07/11/2009

Tư duy chiến tranh giữa thời bình

Chiến tranh đã thật sự kết thúc ở Việt Nam hay chưa? Câu trả lời còn tùy thuộc vào định nghĩa của từ “chiến tranh”.
Súng đạn đã im tiếng, nhưng lối sống xã hội đã thong dong?
Nếu chiến tranh chỉ có nghĩa thuần túy là có tiếng súng nổ và bom rơi, thì vùng đất này đã thừa hưởng hơn 30 năm hòa bình. Nhưng chiến tranh có thật sự đơn giản chỉ là tiếng súng?


Đương nhiên là không. Chúng ta ai cũng biết rằng súng đạn là điều đơn giản nhất của chiến tranh, và những sự phức tạp và khốc hại to lớn nhất của chiến tranh lại là con người và xã hội. Con người sinh ra và lớn lên trong chiến tranh khác xa với con người sinh ra và lớn lên trong hòa bình. Con người lập nghiệp và thành danh trong chiến tranh cũng khác xa con người lập nghiệp và thành danh trong hòa bình. Xảo thuật thành công trong chiến tranh đương nhiên khác xa và thậm chí ngược với cung cách làm ăn trong hòa bình.
Như vậy thì quá trình hình thành và phát triển của xã hội trong chiến tranh đương nhiên là một trời một vực so với quá trình đó trong hòa bình. Câu hỏi không phải là chúng ta có thật sự đang sống trong hòa bình hay không mà là chúng ta có muốn xây dựng hòa bình bằng tư duy và hành động của con người hòa bình hay không?
Tư duy chiến tranh
Trong chiến tranh, con người phải làm mọi thứ để sống còn, vì còn sống thì mới có ngày mai. Vì vậy, thay vì toan tính kế hoạch lâu dài và có tính chiến lược, mọi việc làm và hành động đều phải ngắn hạn và tạm thời và không cần biết hậu quả về sau. Đây là tư duy thể hiện rất rõ trong xã hội Việt Nam hiện thời. Câu nói bình dân và luôn luôn được nghe thấy –“ tới đâu hay tới đó” thể hiện rõ tư duy chiến tranh đang còn oằn nặng trong tâm thức và chi phối hành động của đa số người dân.
Trong đời sống hằng ngày, sự chi phối của tư duy chiến tranh trong hành động và quyết định của mọi người thể hiện rất rõ. Ví dụ như tắc nghẽn giao thông là kết quả của việc làm thiếu kế hoạch lâu dài và định hướng chiến lược. Tắc nghẽn giao thông là do nhu cầu đi lại tăng nhanh hơn việc xây dựng đường xá. Nếu có kế hoạch lâu dài, chúng ta phải thấy được nếu dân số tăng và kinh tế phát triển thì nhu cầu đi lại sẽ tăng lên. Vì vậy, nếu mục tiêu là phát triển kinh tế thì tất cả những việc cần chuẩn bị cho sự phát triển này phải được thực hiện trước hoặc ít nhất là kịp thời trong đó có xây dựng và mở rộng đường xá, chứ không như hiện nay, kinh tế đã và đang phát triển nhưng cầu đường thì vẫn chưa phát triển bao nhiêu nên mới có việc quá tải và tắc nghẽn.

Trận lụt lịch sử năm 2008 bộc lộ bất cập trong cơ sở hạ tầng ở thủ đô
Lối sống chiến tranh
Khi bom rơi đạn nổ trong chiến tranh, người ta không còn đầu óc đâu mà nghĩ đến bảo tồn văn hóa hay nét đẹp trong hành động và cư xử. Nhà cửa, đường xá bị bom đạn cày xới thì cần gì giữ gìn cho sạch đẹp. Vì vậy, người ta cứ khạc nhổ bừa bãi, cứ xả rác lung tung, và chẳng ngại nhăn nhó gắt gỏng lẫn nhau. Cho đến nay, lối hành xử này cũng còn đầy.
Một hôm tôi đi ăn cơm tối với một anh chủ tịch một công ty du lịch và vài nhân viên nhà nước. Chúng tôi ăn cơm trưa tại một tỉnh lỵ và cơm tối ở một thành phố. Sau bữa trưa, người doanh nhân này mửa ngay kế bên ghế ngồi trong nhà hàng lót sàn gỗ sang trọng, rồi tươi cười nói “dễ chịu hẳn, uống nhiều quá”, sau đó anh mới đủng đỉnh đi vào nhà vệ sinh để “rửa mặt cho mát, nóng quá”. Sau buổi tối, cũng anh doanh nhân này ho rất lớn rồi khạc ngay bên cạnh ghế ngồi trong nhà hàng.
Cùng với nỗi sợ hãi bao trùm, con người trở nên bất cần, bất cẩn, và chấp nhận sự thiếu hoàn hảo.
Chí Linh
Hôm khác, tôi tham gia một buổi hội thảo rất hoành tráng, và sau đó họ mời mọi người dùng trưa buffet rất sang trọng. Những khách mời tham dự đều là trí thức và có địa vị cao trong xã hội, nhưng lúc bắt đầu ăn, mọi người chen nhau lấy thức ăn. Tôi quen kiểu ở nước ngoài nên buộc miệng hỏi “xếp hàng từ đâu vậy chị”, và mọi người hăng hái đáp ngay, “làm gì có chuyện xếp hàng, nó là văn hóa rồi”.
Tâm lý chiến tranh
Tâm lý tiêu biểu nhất trong chiến tranh là sự sợ hãi và bất cần. Sợ hãi luôn là một phần của đời sống con người, nhưng sự sợ hãi trong chiến tranh thì khác thường bởi sự sợ hãi của ngày thường chỉ có thời gian nhất định và có lý do, nhưng trong chiến tranh thì sự sợ hãi bao trùm cuộc sống, không có thời gian nhất định và cũng không có lý do nhất định.
Ngày nay, dù không còn súng nổ, sự sợ hãi vẫn bao trùm cuộc sống ở Việt Nam. Từ sợ thực phẩm không an toàn, tai nạn giao thông, trộm cướp, cho đến sự chậm trễ và bất cẩn dẫn đến chết người ở bệnh viện. Câu nói, “biết đâu mà tránh, chịu thôi” được nhắc tới thường xuyên.
Cùng với nỗi sợ hãi bao trùm, con người trở nên bất cần, bất cẩn, và chấp nhận sự thiếu hoàn hảo. Lối làm việc thiếu chi tiết và không hoàn hảo thể hiện qua chữ “kệ” và “du di” trở nên gần như là một nét văn hóa đặc thù của vùng đất này.
Mọi người vừa lòng với sự thiếu hoàn hảo và biện bạch rằng “Việt Nam mà đòi hỏi như Mỹ sao được” mặc dù có rất nhiều điều Việt Nam có đủ điều kiện để làm tốt như các nước tân tiến. Ví dụ điển hình là việc rửa tay để tránh truyền bệnh và lây bệnh. Rửa tay quá dễ dàng, thế nhưng trong nhiều bệnh viện mà tôi đã ghé thăm và làm việc, nhân viên y tế và ngay cả bác sĩ và điều dưỡng đều không rửa tay theo đúng quy trình và thậm chí nhiều người không rửa tay trước và sau khi thăm khám mỗi bệnh nhân.

