân viên tình báo. Nhưng sau này, những câu chuyện về cuộc đời hoạt động tình báo của ông đã trở thành huyền thoại.

Cuộc đời cách mạng khởi đầu từ sớm


Trần Ngọc Ban (tên thật của nhà tình báo Mười Hương) sinh ra trong một
gia đình có thế lực ở Phủ Lý, tỉnh Hà Nam. Tiếng là tư sản, nhưng cha ông, nhà thầu khoán Trần Ngọc Tân, lại mang nhiều nét chất phác, cần kiệm của người nông dân Bắc Bộ. Cậu bé Trần Ngọc Ban được cha cho đi học chữ Nho từ khi còn nhỏ. Thầy dạy của Ban chính là đồng chí Nguyễn Đức Quỳ, Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam, người đã giác ngộ Trần Ngọc Ban và đưa cậu đến với Cách mạng.

Với cậu, chủ nghĩa xã hội là một cái gì đó thật tuyệt vời, lung linh huyền ảo. Mới 14, 15 tuổi, Ban đã tích cực tham gia phong trào Thanh niên dân chủ. Học hết lớp nhất tại trường tiểu học Phủ Lý, Trần Ngọc Ban chuyển lên Hà Nội nhập học ở trường dòng phố Nhà Chung. Thời gian này anh đổi tên là Hương (sau này khi vào Nam công tác, anh mới được gọi là Mười Hương), nhiệt tình tham gia phong trào Hướng đạo và Hội truyền bá quốc ngữ.


Mười Hương - Trần Quốc Hương
Mười Hương - Trần Quốc Hương

Học được hơn hai năm, đến năm 1941 thì Mười Hương bị bắt vì tội treo cờ Cộng sản và rải truyền đơn kêu gọi ủng hộ Hồng quân Liên Xô. Mười Hương bị tống giam vào Hỏa Lò hơn một năm, sau đó bị đem ra xét xử tại tòa án binh của Pháp. Do chưa đến tuổi thành niên, mặt khác, anh trai Mười Hương cũng là một nhà thầu khoán có quan hệ rộng đã bỏ tiền lo lót cho em, anh được trả tự do.

Mười Hương được phóng thích có mang theo một lá thư của chi bộ trong tù giới thiệu anh với Ban thường vụ Trung ương. Mười Hương được sắp xếp cho đi học một lớp chính sách mới tại Bắc Ninh, sau đó anh được cử về công tác tại Ban cán sự Phúc Yên. ở trên đó một thời gian thì đồng chí Trường Chinh rút Mười Hương về An toàn khu.


Bối cảnh thế giới lúc đó hết sức phức tạp, phát xít Đức đã nuốt chửng hàng loạt nước Châu Âu và đang dồn sức tấn công Liên Xô. Nước Pháp sụp đổ và chia rẽ, De Gaulle phải lưu vong sang nước Anh lập chính phủ kháng chiến. Mười Hương được đồng chí Trường Chinh đặc trách giao cho việc giao thiệp với những người Pháp thuộc phái De Gaulle ở Đông Dương nhằm tranh thủ cảm tình của họ đối với phong trào dân tộc ở thuộc địa.


Trong đội ngũ lính lê dương của Pháp có một chi bộ Cộng sản của những người thuộc đảng Xã hội do một người Đức tên là Frey làm đại diện. Mười Hương đã tiếp cận được với Frey và khai thác được khá nhiều tin tức hữu ích. Sau đó, anh còn tổ chức thành công cuộc gặp giữa đồng chí Trường Chinh với nhóm những người Xã hội Pháp (trong đó có Caput, Chánh thanh tra học chính Bắc Kỳ, vốn là Bí thư đảng Xã hội Pháp tại Đông Dương, Frey, Borchers, Seyberlych và Thiếu tá Auriol, đại diện của tướng Mordant, chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Kỳ), để bàn về sự hợp tác tiến tới thành lập mặt trận chung chống phát xít.


Sau này Frey và Borchers đã rời bỏ hàng ngũ, đi theo những người Việt Nam kháng chiến chống Pháp, Borchers lấy tên Việt là Chiến Sĩ, còn Frey trở thành đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam Nguyễn Dân.


Hà Nội vừa giành chính quyền thành công, đồng chí Nguyễn Lương Bằng giao cho Mười Hương việc tổ chức ra báo Cờ giải phóng của Đảng. Mười Hương cũng là một trong những người đóng góp tích cực trong thành công của buổi lễ Tuyên ngôn độc lập của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phụ trách vấn đề an ninh bảo vệ.


Bất ngờ trở thành nhân viên tình báo


Kháng chiến bùng nổ, Trung ương lập G.L.A (Giao thông-Liên lạc-An toàn khu), đảm trách nhân khẩu báo chí, duy trì thông tin liên lạc từ Trung ương đi các chiến khu. Mười Hương về công tác tại bộ phận này từ năm 1946 đến 1948. Năm 1949, cuộc đời ông rẽ sang một bước ngoặt mới.


