11/09/2009

NỚI DỐI LEM LÉM, NÓI DỐI LÌ LỢM

Nhà văn Nguyễn Khải
Một xã hội không tự hiểu mình, mỗi cá nhân cũng không tự hiểu mình, vàng thau, phải trái, cao quý ti tiện lẫn lộn, các giá trị lẫn lộn bắt đầu từ sự không chuẩn xác của ngôn từ.
Câu mở đầu kinh thánh Cựu ước “Thoạt Tiên Là Ngôn Ngữ…” (Au conmmencement était le Verbe). Ngôn ngữ làm nên văn minh này, vì nó có thể lưu giữ và truyền lại toàn bộ kinh nghiệm của nhiều đời trước cho nhiều đời sau, càng ngày cái khả năng nhận thức càng gần đúng như nó có, khiến sự lựa chọn của con người khách quan hơn, có hiệu quả tích cực trong quá trình chủ động thích ứng với mọi đổi thay của môi trường sống và môi trường xã hội.
Vậy mà ngôn từ lại là cái mặt yếu nhất trong các lãnh vực thuộc thượng tầng kiến trúc ở các nước xã hội chủ nghĩa. Công dân của các nước ấy dùng ngôn từ để che đậy chứ không nhằm giao tiếp, hoặc giao tiếp bằng cách che đậy, “nói vậy mà không phải vậy”! Nó là cái vỏ cứng để bảo vệ mọi sự bất trắc, chống lại thói quen hay xét nét lời ăn tiếng nói của công dân của mọi chính quyền chuyên chế.
Cái cách tự bảo vệ ấy lại càng rõ rệt ở cấp lãnh đạo và các viên chức nhà nước làm việc ở các cơ quan quyền lực. Họ nói bằng thứ ngôn ngữ khô cứng đã mất hết sinh khí, một thứ ngôn ngữ chết, ngôn ngữ “gỗ”, nói cả buổi mà người nghe vẫn không thể nhặt ra một chút thông tin mới nào.
Các buổi trả lời phỏng vấn báo chí, diễn văn tại các buổi lễ kỷ niệm, báo cáo của Đảng, của chính phủ, của quốc hội, tất cả đều dùng các từ rất mơ hồ, ít cá tính và ít trách nhiệm nhất. Người cầm quyền cấp cao nhất và cấp thấp nhất đều biết cách nói mơ hồ, càng nói mơ hồ càng được đánh giá là chín chắn.
Và nói dối, nói dối hiển nhiên, không cần che đậy. Vẫn biết rằng nói dối như thế sẽ không thay đổi được gì vì không một ai tin nhưng vẫn cứ nói. Nói đủ thứ chuyện, nói về dân chủ và tự do, về tập trung và dân chủ, về nhân dân là người chủ của đất nước còn người cầm quyền chỉ là nô bộc của nhân dân.
Rồi nói về cần kiện liêm chính, về chí công vô tư, về lý tưởng và cả quyết tâm đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa cộng sản. Nói dối lem lém, nói dối lì lợm, nói không biết xấu hổ, không biết run sợ vì người nghe không có thói quen hỏi lại, không có thói quen lưu giữ các lời giải thích và lời hứa để kiểm tra. Hoặc giả hỏi lại và kiểm tra là không được phép, là tối kỵ, dễ gặp tai hoạ nên không hỏi gì cũng là một phép giữ mình.
Người nói nói trong cái trống không, người nghe tuy có mặt đấy nhưng cũng chỉ nghe có những tiếng vang của cái trống không. Nói để giao tiếp đã trở thành nói để không giao tiếp gì hết, nói để mà nói, chả lẽ làm người lại không nói.
Thật ra nói thế mà vẫn hiểu nhau cả. Người cầm quyền thì biết là nhân dân đang rất bất bình về nhiều chuyện, nhân dân thì biết người cầm quyền đang nói dối, nhìn vào thực tiễn là biết ngay họ đang nói dối. Nhưng hãy mặc họ với những lời lẽ dối trá của họ, còn mình là dân chả nên hỏi lại nói thế là thật hay không thật. Mình cứ làm theo ý mình và mình cũng sẽ nói dối, nói che đậy nếu như có dịp được người cầm quyền hỏi.
Trong hàng trăm cuốn hồi ký của các nhà văn hoá, của những người hoạt động chính trị, của nhiều tướng lĩnh, ta chả biết được bao nhiêu cái thế giới riêng của họ, cái thế giới cá nhân của họ. Cái phần đóng góp của họ càng nhỏ thì cái ý nghĩa quyết định của tập thể càng lớn, cái có tên thì bé tí xíu, vô nghĩa, cái không tên thì bao trùm rộng khắp nhưng cũng không có hình thù rõ rệt, cứ mờ mờ mịt mịt, có đấy mà cũng không có đấy, cái chung ấy chả phải chịu trách nhiệm với một ai, có biết nó là ai mà truy cứu.
( Rút từ Đi tìm cái tôi đã mất- đầu đề của Quê choa)
Nguồn: Quechoablog