Không thiếu nơi ăn chơi, cái còn thiếu là lối sống văn hóa?
Làm ăn kiểu chiến tranh
Chiến tranh không cho phép người ta có thời gian kiểm chứng hoặc tạo dựng uy tín lâu dài nên người ta chụp giật hoặc lừa lọc lẫn nhau để thủ lợi vì nếu không thì không thể sống còn. Nhưng trong hòa bình thì ngược lại, uy tín lâu dài mới là yếu tố thành công thật sự. Nhưng hiện nay, ở Việt Nam báo chí cứ đăng tin dự án ma đầy dẫy. Gian lận chất lượng thực phẩm bằng hóa chất công nghiệp là chuyện thường xuyên.
Trong chiến tranh, tất cả phải dành ưu tiên để phục vụ cho chiến trường. Kỷ luật quân đội là tuyệt đối tuân thủ, và trách nhiệm thành hay bại là của người chỉ huy chứ không phải của từng chiến sĩ. Giáo dục hay rèn luyện không để phát triển tư duy hay năng khiếu mà chỉ để chiến thắng quân thù. Vì vậy, con người không có sự lựa chọn cá nhân vì nếu không đồng lòng thì không thể chiến thắng được.
Nhưng trong thời bình, người ta có thời gian để xây dựng và hưởng thụ, nên trách nhiệm không còn của chỉ huy nữa mà là sự cố gắng vươn lên và tìm tòi của chính mỗi con người. Thế nhưng, giới đầu tư chứng khoán hay địa ốc ở Việt Nam hành xử y như là người lính trên chiến trường mà chỉ huy của họ là dư luận và tiếng đồn. Họ dường như không quan tâm đến giá trị thật của một công ty hay tự mình tìm hiểu và phân tích thị trường mà chỉ mua và bán theo phong trào.
Học trò thì than phiền là làm theo ý thầy cho khỏe vì nếu trả lời câu hỏi theo ý tưởng khác thầy thì sẽ không được điểm cao dù cho là đúng. Đáng buồn hơn nữa là bài làm nào mà có óc sáng tạo hơi nhiều thì trở nên hơi xa với những gì thầy nói thì lại càng nguy hiểm hơn. Trong trường hợp này, rõ ràng là cả thầy lẫn trò đều hành xử như trên chiến trưòng chứ không phải trong một lớp học của thời bình.
Chiến tranh hay hòa bình là quyết định của từng cá nhân
Mỗi người là một tế bào của xã hội, và chúng ta cũng biết chỉ cần một tế bào ung thư là đủ để dẫn đến tử vong cho một cơ thể nếu không được chữa trị kịp thời. Nếu chúng ta muốn có một xã hội lành mạnh thì mỗi cá nhân phải giữ cho mình không là “tế bào ung thư của xã hội.” Nếu chúng ta muốn xây dựng hòa bình thì mỗi cá nhân phải chủ động bỏ đi những thói quen trong chiến tranh và dần dần hành xử theo lối hòa bình.
Nếu chúng ta muốn có một xã hội lành mạnh thì mỗi cá nhân phải giữ cho mình không là “tế bào ung thư của xã hội.”
Chí Linh
Ngạn ngữ Hoa Kỳ có nói “Điều gì đem bạn lên thì sẽ mang bạn xuống.” Những tư duy và cách hành xử đã mang lại chiến thắng và sống còn trong chiến tranh sẽ mang lại thất bại ê chề trong thời bình. Nếu lối sống “chấp nhận tất cả” đã đem lại bình yên cho tâm hồn trong thời loạn lạc thì trong thời bình sẽ làm chúng ta không bao giờ phát triển.
Nếu chúng ta vừa lòng với hiện tại thì không cần bàn cãi, nhưng nếu phát triển và hội nhập là mục tiêu của toàn xã hội thì từng cá nhân và tập thể cần phải thay đổi tư duy và hành động theo chiều hướng thích hợp.
Chúng ta, dân tộc Việt, hãy nhắc nhau gìn giữ tâm hồn hòa bình, không sợ hãi, không thù hận, và không nghi ngờ. Hãy tin tưởng hợp tác với nhau trong sự cảm thông của những người vừa cùng nhau kinh qua gian khổ.
Hãy vượt lên trên những thói quen lừa lọc và cách hành xử không có trước sau của chiến tranh vì chúng ta đã phải vật lộn với sự sống chết đã lâu lắm rồi.
Hãy lo lắng cho nhau và có trách nhiệm với xã hội và môi trường vì nếu không tự chúng ta đang tạo điều kiện cho chiến tranh tiếp diễn dưới lớp áo hòa bình.
Ý muốn làm con người của hòa bình hay con người của chiến tranh để từ đó xây dựng một xã hội hòa bình hay “xã hội chiến tranh” là do quyết định và trách nhiệm của mỗi chúng ta. Chúng ta không nên trông chờ ở luật lệ để ngăn cấm những “thói quen chiến tranh” mà mỗi người chúng ta cần có quyết tâm thay đổi tư duy và cách hành xử.
Và khi từng con người thay đổi, xã hội sẽ dần dần thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp mà tất cả chúng ta ai cũng mong chờ

Bài của Chí Linh
 Nguồn: BBC

----------------

05/11/2009

Quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin, vũ khí hữu hiệu chống tham nhũng
TuanVietNam) - Không cần phân tích dài dòng, cũng có thể thấy tham nhũng là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự đói nghèo, khiến người dân bị khóa chặt trong vòng kiềm tỏa của sự nghèo đói, như khẳng định của ông Peter Eigen, Chủ tịch Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International - TI). Điều này lại càng đúng đối với Việt Nam, một quốc gia mà tại đó, tham nhũng đã được Đảng, Nhà nước đánh giá là “quốc nạn”.
Dễ thấy, muốn chống tham nhũng hiệu quả, cần minh bạch: đây là điểm mà các quốc gia hiện diện trong cuộc chiến chống tham nhũng của LHQ, cũng như tham gia Hiến chương LHQ về tham nhũng đều thống nhất.
Và để minh bạch những yếu tố xã hội nổi bật nhất (về ngân sách, nguồn tài chính, về những khoản mua sắm, cũng như về những khiếu nại của cư dân), điểm quan trọng sống còn là minh bạch về thông tin.
Bởi lẽ, đi ngược lại với minh bạch thông tin là sự bưng bít – cùng với sự độc quyềnthiếu vắng trách nhiệm giải trình, đây là một trong 3 yếu tố duy trì và thúc đẩy tham nhũng trong thực tế công quyền.
Quyền tiếp cận thông tin

Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền căn bản nhất của công dân. Ảnh: izon.vn 
Quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền căn bản nhất của công dân, là chìa khóa để công dân có thể giám sát chính phủ và các cơ quan nhà nước, nhằm đẩy lùi tham nhũng, vốn luôn nhằm những mảnh đất thiếu minh bạch và đói thông tin để hoành hành.
Bằng việc dùng lá phiếu thông qua những cuộc bầu bán và trả những khoản thuế má, công dân nuôi bộ máy nhà nước và ủy nhiệm cho chính phủ của mình một quyền hành nhất định để họ thực hiện nguyện vọng và mong mỏi của cử tri.