Trên thực tế, một số nhiệm vụ Mười Hương làm trước đó đã ít nhiều mang màu sắc tình báo nhưng ông không hề ý thức được khả năng thiên phú của mình trong lĩnh vực này và cũng chưa khi nào nghĩ rằng mình lại trở thành một nhân viên tình báo. Tình cờ một lần ông Trần Hiệu, Phó tổng giám đốc Nha Công an phụ trách tình báo gặp Mười Hương và lập tức nhận ra đây chính là người mà ông cần. Trần Hiệu bèn xin Mười Hương về với mình và được đồng chí Trường Chinh chấp thuận.


Sau một thời gian dài đi biệt phái, lăn lộn dưới các địa phương, Mười Hương nhận được một bức điện của Trung ương với nội dung: “Về ngay Văn phòng Trung ương”. Khi đó quân đội viễn chinh Pháp đã bị đánh quỵ tại trận Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ mang lại hòa bình cho Đông Dương sắp được ký kết. Ông vội vã thu xếp công việc, lên đường trở về chiến khu Việt Bắc.


Xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ của phong trào cách mạng miền Nam, đồng chí Lê Đức Thọ xin Trung ương biệt phái một cán bộ công tác địch hậu và người này phải có khả năng tranh thủ được giới trí thức tầng lớp trên. Xét thấy Mười Hương phù hợp với nhiệm vụ này, đồng chí Trường Chinh xin ý kiến của Bộ Chính trị, Hồ Chủ tịch và nhận được sự đồng tình ủng hộ. Hai đồng chí Trường Chinh và Phạm Văn Đồng gặp, trao nhiệm vụ cụ thể cho Mười Hương. Đích thân Bác Hồ cũng dự cuộc gặp quan trọng này. Mười Hương gấp rút về sửa soạn chờ ngày lên đường.


Ông ở nhà mấy hôm với vợ cùng cô con gái út và không khỏi suy nghĩ nhiều về trách nhiệm người chồng, người cha. Ông không thể tiết lộ công việc của mình dù ngay cả với những người thân yêu nhất. Ông chỉ nói với người vợ rất đỗi yêu quý rằng mình sắp đi công tác xa một thời gian.


Vừa chân ướt chân ráo vào đến nơi, đang lo lạ nước lạ cái, Mười Hương gặp ngay ông Phan Trọng Tuệ, Tư lệnh Quân khu 9, từng là bạn tù với nhau trước kia. Ngoài ra, Xứ ủy Nam Kỳ, ông Lê Toàn Thư cũng tỏ ra tâm đầu ý hợp với Mười Hương khiến ông vững dạ. Ông bắt đầu vào việc ngay với hai ông Mai Chí Thọ và Cao Đăng Chiếm.


Công việc đầu tiên là mở lớp huấn luyện tình báo, học viên chủ yếu tuyển lựa trong lực lượng công an. Thấm thoắt 6 tháng trôi qua, khóa huấn luyện đã kết thúc và cũng đến lúc Mười Hương phải quay ra Bắc. Nhưng đồng chí Lê Đức Thọ nói: “Xứ ủy xin anh ở lại, anh tính sao?”. Mười Hương trả lời: “Nếu Trung ương đồng ý thì tôi sẽ ở lại”. Vấn đề được trên chấp thuận, Mười Hương được phân công vào Ban Địch tình Xứ ủy, tiếp tục mở các lớp huấn luyện nghiệp vụ tình báo góp phần phục vụ cho yêu cầu của phong trào cách mạng.