------------

10/09/2009

Giải phẫu một ca Việt gian

    
 Tác giả: Phạm Toàn
Dĩ nhiên, đây không là giải phẫu tử thi, đó là việc của pháp y. Đây là giải phẫu một cách làm ăn của Việt gian, đồng thời về mặt tâm lý, cũng giải phẫu luôn một thứ đầu óc Việt gian, để hiểu xem, vì lý do gì mà bọn Việt gian lại… hành động theo lối Việt gian. Việc làm này không nhằm “trị bệnh cứu người”: có mà thừa hơi cũng chẳng nghe theo cái chủ trương đạo đức giả đó của Mao xếnh xáng. Mất thì giờ làm công việc giải phẫu này chỉ là vì lợi ích của đồng bào mình thôi.
Đồng bào mình là những người ngay thật, nên rất ưa sống thanh thản. Vì đặc điểm đó, đồng bào mình ghét Việt gian hơn là ghét kẻ thù khác, trong lịch sử, như là lính xâm lược (Pháp hoặc Mỹ), chẳng hạn. Đồng bào mình nhìn thấy ở bọn lính xâm lược cái vẻ gì đó hơi ngộc nghệch, thấy đại bộ phận họ cũng ngây thơ như con em mình thôi, vì một lý do gì đó mà thành những người cầm súng thôi: hai lớp thanh niên đó giống nhau trong cái tâm lý không thích bắn giết, không thích chiến tranh. Vì thế mà sự hòa giải giữa hai dân tộc tham chiến dễ thực hiện lắm. Một người bạn Mỹ, hiện nay đang làm chủ tịch kiêm giám đốc điều hành một nhà trường phổ thông danh tiếng ở Boston, từ năm 1994 đến năm 2000 vẫn cho học sinh và giáo viên sang Hà Nội “học tại chỗ” ở nước ngoài, tại chính ngôi trường thực nghiệm tôi có điều kiện phục vụ. Trong ngần ấy năm, hai chúng tôi có nhiều cơ hội đùa vui nhiều hơn là buồn, nhưng rồi bỗng có một lần anh bộc lộ với tôi giọng trầm xuống: “Tôi phải thay mặt cho cả gia đình nói lời cảm ơn cậu”. “Gì vậy, Woody?” Woody là tên anh, người đã từng cho cả hai con gái sang dạy tiếng Anh không công cho trường tôi trong cả một năm học. Woody bảo tôi: “Anh trai mình chết ở Đà Nẵng vài ngày sau khi đổ bộ lên… Nỗi buồn làm cả gia đình tôi không dám nhìn nhau, vì là nỗi buồn không lý giải được… Mấy năm vừa rồi đưa giáo viên và học trò sang Việt Nam làm việc, nỗi buồn đã được giải tỏa…”
Nhưng thái độ đồng bào mình với bọn Việt gian thì khác, vì đồng bào mình biết rõ bọn Việt gian khác lòng khác dạ. Bọn này lòng dạ nham hiểm, bề ngoài thơn thớt nói cười, bề trong bao giờ cũng có một âm mưu khác. Bọn này bao giờ cũng ném đá giấu tay. Bọn này bao giờ cũng mượn gió bẻ măng. Như khi nơi nào đó có thủy hỏa đạo tặc tàn phá, người dân thì nước mắt ròng ròng vì mất của mất con, trong khi bọn chúng (những kẻ ăn ở hai lòng) lẳng lặng đi hôi của. Như khi đất nước có chiến tranh xâm lược, mỗi gia đình là một nỗi hy sinh lắm khi không nói ra nổi thành lời, thì bọn Việt gian quen ăn ở hai lòng lại tìm cách khai thác cái nỗi đau tím tái ấy.