Ngược lại, chính quyền có bổn phận thông báo đầy đủ, kịp thời và chính xác các thông tin trước công luận, để hỗ trợ và thúc đẩy sự tham dự của công dân vào việc đưa ra các quyết định.
Để làm được điều ấy, người dân phải có quyền tiếp cận thông tin. Cho đến nay, tại hơn 60 quốc gia trên thế giới, luật định đảm bảo cho công dân được tiếp cận những thông tin phục vụ lợi ích cộng đồng.
Tư duy mới về tự do thông tin
Tiếp cận thông tin là một bước tiến quan trọng trong cuộc chiến chống tham nhũng, tuy nhiên, bản thân việc luật định cho phép tiếp cận thông tin vẫn chưa đủ. Để có được văn hóa của luồng chảy tự do thông tin, phải thay đổi những tập quán cố hữu ở cả hai phía: bên có bổn phận chuyển giao thông tin, cũng như bên tiếp nhận và sử dụng thông tin.
Những cơ quan chính quyền phải thay đổi quan niệm cũ, chủ trương độc quyền, duy trì, giữ khư khư mọi thông tin - ngược lại, phải làm quen với bầu không khí cởi mở, coi đó là bổn phận của mình. Đồng thời, công dân cũng cần học thói quen đòi hỏi thông tin, thực hiện quyền đòi hỏi và tiếp cận thông tin của mình trong tất cả những trường hợp mà họ cho rằng tham nhũng đang tồn tại.
Quá trình này có thể kéo dài nhiều thập niên, và đòi hỏi sự kiên trì, cảm thông và mềm dẻo cả từ hai phía.
Giảm thiểu khái niệm “mật”
Trong thực tế, để bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia, để đảm bảo sự hoạt động bình thường của bộ máy nhà nước, cần có hình thức bảo mật một số thông tin nhất định. Tuy nhiên, điều đó phải được thực hiện vì quyền lợi của công dân, chứ không phải đi ngược lại quyền tiếp cận thông tin của họ.
Đối với những thông tin phục vụ lợi ích công cộng, việc hạn chế sự tiếp cận của công dân chỉ có thể xảy ra trong những trường hợp hết sức đặc biệt, khi có những lý do thật hợp lý và hợp thức.

Ngoài ra, những thông tin có thể ảnh hưởng đến chính quyền và một số cá nhân tham chính, thì không thể coi là “mật” - bởi lẽ, quốc gia không bao giờ đồng nghĩa với một chính quyền hay cá nhân nào, và việc hạn chế thông tin trong trường hợp này không phải gì khác, đơn thuần là sự ngăn cản người dân thực hiện quyền phản biện xã hội của họ.
Pháp luật cũng phải minh bạch trong chuyện ai – vì lý do gì - có thẩm quyền và chức năng liệt một thông tin vào hàng “mật”, và thời hạn của thông tin “mật” ấy là bao nhiêu năm. Nhiều quốc gia còn quy định việc tái kiểm định (một cách định kỳ, chẳng hạn trong vòng 2-3 năm) lý do và sự cần thiết của sự “mật hóa” một thông tin, để đến lúc thấy không cần thiết nữa, người dân và các tổ chức dân sự có quyền tiếp cận nó một cách đầy đủ.
Một xã hội dân sự dân chủ và lành mạnh là một xã hội mà chính quyền sẵn sàng giảm thiểu những “bí mật” trước công dân, vì lợi ích của người dân.
Có thông tin - người dân được gì?

Quyền tiếp cận thông tin là yếu tố căn bản để xây dựng niềm tin giữa nhà nước và công dân
Ảnh: izon.vn 

Một trong những yếu tố rất quan trọng trong cuộc chiến chống tham nhũng là cán cân lực lượng giữa công dân và chính quyền phải được cân bằng ở mức tương đối.
Điều này sẽ có được khi người dân thật sự được tiếp cận những dữ liệu do nhà nước quản lý, nhưng thực chất là thuộc sở hữu của họ.

Trong trường hợp ngược lại, nếu thông tin không được tiếp cận tự do, quyền lực của những cơ quan quản lý dữ liệu gia tăng và sự thiếu vắng minh bạch sẽ được dùng để che đậy tham nhũng.
Người dân, khi không được đáp ứng quyền tiếp cận thông tin, sẽ cảm thấy bất lực, không thể đưa ra ý kiến hoặc quyết định đúng đắn. Khi ấy, cho dù chính quyền có kêu gọi chống tham nhũng đến đâu đi nữa, họ cũng không còn khả năng “tham chính” một cách tích cực và hiệu quả.
Như thế, quyền tiếp cận thông tin là yếu tố căn bản để xây dựng niềm tin giữa nhà nước và công dân, không chỉ trong cuộc chiến chống tham nhũng. Bởi lẽ, hơn thế nữa, nó còn thúc đẩy và tạo điều kiện cho việc thực hiện nhiều quyền văn hóa, kinh tế và xã hội khác, như quyền tự quyết, quyền được làm việc và hưởng một nền giáo dục lành mạnh.
Khi quyền tiếp cận thông tin không được đáp ứng và đảm bảo, tham nhũng sẽ còn hoành hành, đặc biệt trong chính giới và giới viên chức, như một căn bệnh trầm kha mà không “liều thuốc thần” nào có thể chữa trị nổi.

Nguồn: Tuanvietnam

----------------

03/11/2009

"Nhà vua chết rồi, Hoàng đế vạn tuế!"

Vấn đề quan trọng bậc nhất không phải là tranh cãi xem ông GS Koblitz và bản Báo cáo Harvard cái nào đúng cái nào sai. Vấn đề quan trọng nhất là cái tai của người lắng nghe những lời phê phán. - Nhà nghiên cứu giáo dục Phạm Toàn

Để hỏng nền đại học, xin đừng tính chuyện đổi mới

Nếu không nhờ báo VietNamNet có nhã ý tung lên mạng một bài viết của giáo sư Neal Koblitz phản biện lại bản báo cáo được gọi là của Đại học Harvard về thực trạng giáo dục ĐH Việt Nam, thì có lẽ tôi đã quên nó mất rồi.

Quên nó đi, là vì đại học không thuộc lĩnh vực hoạt động của mình. Ấy thế rồi có tác phẩm của GS Koblitz, và tôi đã đọc kỹ bài viết tới ba lần. Đọc xong lần thứ ba thì tôi mỉm cười một mình vì chợt nhớ tới câu đùa của người Pháp "Nhà vua chết rồi, Hoàng đế vạn tuế". Sự thể như sau, năm 1422, khi vua nước Pháp Charles VI băng hà, và vua Charles VII lên kế vị, người dân Pháp truyền nhau tin tức đó, nhưng qua cách báo tin cho nhau, bao nhiêu thế kỷ sau ta vẫn không thể quên nụ cười mỉm của cái dân tộc rất thích tiếu lâm đó.
Vấn đề quan trọng nhất là cái tai của người lắng nghe những lời phê phán.
Để phân tích bài viết của GS Koblitz, thiết tưởng nên nhắc lại đôi chút về bản báo cáo vẫn được gọi tắt là "Báo cáo Harvard" về sự khủng hoảng của nền ĐH Việt Nam hiện thời.

Người Mỹ có "sứ mạng" gì mà phải "báo cáo" cho người Việt Nam biết chuyện xảy ra ở nước Việt Nam? Họ chẳng có nghĩa vụ gì hết. Báo cáo đó chỉ cung cấp tình hình cùng những phân tích về sự khủng hoảng của hệ thống giáo dục ĐH Việt Nam cho phía Hoa Kỳ trong Ủy ban đặc nhiệm song phương về giáo dục ĐH (Higher Education Task Force). Một bên trong hai bên đó muốn bàn với bên kia điều gì, muốn "OK" hay khước từ những đề nghị vòi vĩnh của phía bên kia, thì phải nắm chắc tình hình bên ấy.

Họ đã "nắm bắt tình hình" những gì với nhau trước khi hai bên nhóm họp?