Những học viên xuất sắc của nhà tình báo Mười Hương


Vũ Ngọc Nhạ


Sau khi đã ổn định chỗ đứng trong vai một giáo viên dạy tư tại Sài Gòn, Mười Hương tìm cách bắt liên lạc lại với Vũ Ngọc Nhạ, người mà ông đã gây dựng từ trước khi vào Nam. Sau khi ký kết Hiệp định Giơnevơ, làn sóng giáo dân di cư vào Nam bắt đầu, những đơn vị quân đội Pháp cũng lần lượt rút đi. Đây thực sự là cơ hội tốt để có thể cài người của ta vào tìm hiểu tình hình bên kia giới tuyến. Vũ Ngọc Nhạ hồi đó đang là lính công binh trong quân đội Pháp, đồng thời cũng có chân trong Thị ủy thị xã Thái Bình. Mười Hương đã qua ông Nghĩa, Bí thư tỉnh Thái Bình để gây dựng Vũ Ngọc Nhạ, ém mình chờ thời chuẩn bị cho những kế hoạch lâu dài. Mười Hương suy xét kỹ tình hình và thấy rằng, mặc dù Mỹ đổ tiền của vào dựng lên chính quyền Ngô Đình Diệm nhưng không phải đã nắm được tất cả, đặc biệt là các phe phái tôn giáo. Thiên Chúa giáo ở miền Nam bị chia rẽ sâu sắc, giám mục Lê Hữu Từ ở giáo xứ Phát Diệm là người của Pháp nhưng Phạm Ngọc Chi, giáo xứ Bùi Chi lại thân Mỹ. Anh em Ngô Đình Diệm muốn kéo Lê Hữu Từ về với mình nhưng ông ta không chịu nên xứ đạo Bình An bị Diệm - Nhu o ép cực khổ đủ bề. Theo gợi ý của Mười Hương, Vũ Ngọc Nhạ vốn là giáo dân đã khôn khéo chiếm được thiện cảm của Lê Hữu Từ và trở thành người đại diện của vị giám mục này trong việc giao thiệp với chính quyền Ngô Đình Diệm. Với vị thế sẵn có, Vũ Ngọc Nhạ dần dần gây được ảnh hưởng đối với anh em Diệm - Nhu, để rồi trở thành “Ông cố vấn” thân cận của chế độ gia đình trị của anh em nhà Ngô Đình Diệm. Ông đã triệt để khai thác những mâu thuẫn trong nội bộ chính quyền Diệm, cũng như những mâu thuẫn giữa chính quyền với các phe phái khác, lập những chiến công xuất sắc mà chúng ta đã biết qua tác phẩm Ông cố vấn của nhà văn Hữu Mai.


Lê Hữu Thuý


Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Mười Hương còn có một chiến sĩ điệp báo xuất sắc khác là Lê Hữu Thúy (tức Lê Nguyên Vũ), hoạt động trong lưới tình báo chiến lược H10-A22. Lê Hữu Thúy là một minh chứng hùng hồn cho quan điểm về lợi dụng, khai thác mâu thuẫn trong lòng kẻ địch của nhà tình báo Mười Hương.


Cũng là một trí thức gốc Bắc di cư vào, Lê Hữu Thúy có một số bạn bè hiện đã nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền Ngô Đình Diệm. Qua Huỳnh Văn Trọng, Đổng Lý Văn phòng Bộ Nội vụ Chính phủ Ngô Đình Diệm, với vốn trí thức quảng bác và năng lực bẩm sinh của một chiến sĩ tình báo, Lê Hữu Thúy đã giành được thiện cảm của Tổng trưởng Nội vụ Huỳnh Văn Nhiệm. Nhiệm tin cậy, cử Lê Hữu Thúy làm “công cán ủy viên” của Bộ Nội vụ liên lạc với các phe Bình Xuyên, Cao Đài, Hòa Hảo theo “chức phận” của mình, Lê Hữu Thúy đã chiếm được lòng tin tuyệt đối của thủ lĩnh Bình Xuyên Bảy Viễn và tướng Hòa Hảo Năm Lửa.


Năm Lửa tin và nể phục tài năng của Lê Hữu Thúy đến mức phong ông làm cố vấn đặc biệt cho mình. Lê Hữu Thúy đã “khích” cho các tổ chức Cao Đài, Bình Xuyên, Hòa Hảo bất hòa với Diệm. Năm Lửa, Bảy Viễn đồng loạt từ chức, rút lui khỏi chính phủ, thành lập “Mặt trận thống nhất toàn lực quốc gia” chống Diệm.


Anh em nhà họ Ngô đã phải mất hai năm trời, hao tổn rất nhiều tiền của và binh lực mới tạm dẹp yên được những viên tướng nổi loạn. ý đồ chiến lược của Trung ương đã thành công, trong khi Diệm lo bình định các phe phái cát cứ, Cách mạng miền Nam đã có đủ thời gian, điều kiện xây dựng và củng cố lực lượng, đưa phong trào đấu tranh lên một tầm cao mới.


Phạm Ngọc Thảo


Tìm hiểu kỹ con người Ngô Đình Diệm, Mười Hương đã khuyên Phạm Ngọc Thảo nên lợi dụng chiêu bài “tinh thần yêu nước và chính nghĩa quốc gia” của Ngô Đình Diệm để tiếp cận Ngô Đình Diệm. Quả nhiên bằng cách này, Phạm Ngọc Thảo đã chiếm được thiện cảm đặc biệt của Diệm. Diệm hết sức trọng dụng, cử Phạm Ngọc Thảo làm tỉnh trưởng Bến Tre với những đặc quyền trước nay chưa từng dành cho ai. Diệm tín nhiệm gửi ông ra nước ngoài học tập.


Phạm Ngọc Thảo đã chui sâu, leo cao trong chính quyền ngụy Sài Gòn. Ông đã tiến hành cuộc đảo chính tháng 2 năm 1965 nhằm lật đổ Nguyễn Khánh nhưng bất thành, ông bị bắt và bị địch sát hại.


Phạm Xuân Ẩn


Một thành công nữa của nhà tình báo Mười Hương là đã gây dựng được một điệp viên vô cùng lợi hại ngay trong văn phòng đại diện của tuần báo Time tại Sài Gòn. Mười Hương nhớ năm 1946, Bác Hồ có nói với đồng chí Trường Chinh rằng, nhà báo là người rất có thế lực. Nhà báo có thể tiếp xúc với bất kỳ hạng người nào trong xã hội, kể cả gặp tổng thống cũng không phải việc khó khăn và nhờ đặc thù nghề nghiệp có thể nắm được rất nhiều thông tin.


Hồi đó, Hai Trung (tên thật là Phạm Xuân ẩn) đang làm thư ký trong một công sở. Ông rất thông minh, giỏi tiếng Anh và thường đi làm phiên dịch cho người Mỹ, rất được người Mỹ quý mến, tín nhiệm. Ký ức về câu chuyện của Hồ Chủ tịch năm nào đã gợi cho Mười Hương một ý tưởng táo bạo. Ông đề nghị Hai Trung đi Mỹ học nghề báo để phục vụ yêu cầu của cách mạng.


Từ Mỹ trở về, Hai Trung vào làm việc cho Văn phòng đại diện của tuần báo Time ở Sài Gòn. Với vị thế hết sức thuận lợi, Hai Trung có cơ hội tiếp xúc với nhiều nhân vật thuộc giới chóp bu của cả Mỹ và ngụy quyền. Chính ông là người nắm được và thông báo kịp thời cho Trung ương những chuyển hướng chiến lược quan trọng của Mỹ - ngụy như chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, để trên kịp thời điều chỉnh, giáng những đòn chí mạng, bẻ gãy mưu đồ thâm hiểm của chính quyền ngụy và quan thầy Mỹ.

Không thể nắn gân Mười Hương

15/08/2011 07:23:08
- Xem ra gặp phải một đối thủ quá rắn, không dễ gì lung lạc được, địch tống ông vào phòng tối suốt 24 tiếng không thấy ánh sáng mặt trời. Một hôm, tầm 9 giờ sáng, bốn tên lực lưỡng hầm hầm bước vào phòng giam. Chúng đóng ập cửa lại rồi thi nhau đấm đá Mười Hương túi bụi, ông hộc cả máu mồm, máu mũi, ngất lịm đi.

Bị phản bội và bị bắt

Tháng 6 năm 1958, Mười Hương không may rơi vào tay bọn mật vụ của
gia đình họ Ngô. Tai họa khởi nguồn từ việc một cán bộ tập kết tên là Tam được trên bí mật phái từ Bắc vào phối hợp hoạt động trong mạng lưới tình báo chiến lược do Mười Hương phụ trách. Khi đi qua Quảng Trị, Tam bị đám đặc vụ của Ngô Đình Cẩn bắt. Không chịu nổi đòn tra tấn, Tam đã sớm chiêu hồi và khai hết mục đích chuyến về Nam của y.

Tam bị khống chế, hợp tác với Cẩn, trở thành một con bài trong ván cờ mà Cẩn sắp đặt. Tam vào Sài Gòn đúng theo kế hoạch, không một ai trong các đồng chí của y phát hiện ra sự phản bội và y đích thực là một con rắn độc trong hàng ngũ. Tuy nhiên, qua một số biểu hiện bất bình thường, với linh cảm của người chỉ huy tình báo phải sống giữa bầy sói, luôn phải đối phó với bao cạm bẫy nguy hiểm xung quanh và cái chết thường trực, Mười Hương đã cảm nhận có điều gì bất ổn ở con người này.


Đã có lúc, ông toan báo cáo cấp trên và cắt liên lạc với y nhưng những biểu hiện trên lại chưa đủ xét đoán và kết tội một con người, hơn nữa từ khi Tam vào cũng chưa xảy ra chuyện gì nghiêm trọng. Mười Hương quyết định theo dõi Tam thêm một thời gian, ông tự nhủ từ nay phải thận trọng hơn và ông đã phải trả giá cho sự trù trừ của mình.


Bẵng đi một dạo, do nhu cầu công việc nên Mười Hương vẫn phải gặp Tam. Ông hẹn gặp y song vẫn cảnh giác đề phòng. Cuộc hẹn thứ nhất được ấn định tại một địa điểm ở Bà Chiểu, nhưng Mười Hương không đến. Cơ sở báo cáo lại rằng có thấy Tam tới chờ khá lâu, mãi mới lủi thủi quay về, cũng không thấy ai lảng vảng xung quanh khu vực này. Cuộc hẹn thứ hai diễn ra tại một cây xăng thuộc quận Phú Nhuận, lần này người không đến là Tam.