Nhìn tổng quát tình hình ĐH Việt Nam, bản báo cáo cho rằng "khó có thể phóng đại hơn nữa về mức độ trầm trọng của cuộc khủng hoảng ĐH Việt Nam đương thời". Và theo họ, thì "chúng tôi tin rằng, nếu không có những cải cách nhanh chóng và tận gốc dành cho giáo dục ĐH, Việt Nam sẽ thất bại trong mục tiêu đạt tới các tiềm năng to lớn của mình". Diễn nôm điều này là như sau: Hễ bạn để hỏng nền ĐH của mình, thì xin bạn đừng tính chuyện đổi mới nữa!

Đi vào chi tiết, bản báo cáo đó còn có gì nữa?

Có nhiều vấn đề. Có thể gộp chung các vấn đề lại để có một bản tóm tắt. Nhưng nghĩ rằng cách thức tốt hơn khi đọc một báo cáo là dùng sự cảm nhận đầy tinh thần trách nhiệm của mình mà vừa đọc vừa tự phán xét. Trên tinh thần đó, nghĩ rằng có thể nên dừng lại để cảm nhận về những "chuyện" sau đây.

Một là, hãy nhìn trước nhìn sau, trông Bắc trông Nam trông cả địa cầu (như Tố Hữu dặn), xem ta đang đứng ở vị trí nào trong cuộc hội nhập? Những bản thống kê đã cho thấy rõ vị trí đó, và hãy nhớ đến lời cảnh báo trong báo cáo: "Các trường ĐH Việt Nam tụt lại khá xa đằng sau ngay cả những láng giềng kém mở mang của mình."

Hai là: "ĐH Việt Nam không sản xuất được một lực lượng lao động có đủ trình độ đáp ứng cho nhu cầu kinh tế và xã hội Việt Nam". Bản báo cáo nêu ra một thí dụ về vụ tìm người làm của hãng Intel. Trong mấy chục năm qua, và cho đến tận hôm nay, hình như các doanh nghiệp Việt Nam vẫn mỏi cổ ngóng trông một lực lượng lao động đáp ứng đòi hỏi của họ. Điều này ai ai cũng thừa biết, không cần đến ĐH Harvard mới bắt đầu sáng ra.

Ba là, những nguyên nhân của tình hình mà theo bản báo cáo, ít nhất có ba nét sau đây đáng chú ý cho ta xem xét giải quyết: Sự thiếu quyền tự chủ của ĐH; sự quản lý theo thói quen quan liêu kéo dài; sự thiếu trình độ của tầng lớp giảng sư vốn chủ yếu xuất thân từ lò đạo tạo Xô Viết.

Kết thúc bản báo cáo, gây hoảng hồn hơn cả là cái kết luận mang tính khuyến nghị quá ư đúng đắn của nó: "Cải tổ toàn bộ cung cách điều hành của chính quyền là chìa khóa để cải tiến nền giáo dục ĐH tại Việt Nam. Tuy nhiên, cải tổ các học viện giáo dục đào tạo ở bất cứ nơi đâu cũng là một tiến trình lâu dài. Đây là lý do tại sao chúng tôi tin rằng Việt Nam phải xây dựng một học viện đào tạo ĐH mới, mà ngay từ đầu đã có cơ chế điều hành tốt nằm trong DNA (mã di truyền- BT) của nó".

Điều rất thú vị, ấy là bạn đọc Việt Nam ở trong và ngoài nước hình như đều chấp nhận bản báo cáo Harvard, các thảo luận đều như thể cùng quy tụ vào những nguy cơ được nêu ra từ đó.

Có ở trong chăn (giáo dục) mới biết chăn có rận

Và điều cũng rất thú vị, ấy là người duy nhất lên tiếng phản đối bản báo cáo Harvard lại là một người nước ngoài - hơn thế nữa, một người Mỹ, hơn thế nữa, một người Mỹ có tiếng tăm.

Bài phân tích của GS Koblitz thì dài, tốt nhất là nên đọc từ đầu chí cuối, còn ở đây ta chỉ nên phân tích những vấn đề chính yếu.

Vấn đề thứ nhất, ta thấy một Koblitz gần gụi, thân thiện vô cùng với Việt Nam: Ông sang Việt Nam từ năm 1978 khi đất nước ta vẫn còn bị Mỹ cấm vận. Là người Mỹ am hiểu đất nước, ông lưu ý cảnh báo giúp ta rằng "Vào những năm sáu mươi, hàng triệu người Mỹ đã nhiệt tình ủng hộ cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Trong số đó không chỉ là bao gồm những người không có học thức mà đáng tiếc là còn có cả một số GS của Harvard và các trường ĐH khác, họ đã đến Washington để nắm giữ các chức vụ quan trọng trong nội các của Kennedy và Johnson."

Tâm tư người Việt Nam đương thời, đang mong muốn thế hệ trẻ thoát khỏi

cảnh đi học chỉ để có mũ cao áo dài

Ông khuyên chúng ta chớ có tin vào các báo cáo loại đó, nhất hạng là khi tác giả lại từng là thủy quân lục chiến đánh nhau ở chiến trường Việt Nam. Dĩ nhiên, ông không rơi vào "chủ nghĩa lý lịch" thô thiển. Ông còn cung cấp cho chúng ta về quá trình học hành bậc ĐH và trên ĐH của các tác giả bản báo cáo Harvard tiếng tăm và tai tiếng kia! Hóa ra, họ không đáng tin vì chưa có học vị Ph.D., và theo Koblitz, học vị của họ còn "thua cả bậc candidate Liên Xô" - tức bậc Phó tiến sĩ (nay đều gọi là Tiến sĩ).

Về vấn đề thứ nhất, ông Koblitz nêu ra, tôi chỉ dám rụt rè hỏi lại như sau: Ngộ nhỡ những nội dung báo cáo của những cựu thủy quân lục chiến kia, của những con người ít học kia, mà lại gần với sự thật, mà những gì họ vạch ra lại đáng cho người Việt Nam chúng tôi suy nghĩ, thì có vì cái quá khứ của mấy người viết báo cáo đó mà gạt bản báo cáo đi không? Giữa chân lý và lý lịch, ta chọn cái gì? Hay là GS Koblitz chỉ cho phép các cựu binh Mỹ được phép kéo đàn và lau nước mắt bên các tượng đài?

Vấn đề thứ hai, đó là lập luận của Koblitz về việc phải hiểu rõ lịch sử Việt Nam thì hãy giơ tay phát biểu. Suốt mấy trang dài, tác giả Koblitz kể từ năm 1978 khi Việt Nam còn bị cấm vận ông đã tới thăm và kính phục giới trí thức Việt Nam; ông biết rành rọt lịch sử như được gửi ở những tấm bia trong Văn Miếu Quốc Tử Giám; ông hiểu rõ tội lỗi của người Pháp đối với nền ĐH Việt Nam; ông nhắc nhở các nhà viết báo cáo Harvard không nhớ kể ra tội ác diệt chủng của người Mỹ khi ném bom Việt Nam. Và bảng lảng trong bài viết của Koblitz là lòng luyến tiếc Liên Xô hùng mạnh một thời về mọi mặt (dĩ nhiên là hùng mạnh cả trong việc đào tạo chuyên gia cho Việt Nam).

Về việc này, tôi chỉ xin nói nhỏ như sau: GS Koblitz biết quá nhiều, duy chỉ có một điều ông chưa biết, đó là câu tục ngữ: "Có ở trong chăn mới biết chăn có rận".

Sao ông không nêu câu hỏi: Chuyên gia đào tạo từ Liên Xô giỏi vậy, sao họ không chịu phát huy tác dụng, để nền ĐH Việt Nam ốm yếu đến thế? Sao ông không hỏi để biết tâm tư người Việt Nam đương thời, để thấy họ cũng xì xụp vái lạy ở Văn Miếu, nhưng họ cũng đang mong muốn thế hệ trẻ của dân tộc họ thoát khỏi cảnh đi học chỉ để có mũ cao áo dài và tên tuổi không nằm ở thành tích trong công việc mà chỉ còn là hàng chữ li ti trên tấm bia đá nặng trịch.