Huyền thoại Mười Hương
Huyền thoại Mười Hương

Sau hai lần hẹn mà không gặp được nhau, Mười Hương cho Tam biết ông sẽ gặp y ở một nhà cơ sở tại Gò Vấp. Đó là một căn nhà nằm sâu trong ấp, khá kín đáo. Mặc dù 9 giờ mới tới giờ hẹn, nhưng Mười Hương đến điểm hẹn lúc 8 giờ. Ông đảo qua một vòng, thấy ám hiệu đúng, không thấy động tĩnh gì khả nghi.

Đúng giờ, Tam xuất hiện. Mười Hương hỏi: “Sao lần trước hẹn gặp mà anh không đến?”. Tam lấy cớ biện bạch nhưng trông mắt rất thiếu tự nhiên. Mười Hương nhận ra rất nhanh đằng sau vẻ lúng túng của y đang che giấu âm mưu gì đó. Ông chìa cho Tam mấy tờ báo:


“Gặp nhau ở chỗ này e không tiện, hẹn anh ở cây xăng lần trước”. Dứt lời, ông sải bước. Vừa ra tới đường, thình lình một tiếng còi lanh lảnh huýt lên, bốn năm gã lực lưỡng nấp sẵn ùa tới trói quặt tay ông ra sau lưng, rồi choàng lên mắt ông một cặp kính tròng đen đã bị sơn kín. Mười Hương bị tống vào một chiếc xe bịt bùng và chạy thẳng.


Tuy không nhìn thấy gì, song qua tiếng gió khi xe chạy qua cầu, Mười Hương nhận thấy chúng đưa ông ra ngoại ô. Xe đỗ xịch, bọn mật vụ chẳng nói chẳng rằng đẩy Mười Hương vào một gian nhà tồi tàn, sập cửa lại, bên ngoài có một tên ôm súng gác. Ông nhận ra đó là khu nhà kho của thủ lĩnh Bình Xuyên Bảy Viễn trước đây ở Khánh Hội. Khoảng 9 giờ 30 phút, cửa mở, một tên lạ mặt bước vào.


Hắn kéo ghế ngồi, nhìn Mười Hương bằng cặp mắt sắc lạnh: “Ông tên gì?”, Mười Hương đáp: “Ông coi thẻ căn cước của tôi rồi còn gì”. Cái nhìn của kẻ thẩm vấn như khoan vào ông: “Không phải, ông bịp tụi tôi. Người ta đã khai hết về ông rồi. Ông là HG”. Mười Hương hơi chột dạ, đây là hai chữ viết tắt tên ông mà ông thường dùng khi gửi các báo cáo cho cấp trên. Không lẽ chúng biết tường tận về ông đến thế?


Tên lạ mặt thấy dường như nắn gân như thế là đủ, hắn đi ra. Đầu óc Mười Hương căng như sợi dây đàn... 9 giờ tối, Khanh, Giám đốc Sở Hoạt vụ và Dương Văn Hiếu, Giám đốc Cảnh sát đặc biệt của Ngô Đình Diệm tới gặp Mười Hương. Hiếu được Mỹ đào tạo, nổi tiếng là một kẻ nham hiểm. Hiếu và Khanh làm như đến thăm một người bạn cố tri, sau một hồi tán chuyện như vô tình hỏi: “Có phải ông là Mười Hương không?”.


Rồi không chờ ông trả lời, hai tên ra sức ca ngợi Mười Hương là một chỉ huy tình báo Việt Cộng tài giỏi và xuýt xoa: “Các ông Minh Vân và ông Hội bị bắt trước ông khen ông lắm đấy”. Mười Hương biết thừa chúng dùng đòn cân não để hù tinh thần. Ông điềm tĩnh đáp: “Phải, tôi chính là Mười Hương đây. Các ông muốn gì?” Hai vị khách đưa mắt nhìn nhau.


Mười Hương dõng dạc tiếp lời: “Bây giờ tôi đã là tù nhân của các ông. Tuy nhiên tôi tuyên bố có ba điều tôi quyết không làm dù có chết: Thứ nhất là tôi bị bắt không bao giờ tôi khai; thứ hai là không khi nào nói xấu Cụ Hồ; không nói xấu và chống miền Bắc là điều thứ ba.” Hiếu và Khanh tái mặt, nói ba láp dăm câu ba điều rồi lủi mất.


Hôm sau Mười Hương mới biết nơi này là trại giam của Ngô Đình Cẩn, các phòng khác đều có người bị nhốt. Khi tên gác dẫn ông đi tiểu, Mười Hương phát hiện thấy có mấy người quen đang ngồi đánh cờ. Ông nói: “Các ông chơi cờ vui quá nhỉ, coi chút được không?”, miệng nói, chân ông xáp ngay lại khiến tên gác không kịp ngăn.


Một người nói nhỏ: “Thằng Tam nó tố anh từ lâu rồi. Nó cũng đang bị nhốt ở đây”. Mười Hương hiểu ngay vấn đề. Vậy là khẳng định được Tam chính là kẻ phản bội, bán đứng anh em đồng đội. Tuy nhiên đối với hạng người này, Cẩn rất khinh và không tin hoàn toàn nên đã cho bắt giam cả Tam để xét hỏi kỹ càng.


Bị giam cạnh phòng Mười Hương là ông Hoàng, trưởng phòng tình báo Khu V. Mười Hương viết một bức thư, đại ý: “Thế nào người ta cũng giết tôi thôi. Nhưng “Nhân sinh tự cổ thủy vô tử. Tử ư quốc sự tử do sinh”. Tôi chỉ yêu cầu sau này có gặp vợ con tôi thì nói lại tôi chết rất thảnh thơi, hy vọng con cái học tốt”.


Viết xong, Mười Hương tìm cách búng thư vào cho ông Hoàng. Ông Hoàng thư lại: “Anh không nên nói thế. Có thể chúng sẽ đưa anh ra Huế”. Quả nhiên ông Hoàng nói đúng. Mấy hôm sau, Mười Hương bị áp giải ra sân bay, tống lên một chiếc máy bay quân sự, đưa thẳng ra Huế. Ông bị giam ở nhà lao Tòa Khâm khét tiếng của “hung thần miền Trung” Ngô Đình Cẩn.


Gặp phải đối thủ rắn


Bắt được một nhân vật quan trọng như Mười Hương, Cẩn rất muốn gặp nhưng lại sợ bị sỉ nhục sẽ không kiềm chế nổi bản thân dẫn đến hỏng việc lớn nên y sai Lê Khắc Duyệt, Giám đốc Cảnh sát Trung phần thay mình xử lý vụ này.


Thoạt đầu, chúng cho tên chiêu hồi như Thống, trưởng ban kinh tài Khu V, Đạt là phó bí thư Thừa Thiên và một tiểu đoàn trưởng tên là Thưởng... đến dùng lời lẽ ngon ngọt thuyết phục, lôi kéo Mười Hương “về với chính nghĩa quốc gia”. Những người này không những không thành công mà còn bị chính Mười Hương dồn cho cứng lưỡi và bị thuyết phục lại.


Chúng lại cho những tên khác thay nhau đến, đấu khẩu thâu đêm với Mười Hương với mục đích quần cho ông mệt, suy sụp về thể xác sau đó là suy sụp về tinh thần, cuối cùng phải đầu hàng. Nhưng thấy cũng không ăn thua chúng chuyển sang nhiều chiêu hành hạ khác.


Xem ra gặp phải một đối thủ quá rắn, không dễ gì lung lạc được, bọn chúng tống ông vào phòng tối suốt 24/24 tiếng không thấy ánh sáng mặt trời. Một hôm, tầm 9 giờ sáng, bốn tên lực lưỡng hầm hầm bước vào phòng giam. Chúng đóng ập cửa lại rồi thi nhau đấm đá Mười Hương túi bụi khiến ông hộc cả máu mồm, máu mũi, ngất lịm đi.


Ngày hôm sau, bọn đao phủ dùng gậy mây đánh ông thừa sống thiếu chết, rồi gí điện. Dã man hơn, chúng dằn ngửa nạn nhân trên ghế dài, vừa đánh vừa đổ nước, ném một mảnh khăn phủ mặt khiến người bị tra tấn thở không được, nước xộc lên mũi lên óc, đánh đến khi bất tỉnh nhân sự mới ngừng tay. Dù bị đánh rất dữ nhưng Mười Hương cương quyết không chịu hé răng khai một lời.

Mười Hương, trưởng ban an ninh T4 lừng danh

16/08/2011 07:04:31
- Ngô Đình Nhu thừa nhận mình không có trong tay một bộ trưởng nào am hiểu nhiều như người tù Cộng sản Mười Hương này. Anh em họ Ngô xuất thân từ dòng dõi quan lại phong kiến, rất khinh ghét những kẻ hèn nhát quỳ gối nhưng lại kính trọng những người biết giữ tiết tháo, dám xả thân vì nghĩa khí, kể cả đó là kẻ thù.

Đối thoại với Cẩn và Nhu

Những trận đòn dữ dội chấm dứt sau hai tuần lễ. Một hôm, Cẩn cho tay chân đưa Mười Hương đến gặp để xem nhân vật được đoán định là trùm tình báo Bắc Việt nằm vùng nổi tiếng cứng đầu ấy mồm ngang mũi dọc ra sao. Đây cũng là lần đầu tiên Mười Hương trực tiếp giáp mặt “hung thần miền Trung”.