Vấn đề thứ ba, GS Koblitz nói về những cái xấu của ĐH Mỹ, trong đó có hai điều rất hấp dẫn: Trình độ toán của sinh viên Mỹ quá dấm dớ (có dẫn chứng đầy đủ), và nhiều trường cao đẳng (và có thể ĐH) Mỹ có thể (và đã) qua Việt Nam chỉ cốt kiếm lợi nhuận chứ không mong họ có ích gì cho việc xây dựng nền ĐH nước này. Ông cũng cảnh báo mọi người về việc nước Mỹ thu hút chất xám của loài người, nên Mỹ mới giỏi và tiếp tục giỏi như ngày nay.

Về chuyện này, thiết nghĩ chỉ cần nhắc nhở GS khả kính về bài báo ông viết năm 1981 là đủ, bài Toán học với tư cách công cụ tuyên truyền (Mathematics as Propaganda), trong đó ông cảnh báo cách dùng sai lệch công cụ toán học vào khoa học xã hội. Thì ở đây ta thấy lặp lại chính điều ông cảnh báo: Chuyện sinh viên Mỹ học dốt toán chẳng ăn nhập gì với chuyện nền ĐH Việt Nam rệu rã hết!

Và nếu muốn lập luận theo phép tương đương, ta có thể vào trang web của Trường ĐH Washington và dùng ngay các ý kiến của sinh viên đánh giá GS Koblitz trong các tháng 9 và 10 năm 2009 này; ta sẽ thấy ở đó những kết quả trái ngược nhau chan chát!

Vấn đề quan trọng bậc nhất không phải là tranh cãi xem ông GS Koblitz và bản Báo cáo Harvard cái nào đúng cái nào sai. Vấn đề quan trọng nhất là cái tai của người lắng nghe những lời phê phán.

Chúng tôi ở trong chăn đã lâu, xin có một lời khuyên giản dị với GS như sau: Nước chúng tôi có quá nhiều người tốt bụng rồi, xin ông GS không cần giúp đỡ thêm về mặt này nữa.

Phạm Toàn

Nguồn: tuanvietnam.net

----------------

01/11/2009

Báo đời Tranhung09 được thăng hạng 3/10

Tháng 9/2009, mình có nổ một bài: Entry của Tranhung09 lên Cõi trên = 10 phút
Còn bi giờ là "chém gió", sự dụ như dầy: Tình cờ xem bài Kiểm tra PageRank đợt update ngày 30/10/2009 của Vnpressnet. Có đưa ra danh sách các bạn bè chiến hữu có Pagerank cao.  Mình để lại còm như sau:
Thiếu bác già chiến hữu chém gió nữa "Tranhung09". Hai lúa tui không rành PR, tò mò coi nó chấm mình ra răng, ai dè nó cho 3/10 lận. Mô phật! mấy tháng may, tui mò tôm bắt ốc dưới trần, vài ngày mới thăm bẩy một lần, cũng hổng đi đêm mà sao cha nội Gu gồ ưu ái vậy! Hổng lẽ nó cho rằng mình cóp dán bài điệu nghệ hay sao hở Anh3ngo? Hay hai lúa nhưng chơi thân với toàn xếp nhỉ? 
Bạn nào có thể lý giải giúp? Phước chủ may thầy "Con yêu cha nội Gu gồ, lém lém!"
Nếu Các bạn  còn thương, mình sẽ thành sao xẹt là lá la....... Cảm ơn quý bằng hữa nhìu nhìu!!!