Cẩn xuất hiện đúng như người ta mô tả, y ăn vận theo nếp một viên quan triều Nguyễn khi ở nhà: quần lá tọa, đi guốc mộc. Tham dự cuộc gặp này còn có mặt Ngô Đình Nhu, Tỉnh trưởng Thừa Thiên Hà Thúc Luyện và đại biểu Trung phần Hồ Đắc Hương. Sau khi chào hỏi Mười Hương, xưng hô ông - tôi rất lịch thiệp, tử tế, câu đầu tiên Cẩn đốp chát ngay: “Cộng sản các ông ác lắm, giết anh tôi rồi lại giết cả thằng cháu đích tôn của tôi nữa!”. Cẩn muốn nói tới Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân.

Ông Mười Hương
Ông Mười Hương

Mười Hương không vừa, đáp ngay: “Nếu quả thật Cộng sản ác độc như ông nói thì ông Diệm đã chết từ lâu rồi” - ý ông muốn nhắc lại chuyện Bác Hồ thả Ngô Đình Diệm năm xưa. Cẩn thoáng bối rối lảng qua chuyện khác, còn Nhu thì lờ đi coi như không nghe thấy.

Cẩn chuyển sang kết tội Mười Hương là người miền Bắc vào phá hoại miền Nam. Mười Hương phản công: “Miền Bắc hay miền Nam thì cũng là người Việt Nam cả, tôi chỉ là một giáo viên, muốn sinh sống ở đâu là quyền của tôi. Tôi thấy các ông đang chạy theo ảo tưởng, chính các ông cũng thừa nhận chưa có độc lập. Mỹ chỉ giúp các ông xây dựng bộ máy quân đội, cảnh sát, tuyên truyền để chống phá miền Bắc. 80% viện trợ của Mỹ dành cho quân sự, Mỹ chỉ chi tiền cho những việc họ muốn và có lợi. Khi ông Diệm sang vay tiền để xây mấy cái đập, Mỹ đã từ chối thẳng thừng. Các ông không thể có độc lập với Mỹ được”.

Cẩn chống chế: “Các ông thì dựa vào Nga Xô, chúng tôi dựa vào Mỹ, như rứa là chúng ta hòa”. Mười Hương bác lại: “Mỹ đổ tiền của rồi đưa cố vấn, đưa quân vào miền Nam nhưng các ông có thấy có người lính Nga nào ở miền Bắc không?”. Một gã chiêu hồi tên Lâm kể lại, sau khi gặp Mười Hương, thái độ Nhu và Cẩn rất bực bội.

Tuy nhiên, Nhu thừa nhận mình không có trong tay một bộ trưởng nào am hiểu nhiều như người tù Cộng sản này. Anh em họ Ngô xuất thân từ dòng dõi quan lại phong kiến, rất khinh ghét những kẻ hèn nhát quỳ gối nhưng lại kính trọng những người biết giữ tiết tháo, dám xả thân vì nghĩa khí, kể cả đó là kẻ thù. Nếu như Mười Hương tỏ ra sợ chết, phản bội ắt Cẩn sẽ giết chết không tha. Cẩn từng bảo bọn tay chân: “Giết thằng nớ không có lợi chi cả, cứ hành hạ hắn để khi có sống sót trở về thì cũng tàn phế”.

Trưởng ban an ninh T4 lừng danh

Cuộc đảo chính ngày 1 tháng 11 năm 1963 đã kết liễu chế độ gia đình trị của anh em nhà họ Ngô. Tin tức về cuộc đảo chính lan đi rất nhanh và những người tù cũng sớm nhận được tin này. Mười Hương biết là mình sống rồi. Ông trao đổi với anh em tù tiến hành liên hệ ra ngoài, đặc biệt là với Giáo hội Phật giáo và giới báo chí lên tiếng tố cáo chế độ Diệm đang giam giữ rất nhiều những người bất đồng chính kiến, khi nhà cầm quyền xem xét lại họ sẽ đảo cung.

Đây cũng là cơ hội tốt để móc nối lại liên lạc với tổ chức. Lúc bấy giờ, anh em ở ngoài mới biết Mười Hương vẫn còn sống. Đồng chí Mai Chí Thọ chỉ thị phải cứu bằng được Mười Hương ra. Khi đó, chính quyền mới có chủ trương dùng tàu hỏa đưa tất cả số tù nhân bị Ngô Đình Cẩn giam cầm ở Huế vào Sài Gòn để phúc tra.

Một số anh em bàn bạc với nhau, lập kế hoạch khi đoàn tàu đi qua vùng rừng núi thì sẽ trốn. Tuy nhiên, Mười Hương không ủng hộ kế hoạch trên vì ông thấy nó quá phiêu lưu. Mười Hương tin rằng, về đến Sài Gòn, ông sẽ có cách thoát được bởi lẽ các đồng chí không bao giờ bỏ rơi ông.

Đúng như dự đoán, khi bị đưa về Tổng nha Cảnh sát Sài Gòn, tổ chức đã bố trí một cơ sở của ta là bà Lê Thị Nhiễm, người sau này trở thành Anh hùng quân đội, nhận Mười Hương là con mình và thường xuyên đến thăm nuôi. Một chi tiết hết sức thuận lợi và chồng bà Nhiễm cũng mang họ Trần, tạo cho ông một lý lịch hợp pháp nên địch không phát hiện điều gì đáng ngờ.

Mười Hương khai mình chỉ là một giáo viên dạy tư bị đặc vụ của Ngô Đình Cẩn bắt oan. Ông nằm trong danh sách 22 người được đưa lên Hội đồng an ninh xét thả đợt ấy. Hôm đưa ra Hội đồng an ninh phúc tra, Mười Hương trả lời khớp với những gì đã khai trước đây và một mực kêu oan. Vì thế ông được tha.

Sau khi ra tù, Mười Hương về ở nhà bà Nhiễm tại quận 3, hàng tháng phải tới đồn cảnh sát gần nhất trình diện. Mười Hương “ngoan ngoãn” nằm ở đó một tháng, tháng sau ông được tổ chức bố trí đưa về căn cứ Củ Chi gặp các đồng chí lãnh đạo miền lúc bấy giờ như Nguyễn Văn Linh, Trần Văn Trà, Trần Văn Danh.

Mọi người đều rất mừng vì sự trở về của Mười Hương. Các đồng chí Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt biết tin Mười Hương vẫn còn sống đều vui mừng khôn xiết, mặt khác vì ông đã giữ vẹn tròn uy tín cho Trung ương. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh rất muốn giữ Mười Hương ở lại nhưng Bác Hồ nói: “Chú ấy vừa trải qua một cuộc đấu tranh vô cùng gay go, quyết liệt. Phải để chú ấy nghỉ ngơi một thời gian”. Sau đó, Mười Hương nhận chỉ thị của Trung ương gọi ra miền Bắc.

Sau khi được trên sắp xếp đi nghỉ ở Châu Âu, mục đích chính là để gặp người vợ đang học ở bên đó sau 10 năm cách biệt, Mười Hương lại xin đi Nam. Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn nói: “Anh cứ nghỉ ngơi thêm một thời gian đi đã, ở ngoài này cũng không thiếu gì việc cho anh làm đâu”. Từ năm 1964 đến 1968, Mười Hương được cử làm Cục trưởng Cục Kỹ thuật Bộ Công an, đảm trách việc liên lạc với lực lượng An ninh miền Nam.

Trước nguy cơ Mỹ - ngụy có thể dùng bộ binh đánh ra miền Bắc, Mười Hương được giao nhiệm vụ tổ chức khóa đào tạo lớp nữ trinh sát viên đặc biệt với gần 100 học viên nhằm đối phó với những tình huống xấu có thể xảy đến. Tuy nhiên, lòng ông vẫn không nguôi hướng về miền Nam, nơi mà ông cảm thấy mình mắc nợ rất nhiều. Cuối cùng, nguyện vọng cháy bỏng này ông đã được đáp ứng.

Năm 1968, Mười Hương trở lại chiến trường Nam Bộ. Ông về công tác tại An ninh miền. Năm 1970, Mười Hương được đưa vào Thường vụ T4, trở thành Trưởng ban An ninh T4 với 3 nhiệm vụ chính: Diệt ác ôn, đánh xẹp khí thế chính trị của địch; Tiến hành công tác điệp báo, xây dựng mạng lưới cơ sở, nắm âm mưu địch; Đảm bảo an ninh khu vực.

Dưới sự chỉ đạo của Mười Hương, lực lượng An ninh T4 đã lập nhiều chiến công xuất sắc, góp công lớn vào chiến thắng ngày 30 tháng 4 năm 1975 lịch sử. Sau ngày miền Nam giải phóng, thống nhất đất nước, Mười Hương đảm nhiệm cương vị Phó bí thư Thành ủy thành phố Hồ Chí Minh phụ trách công tác an ninh rồi phụ trách tổ chức.

Ông trở thành ủy viên Trung ương Đảng khóa 4, được Đảng và Nhà nước tín nhiệm lần lượt giao cho các trọng trách Phó bí thư Thành ủy thành phố Hà Nội, Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch, Phó ban Thanh tra Nhà nước rồi Trưởng ban Nội chính Trung ương... Dù ở cương vị nào, ông cũng làm hết trách nhiệm, không để cho mình bị chi phối bởi bất kỳ sức ép nào.

(Theo "Các điệp viên và điệp vụ lừng danh thế giới", Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây biên soạn và giữ bản quyền)

 ----------------------------------------------------------------------------

Xem tiểu sử những điệp viên nổi tiếng trên Wikipedia:



----------------

Gài độ