----------------

Nhà tình báo yêu chúng ta

'Bài học Việt Nam'
Hình ảnh trực thăng Mỹ đón những người di tản khi lực lượng miền Bắc chiếm Sài Gòn
Thất bại ở Việt Nam giờ được gọi khéo là 'kinh nghiệm học hỏi', thậm chí là chiến thắng
Tại Hoa Kỳ, Việt Nam hiện đang là chủ đề của các bài xã luận, những cuộc nói chuyện trên truyền hình, những họp báo của Lầu Năm Góc và hội thảo ở Washington.
Những chuyên gia, các vị tướng, sử gia và nhà báo lại một lần nữa có ý định học ''bài học'' từ cuộc chiến chấm dứt cách đây 35 năm.
Dĩ nhiên không phải chính bản thân Việt Nam là tâm điểm của sự chú ý. Chủ đề chính là cuộc chiến của Hoa Kỳ ở Việt Nam, chiến lược quân sự và thất bại của người Mỹ.
Sự thất bại này được nói khéo là kinh nghiệm học hỏi.
Trên thực tế người ta đã biến nó thành thứ như là chiến thắng.
Báo New York Times vừa mới dành một phần lớn phần xã luận cho bài viết mô tả ''chiến lược hậu 1967 thành công'' của Hoa Kỳ ở Việt Nam.
Tác giả quên không nhắc tới cuộc Tấn công Mậu thân 1968, những cuộc đưa quân bất thành vào Lào và Campuchia và sự sụp đổ của Sài Gòn vào ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Thay vào đó tác giả khen ngợi hiệu quả các chiến dịch khủng bố của CIA. Ông cũng khuyến nghị các chiến dịch "dành dân giữ đất'' vốn đã làm hàng vạn dân thường Việt Nam thiệt mạng.
Nguy hiểm
Trong số 45 người được giao nhiệm vụ mang những tin tức của ông Ẩn ra khỏi Sài Gòn, 27 người đã bị bắt và giết.
Những tranh luận cao siêu này về Việt Nam thực ra chỉ vì lợi ích cá nhân.
Nó cũng đầy tính ảo tưởng, giống như giấc mơ của những bệnh nhân chấn thương khi lên cơn sốt và bị cơn đau ám ảnh trong khi mơ rằng tay chân bị gãy của mình như có phép thần bỗng lành lặn trở lại.
Không ai ở Hoa Kỳ có vẻ miễn nhiễm với chấn thương này và người ta có thể nghi ngờ rằng cơn mê sảng đã trở lại vì nước Mỹ một lần nữa lại có cuộc chiến Việt Nam, lần này ở Afghanistan.
Những bài học Việt Nam đang hòa vào những bài học ở Afghanistan. Thế nhưng chính xác ra thì đó là những bài học gì và ai là người thầy có thể đưa ra các bài học này.
Phạm Xuân Ẩn là một trong những người như thế. Đó là người mà người ta tới gặp ở Sài Gòn hồi cuộc chiến Việt Nam, người đứng đầu cánh báo chí, nhà báo thạo tin nhất và người đứng đầu điều mà nhà báo kỳ cựu David Halberstam gọi là "mạng lưới tình báo số một''.
Ông Ẩn là phóng viên chính trị của tạp chí Time. Ông là một trong 32 tên được in trên măng-xéc của tạp chí và là Trưởng đại diện cuối cùng của báo Time ở Sài Gòn.
Bên cạnh kỹ năng làm báo mà ông phát triển trong hai năm học ở California, ông Phạm Xuân Ẩn cũng là điệp viên thành công nhất của Cộng Sản. Ông không dùng điều gì tinh xảo hơn là mực đặc biệt và những tin nhắn giấu trong những miếng nem nhưng tin tức tình báo của ông có tác dụng tới mức ông Hồ Chí Minh và các viên tướng vỗ tay sung sướng và nói rằng "chúng ta đang có mặt trong phòng tác chiến của Mỹ".
Trong số 45 người được giao nhiệm vụ mang những tin tức của ông Ẩn ra khỏi Sài Gòn, 27 người đã bị bắt và giết.
Chính ông Ẩn cũng lo sợ cho tính mạng mỗi ngày trong 30 năm làm điệp viên cho Bắc Việt Nam.
Vỏ bọc
Tướng Phạm Xuân Ẩn
Tướng Ẩn qua đời năm 2006
Khi tôi gặp ông lần đầu hồi năm 1992 và bắt đầu tới thăm ngôi biệt thự dễ chịu của Tướng Ẩn sau chiến tranh, tôi thấy ông là người dễ mến, người thích những chuyện đùa tục và những câu chuyện hay.
Cuối cùng tôi cũng thuyết phục được ông kể cho tôi về công việc của ông với tư cách là tình báo nhưng phải tới sau khi ông Ẩn qua đời vào năm 2006 tôi mới có thể vén bức màn bí ẩn về cuộc đời ông.
Người đàn ông từng giả tảng như chỉ theo dõi chiến cuộc từ bên lề trên thực tế đã nhận được 16 huân chương quân đội. Ông là vũ khí chiến thuật của Việt Nam nhằm chiến thắng trong một số trận đánh và chiến dịch và, cuối cùng đã thắng cả cuộc chiến.
Đây là kết luận của tôi trong cuốn sách về Phạm Xuân Ẩn ''Nhà Tình báo Yêu Chúng ta'' ra mắt năm 2009.
Mỗi một điệp viên đều có vỏ bọc của họ. Vỏ bọc của ông Ẩn là ông yêu nước Mỹ, người Mỹ và giá trị của báo chí phương Tây.
Quả thực ông có yêu những thứ này nhưng ông yêu tổ quốc ông hơn.
Ông là một nhà báo và ông tin rằng Việt Nam và Hoa Kỳ chỉ có thể là bạn khi họ đối xử với nhau bình đẳng.
'Gây chiến'
Việt Nam đã chống lại Trung Quốc 1000 năm, Pháp 100 năm. Quân đội Mỹ rút đi chỉ sau một thập niên.
Ông nghĩ rằng Hoa Kỳ đã tiến hành ở Việt Nam cuộc chiến thực dân giống cuộc chiến mà người Pháp đã thua.
Hoa Kỳ đã có chiến lược chống nổi dậy giống của người Pháp và đã đối mặt với sự phản kháng tương tự.
Không điều gì có thể xóa bỏ được sự thật là Việt Nam sẽ chiến đấu tới người phụ nữ cuối cùng chống lại lực lượng chiếm đóng.
Việt Nam đã chống lại Trung Quốc 1000 năm, Pháp 100 năm.
Quân đội Mỹ rút đi chỉ sau một thập niên.
Bên cạnh là phóng viên của Time và là nhà báo được tôn trọng, ông Phạm Xuân Ẩn là người mà ngày nay chúng ta gọi là người trợ giúp (fixer).
Ông là phiên dịch viên, hướng dẫn viên và người giải thích tất cả mọi thứ liên quan tới Việt Nam.
Ông là người môi giới và thu xếp có thể giải thích văn hóa và giá trị Việt Nam cho người phương Tây.
Nhẹ dạ
Lính Mỹ ở Iraq
Quân đội Hoa Kỳ ngày nay ở Iraq cũng cần làm việc với những người trợ giúp
Phạm Xuân Ẩn là người hay nói và có hàng đống thông tin nhưng điều mà ông tránh đề cập tới khi nói chuyện với các bạn phương Tây là cam kết chính trị quyết gây chiến với họ.
Ông đã can thiệp và cứu mạng của các nhà báo và đồng nghiệp bị Cộng sản bắt nhưng ông cũng không thể tránh được chuyện là một người lính trong cuộc chiến cướp đi sinh mạng của hàng triệu người.
Các nhà báo phương Tây ngày hôm nay cũng không thể làm việc ở Iraq hay Afghanistan ngày hôm nay mà không có những người trợ giúp.
Bởi vậy chúng ta phải tự hỏi liệu những thông tin gì đã bị mất trong lúc dịch thuật?
Những người trợ giúp, phiên dịch và đồng nghiệp của chúng ta có lịch sử chống lại sự chiếm đóng.
Tại sao Hoa Kỳ nghĩ rằng cuộc chiến thực dân ngày hôm nay sẽ thành công hơn cuộc xâm chiếm Việt Nam?
Để có bài học cho cuộc chiến Afghanistan, tôi khuyến khích người ta để ý tới câu chuyện của ''nhà tình báo yêu chúng ta."
Khi sách của tôi xuất bản, tôi gửi một cuốn cho nhà văn John le Carre.
Tôi không quen ông ấy nhưng ông là người có ý kiến mà tôi tôn trọng.
Le Carré gửi thư cảm ơn. Sau đó vài tuần ông lại viết cho tôi về những suy nghĩ của ông khi đọc sách về Phạm Xuân Ẩn.
''Cú sốc về điệp viên hai vai không làm cho tôi quên được,'' ông viết.
''Và cả sự nhẹ dạ của kẻ xâm nhập ngạo mạn cũng thế.'

Sách mới về điệp viên bậc thầy
Lại có thêm một tác phẩm của người Mỹ về điệp viên Phạm Xuân Ẩn vừa ra mắt.

Thomas Bass đã nói chuyện với Phạm Xuân Ẩn hàng chục giờ đồng hồ
Cuốn sách The Spy Who Loved Us (Nhà tình báo yêu chúng ta) của Giáo sư Thomas Bass (University at Albany, tiểu bang New York)là ấn phẩm mới nhất về người điệp viên Việt Nam được Tây phương biết tới nhiều nhất.
Kể từ lần gặp ông Ẩn lần đầu tiên năm 1992, ông Thomas Bass đã thu thập được hơn 60 giờ ghi âm cộng thêm phần chép tay tương đương nhiều giờ đối thoại với nhân vật phi thường này.
Bậc thầy chiến thuật
Dựa trên số tư liệu gốc ấy, tác giả nhận định ông Ẩn, “mặc dù tự thể hiện như là một phân tích gia chiến lược, chỉ quan sát chiến tranh từ bên lề, nhưng thực ra là một bậc thầy chiến thuật can dự nhiều trận đánh lớn của cuộc chiến”.
Tác giả cũng tiếp xúc được với nhiều nhân chứng lịch sử, ví dụ Đại tướng Mai Chí Thọ, người sếp cũ của ông Ẩn.
Trong một lần gặp, Thomas Bass đề nghị Tướng Thọ liệt kê các điệp viên hàng đầu của Việt Nam.
Ông Phạm Xuân Ẩn đứng đầu trong danh sách, tiếp theo là Đặng Trần Đức (Ba Quốc), thứ ba và thứ tư là Vũ Ngọc Nhạ và Phạm Ngọc Thảo.
Mới hồi năm 2008, một chuyên gia người Mỹ khác, Giáo sư Larry Berman, Đại học California tại Davis, đã công bố một tác phẩm về ông Ẩn, cuốn Perfect Spy (Điệp viên hoàn hảo).
Như Giáo sư Thomas Bass nhận xét với BBC Việt ngữ, tác phẩm của ông Larry Berman, trong cố gắng trở thành cuốn tiểu sử “chính thức” về Phạm Xuân Ẩn, dường như đã bỏ bớt tính phê phán cần có của một nghiên cứu khách quan.
Trong khi đó, tác giả của The Spy Who Loved Us không ngại hỏi thẳng ông Ẩn một số chủ đề nhạy cảm.
Ông hỏi ông Ẩn về cái gọi là “vụ án T4”, theo đó, Tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần gửi thư cho Đảng nói rằng ông đã bị Tổng cục Hai Bộ Quốc Phòng “dệt chuyện”.
Theo tác giả, ông Ẩn đã rút từ ngăn kéo lá thư 17 trang của Tướng Giáp.
Ông Ẩn thận trọng: “Tôi được đào tạo để khách quan. Điều tôi nên nói là ông ấy [Tướng Giáp] đúng trong mô tả góc nhìn của ông.”

Điệp viên Phạm Xuân Ẩn còn nhiều bí ẩn
“Thật nguy hiểm khi chọn theo phe nào. Lý do chúng tôi không có lịch sử Việt Nam do người Việt viết là vì anh không thể nói sự thật. Vì thế toàn bộ sách trên giá của tôi đều do người nước ngoài viết.”
Tác giả lại hỏi tiếp: Việt Nam sẽ ra sao nếu Hoa Kỳ đã thắng?
Ông Ẩn nói: “Việt Nam sẽ không giống Bắc Hàn. Bắc Việt khi đó chắc bị Trung Quốc hấp thu.” (would have been absorbed into China)
“Và còn Nam Việt Nam?”
“Người miền Nam không tàn nhẫn như Triều Tiên. Miền Nam hẳn sẽ chỉ là một ngôi sao nhỏ trong quỹ đạo phương Tây.”
Hình ảnh về một người yêu nước “lãng mạn” dường như là di sản mà ông Ẩn muốn để lại cho người phương Tây.
Trong một lần trò chuyện, ông Ẩn nói: “Tôi chưa bao giờ là người cách mạng.”
“Tôi là người lãng mạn, yêu tổ quốc và sẵn sàng bảo vệ quê hương đến chết,” ông nói.

GS. Thomas Bass là tác giả quyển sách The Spy Who Loved Us (2009) về điệp viên Phạm Xuân Ẩn.

Điệp viên "thành thật và can đảm"
Giáo sư Larry Berman ở Hà Nội
Giáo sư Larry Berman thăm Việt Nam để giới thiệu cuốn "Perfect Spy"
Giáo sư Larry Berman, người chấp bút cho cuốn hồi ký về cuộc đời của cựu điệp viên Phạm Xuân Ẩn hiện đang có chuyến thăm Việt Nam để giới thiệu cuốn "Perfect Spy" của mình.
Trả lời phỏng vấn BBC Tiếng Việt sáng 12.9.2007 khi đang có mặt ở Hà Nội, ông nhận định về cuộc đời nhân vật có thật, đồng thời cũng là nhân vật trong sách rằng "Ông Phạm Xuân Ẩn đã không hối tiếc điều gì".
Ông cũng kể lại cảm giác lần đầu gặp ông Phạm Xuân Ẩn trong một buổi chiêu đãi ở TP HCM và không hề biết đó là một cựu điệp viên:
Larry Berman: Ông Ẩn là người khá thú vị, rất hoạt ngôn, biết cách dẫn dắt câu chuyện với khả năng nói tiếng Anh xuất sắc. Ông khá tự nhiên khi tiếp xúc với tôi – một người Mỹ. Theo quan sát của tôi, những người Việt Nam khác khá thụ động và cảnh giác trước người nước ngoài. Họ thường xem người mình đang tiếp xúc là ai trước khi bắt chuyện.
Ông Ẩn thì không thế. Tôi cảm thấy rất thoải mái khi nói chuyện với ông. Có lẽ đó cũng là điều khiến ông trở thành một điệp viên giỏi, vì ông làm người khác cảm thấy thoải mái khi trao đổi thông tin.
BBC:Khi kể về thời kỳ “quản chế tại gia” cũng như “cải tạo chính trị”, suy nghĩ của cựu điệp viên tình báo như thế nào, thưa ông?
Larry Berman: Ông Ẩn không coi đó là “cải tạo chính trị” như một số người ở miền Nam thời đó. Ông ấy chỉ nói với tôi là đi “học tập chính trị”. Ông hiểu tất cả những điều đảng và chính phủ cộng sản làm với ông ấy. Ông từng sống với kẻ thù 20 năm, sống một cuộc sống hai mặt và hầu như không tiếp xúc trực tiếp với những người cùng dòng máu. Ông không nắm được tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của phía cộng sản.
Rồi chiến tranh kết thúc. Ông Ẩn tự hỏi “Tôi là ai?”. Không chỉ có ông hỏi điều đó, và mọi người cũng băn khoăn với câu hỏi tương tự. Ông hiểu vì sao người ta lại gửi ông đi “học tập chính trị” một năm ở Hà Nội. Ông cần học cách suy nghĩ giống như người Việt. Ông ấy nói rằng ông ấy “quá Mỹ hóa”. Nhưng rồi ông ấy cũng quay trở lại Sài Gòn vì ông ấy không thể “lập trình lại”.
Ông thấy tâm trạng của ông Ẩn khi kể về những chuyện đó ra sao?
Larry Berman: Ông ấy hiểu vì sao lại bị “quản chế tại gia”, nhưng cũng thấy thực sự buồn. Ông ấy là người thông minh, thích chuyện trò, vậy mà không được nói chuyện với bạn bè từng gắn bó với ông trong một thời gian dài. Ông Ẩn bị theo dõi và không được gặp người nước ngoài, không được gặp những người bạn cũ, các nhà báo từng sát cánh bên ông.
Khi tới thăm ông, họ được thông báo là ông Ẩn không muốn gặp. Nhưng thực sự không phải vậy. Ông rất muốn gặp lại những người bạn cũ, nhưng họ không cho gặp. Cho nên suốt thời kỳ từ năm 1976 – 1985, ông Ẩn không có một mối liên hệ nào với phương Tây.
Ông chỉ ở nhà dạy dỗ con cái. Hàng đêm, ông vẫn nghe đài BBC để nắm tình hình quốc tế. Ông tự trào mình là ông nội trợ. Ông Ẩn nói rằng khi lần đầu tiên được gặp gỡ một người bạn nước ngoài sau thời gian “quản chế”, ông ấy đã khóc vì sung sướng và hạnh phúc.
Tác giả Larry Berman trong một lần gặp với thiếu tướng Phạm Xuân Ẩn (1927-2006)
Trong thời gian hơn năm năm tiếp xúc với ông Ẩn, ông có thấy lúc nào cựu điệp viên tình báo này cảm thấy hối tiếc về một điều gì đó không?
Larry Berman: Tôi đã hỏi câu này với ông Ẩn. Nhiều người cũng có băn khoăn tương tự. Nhưng ông ấy khảng khái nói không hối tiếc một điều gì. Ông nói rằng nếu quay ngược trở lại thời gian, ông vẫn sẽ làm điệp viên và thực hiện nhiệm vụ như xưa.
Ông Ẩn nói: “Tôi không thích câu hỏi như vậy. Tôi đã tự vấn mình hàng nghìn lần rồi. Tôi ghét lại phải trả lời câu hỏi đó. Không, tôi không hối tiếc một điều gì cả. Tôi buộc phải làm như vậy. Hòa bình mà tôi chiến đấu để đạt được có thể làm kiệt quệ đất nước này, nhưng chiến tranh có khi còn giết chết nó. Dù tôi yêu nước Mỹ, nhưng nước Mỹ không có quyền gì ở nước này. Chúng tôi phải tự giải quyết vấn đề của mình”. Tôi cho đó là một câu trả lời thành thật và can đảm.
Giáo sư Larry Berman hiện giảng tại khoa Khoa học Chính trị, Đại học California tại Davis và là tác giả nhiều sách về cuộc chiến Việt Nam. Nguyên văn tựa đề cuốn sách về ông Phạm Xuân Ẩn là "Perfect Spy: The Incredible Double Life of Pham Xuan An, Time Reporter and Vietnamese Communist Agent". Một số báo Việt Nam gọi cuốn này là "Điệp viên Hoàn hảo" 
Nguồn: BBC

----------------

Giấc mơ "hồi tỵ"

Một người làm quan, cả họ được nhờ, câu nói của người xưa hẳn đã hàm ý một điều gì đó không hay, bởi nếu không thì tại sao từ thời phong kiến của nước ta từng có một nguyên tắc bổ nhiệm quan lại hết sức nghiêm nhặt, gọi là hồi tỵ.

LTS: 500 năm trước, vua quan thời phong kiến đã sớm ý thức được những qui luật khắc nghiệt giữa quyền và lợi.  Để tránh những rắc rối nảy sinh từ các mối quan hệ thân hữu, và cũng nhằm làm trong sạch bộ máy hành chính, họ đã đề ra những quy định nghiêm ngặt tránh bổ nhiệm những người thân cùng làm quan trong một đơn vị. Với những điều tưởng chừng đã trở thành nguyên tắc trị quốc như vậy song dường như như những thế hệ đương đại vẫn chưa thực sự thấm nhuần? Mời quý vị đọc bài viết của nhà báo Trần Trọng Thức.
Hồi tỵ có nghĩa là "tránh đi", theo đó những người có quan hệ huyết thống, đồng hương, thầy trò, bạn bè không được bổ nhiệm làm quan cùng một địa phương. Nếu gặp điều này thì phải báo với triều đình để thuyên chuyển người thân thuộc đi nơi khác. Nguyên tắc nói trên nhằm ngăn chặn người có quyền lợi dụng chức vụ để nâng đỡ, bao che hoặc câu kết với người thân thực hiện các hành vi tiêu cực.



Chuyện ngày xưa. Lê Thánh Tông (1442-1497) là vị vua đầu tiên của nước ta "luật hóa" hồi tỵ. Trong bộ Lê triều Hình luật (còn gọi là Luật Hồng Đức) có qui định: "Quan lại không được lấy vợ, kết hôn, làm thông gia ở nơi mình cai quản; cũng như không được tậu đất, vườn, ruộng, nhà ở nơi mình làm quan lớn, không được dùng người cùng quê làm người giúp việc".
Đến thời Minh Mạng luật hồi tỵ còn triệt để hơn: Các quan lại không được làm quan ở trú quán (nơi ở một thời gian lâu), ở quê vợ, quê mẹ, ngay cả nơi học tập thời còn trẻ. Dịch lại ở nha môn của các bộ tại kinh đô và các tỉnh, nếu là cha con, anh em ruột, anh em họ thì phải tách ra bổ nhiệm làm việc nơi khác. Các tham biện (quan chức cao cấp) về kinh đô hội họp nhưng khi bàn đến việc liên quan tới địa phương mình thì không được vào dự.
Rõ ràng, hơn 500 năm trước, vua quan thời phong kiến của nước ta đã sớm nắm được những qui luật khắc nghiệt giữa quyền và lợi - một qui luật của muôn đời - để tìm cách làm trong sạch bộ máy hành chính.
Chuyện ngày nay. Khi đi tìm nguyên nhân của quốc nạn tham nhũng, không ít người cho rằng đồng lương không đủ sống đã khiến lòng tham được khơi dậy. Điều kiện sinh hoạt không tương xứng với vị trí công tác khiến người ta phải "tự cân đối" bất chấp luật pháp kỷ cương. Có người thì đầu óc nặng tư duy nhiệm kỳ và tâm lý cuối đời cố vội vàng vơ vét, có người thì lo cho tương lai dòng họ đến mức "hy sinh đời bố, củng cố đời con". Chúng ta cũng đã có biết bao nhiêu luật lệ phòng chống quốc nạn tham nhũng nhưng rồi cũng chưa đi đến đâu.
Chẳng qua là vì lâu nay chúng ta tập trung ở phần ngọn với các biện pháp răn đe, trừng trị mà chưa đi sâu vào cái gốc là việc tổ chức bộ máy công quyền, trong đó nguyên tắc hồi tỵ không được kế thừa đầy đủ, nếu không nói là đi ngược lại: Quan đầu tỉnh đúng ra phải từ nơi khác được bổ nhiệm về để làm nhiệm vụ đại diện cho chính quyền trung ương và là công bộc của người dân, thì chúng ta lại bố trí người địa phương vào vị trí ấy (Trong khi đại biểu nhân dân lý ra phải chọn người ở địa phương nắm bắt được dân tình, thì lại có nhiều vị được phân bổ từ nơi khác đến ứng cử).
Điều này dẫn đến một thực tế là trong bộ máy hành chính người đứng đầu đã đưa nhiều con cháu, người thân vào cơ quan, dẫn đến tiêu cực xảy ra ở khắp các địa phương. Quan đầu tỉnh không làm tròn nhiệm vụ của Trung ương giao phó thì người đứng đầu chính phủ cũng không thể cách chức, thậm chí khi họ làm điều sai trái cũng khó trị tội đến nơi đến chốn.
Pháp lệnh cán bộ, công chức tuy có một số qui định liên quan đến hồi tỵ nhưng chỉ ở cấp thấp. Chẳng hạn Điều 20 của Pháp lệnh này nói rõ: "Người đứng đầu và cấp phó cơ quan, tổ chức, không được bố trí vợ hoặc chồng, bố mẹ, con, anh chị em ruột của mình giữ chức vụ lãnh đạo về tổ chức nhân sự, kế toán - tài vụ, thủ quỹ, thủ kho...", thế nhưng liệu có mấy nơi áp dụng nghiêm túc!
Đó là một trong những cản ngại lớn nhất trong việc điều hành bộ máy hành chính cũng như ngăn chặn tình trạng tham nhũng, không chỉ ở địa phương mà cả ở cấp trung ương. Vụ án các cựu Thứ trưởng Bộ Thương mại Mai Văn Dâu, Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải Nguyễn Việt Tiến.... là những bài học gần nhất.
Bây giờ giữa bao nhiêu phức tạp của tình hình chống tham nhũng, có dịp đọc lại nguyên tắc hồi tỵ từ thời phong kiến xa xưa mà cứ tưởng như chuyện trong mơ. Giá như giấc mơ đó trở thành hiện thực, thì sẽ giảm đi nhiều những chuyện bao che tham nhũng, chuyện ông anh làm quan đầu tỉnh thì cậu em thầu được biết bao công trình béo bở tại địa phương, và cũng giảm đi nhiều các vụ án tham nhũng bị khởi tố rồi trở thành chuyện để lâu cứt trâu hóa bùn....
Quan lại tham ô, nhũng nhiễu thì thời nào cũng có, vì lòng tham thường dễ phát sinh khi quyền lực và quyền lợi sát cánh bên nhau. Suy cho cùng đó là vị đắng của bất cứ xã hội nào, mà các biện pháp chế tài chỉ nhằm làm giảm bớt chứ khó lòng loại bỏ được hoàn toàn. Hồi tỵ chính là một trong những biện pháp quan trọng để ngăn chặn hành vi tệ hại của quan lại thời nay.
  • Trần Trọng Thức
Nguồn: Tuanvietnam.net
----------------

Gài độ