Mối nguy Việt gian không dừng lại sau khi kết thúc chiến tranh chống ngoại xâm. Mối nguy đó còn kéo dài trong công cuộc được giáo sư Hoàng Xuân Hãn phân định khái quát thành khái niệm giải phóng đất nước. Hoàn cảnh đó được diễn đạt trong lá thư giáo sư gửi hai bậc lão thành cách mạng Phạm Văn Đồng và Võ Nguyên Giáp: “Tôi đã có lúc biện-luận về điều khác biệt giữa sự thắng ngoại-xâm và sự giải-phóng đất nước. Nước ta chỉ có hai cuộc giải-phóng mà thôi: thời 1416-1427 với Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi, và thời 1945-1975 với Bác Hồ cùng các Anh. Tự nhiên cả hai mặt phải nhờ gắn-bó giữa mưu-lược lãnh-đạo và kiên-cường nhân-dân. Khi ngoại-xâm thì nhân-dân ai cũng căm-tức và lo-sợ cho tương-lai; còn trong cuộc giải-phóng thì địch đã ở chung với nhân-dân lâu trong nước, rồi có thể dùng quyền-lợi để chia rẽ và giảm tinh-thần nhân-dân.”
Trong giai đoạn gọi bằng “giải phóng” này, hành vi của bọn Việt gian trở nên tinh vi hơn, vì chúng cần ra tay hoạt động trong giới tinh hoa, mà giới tinh hoa thì lại có đặc điểm là hay mất cảnh giác. Chẳng hạn có khi chúng đóng vai nhà nghiên cứu cổ sử để thỉnh thoảng viết bài chửi đổng, cốt gây một tâm trạng bi quan, chán nản, “dân tộc ta tới kỳ anh hùng tận”, “đất nước ta hết anh hùng rồi”, “thời đại không còn có vị anh hùng nào nữa rồi”… Đọc lướt qua một “tiểu luận” như thế, các bậc trí giả nhún vai bỏ ngoài tai. Thì kẻ gian chỉ mong có thế: không ai chỉ ngón tay vào giữa trán của hắn để nói rành rọt rằng sau vụ Ma chiến hữu mi định giở trò gì nữa đây? Và kẻ gian hí hửng được một hồi khá dài, ngỡ rằng cái trò hắn giở ra không ai hay biết. Thực ra, người ta biết tỏng: kẻ Việt gian định đóng vai nhà yêu nước thông thái đang vận dụng cổ sử để làm công việc chỉ điểm một mánh khóe được đào tạo để hoạt động đặc vụ. Chỉ điểm như thế nào? Chỉ điểm qua một ý bọc trong những lời lẽ tưởng đâu như là bâng quơ: “… nhóm Bauxite Việt Nam đang định thay thế (hạ bệ) vị anh hùng xưa cũ đã mất tác dụng bằng cách dựng lên một vị anh hùng mới toanh …”. Và tên Việt gian hí hửng ngồi chờ xem có người mang còng số 32 đến địa chỉ nào đó thực hiện cú hat-trick! Tên Việt gian thực lòng đang hí hửng chờ đợi một không khí khủng bố cho đất nước này thực sự loạn lên mặc dù chiến tranh đã qua lâu rồi. Một tên đặc vụ vượt biển vượt biên lên dải đất liền hình chữ Ét-xì đã chui được sâu và an toàn đang chờ đất nước thân yêu của chúng ta loạn lạc; nội công để chờ ngoại kích là vậy.
Tên Việt gian lồng lộn lên khi thấy Huy Đức vẫn sống yên lành và viết lách hiền hòa. Tên Việt gian theo chiến thuật cũ lại tung ra cú hỏa mù mới: từ cổ sử, tên vô lại bỗng nhảy sang sử hiện đại để phê phán ý tưởng về “bức tường Berlin“. Không phải là tranh luận, mà là có ý định muốn thủ tiêu một nhà báo có uy tín. Những ý tưởng hắn cố tình viết ra sao cho rắc rối, vì càng rắc rối thì càng ra vẻ “nghiên cứu nghiêm chỉnh”. Thỉnh thoảng hắn lại để lọt vào những lời lẽ chỉ lọt tai nổi những phần tử dốt nát về lý luận thôi. Thì đó cũng là ý đồ của tên Việt gian, thì đó cũng là mục đích của công việc chỉ điểm! Chỉ với một chút lưu ý về tâm lý: tên Việt gian hoàn toàn coi khinh những ai và những tổ chức được hắn mách nước, nghĩ rằng chỉ đáng được mách nước đến vậy thôi. Hắn gửi đi một chỉ thị về cách đánh giá chung nhất “về lập trường quan điểm”, để sau đó dù có dùng đủ thứ lòe loẹt giả vờ phân tích này nọ, thì chỉ một cái chốt này cũng đủ đưa một nhà báo vào nhà lao:
“Bàng bạc trong bài viết ‘Bức tường Berlin’ là nỗi niềm độc lập tự do. Nó không khác mấy nội hàm ở khẩu hiệu ‘Không có gì quí hơn độc lập tự do’ của Hồ Chí Minh. Song, nếu Hồ Chí Minh đào sâu nỗi niềm độc lập – tự do trong Tuyên ngôn Độc lập của mình thì rất tiếc, nhà báo Huy Đức lại sử dụng ‘độc lập, tự do’ như một cái cớ khập khiễng để nhẩy múa trên những sử liệu một chiều”.
và trịch thượng mách nước kép, hướng dẫn cả “đường lối khu xử” với một nhà báo, kèm theo một thách thức giả bộ với cá nhân nhà báo (nếu việc chỉ điểm không thành, nghĩa là chưa bị khủng bố):
“Ảo tín vào những điều không tưởng của một người lính xuất thân từ nông dân luôn dễ hiểu hơn ảo tín của một nhà báo chính trị xã hội già dặn nơi phồn hoa. Tôi rất hy vọng sẽ được trao đổi thêm với tác giả Huy Đức dưới hình thức blog, để nhận ra những thiên kiến đáng trách và sự hãn hữu của đầu óc mình”.
Cái giọng “trao đổi thêm dưới hình thức blog” là gì vậy nếu không là một mánh lới mới: tổ chức cho ba đứa đàn em đứng ra cãi nhau cù cưa “dưới hình thức blog” (dịch nghĩa: hình thức đòn hội chợ của bọn quen nghề mãi võ) nói những chuyện không đâu núp danh khoa học và cận sử cùng cổ sử, trong khi còn biết bao công việc hữu ích phải làm.
Chỉ có điều băn khoăn: vì động cơ gì mà Việt gian lại thích làm công tác Việt gian? Vì tiền? Chắc là có! Nếu không, đất đai bất động sản đắt đỏ như phát sốt mà lại ung dung đến thế? Vì trót dại làm Hồng Vệ binh (hoặc con cái của Hồng Vệ binh) tham gia Cách mệnh Văn hóa, rồi tiếp tục bị dắt mũi? Có thể lắm! Vì lý tưởng? Lý tưởng gì? Muốn cho cố quốc vươn xa vươn rộng ra khắp chỗ nào có cỏ mọc? Cũng có thể lắm! Và cũng có thể giản dị hơn, như câu tục ngữ vùng Phúc Kiến “Con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo”, và chấp nhận thân phận yêng hùng tầm cỡ chó săn chim mồi.
Tôi ngả về cách giải thích cuối cùng này.
Hà Nội, 4 tháng 9 năm 2009
Nguồn: blog Gocomay
Để hiểu hơn vì sao ông bác sĩ này dùng đao to búa lớn để giải phẩu "Việt gian" Trương Thái Du
Mời Bạn xem thêm: 
Bức tường Berlin” của Huy Đức đăng trên Blog Osin. 
Bút chiến quanh bài ” Bức tường Berlin” đăng trên Blog Quê choa


------------

09/09/2009

Bạn có tin ở mắt mình?

Trang website của báo Đảng nhà mình vừa đăng tin "Hải quân TQ diễn tập tại Biển Đông". Tin cũng bình thường, khẳng định Hải quân TQ diễn tập tại Hoàng Sa và Trường Sa (trích từ báo Trung Quốc).

http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30127&cn_id=358460


http://img5.imageshack.us/img5/6029/tinhaiquantq.jpg

Giờ thì tin đó lại bị gỡ xuống.
Thế mới biết, làm báo Đảng mà còn khó quán triệt cái gì là nhạy cảm, nữa là các báo tầm vừa như vnexpress, Thanh niên, Tuổi trẻ...

Nguồn: Tac ke blog 
Mời Bạn tham khảo thêm: 
Tin lạ (với các bình luận trên Blog Osin)
Theo Bạn đây là sự cố kỷ thuật, bị hack hay vận nước đến hồi... mạt?

------------

08/09/2009

Tội ác quân Trung Quốc tháng 2/1979

Biên Giới Tháng Hai (2009-1979)

Tháng Hai, những cây đào cổ thụ trước cổng đồn biên phòng Lũng Cú, Hà Giang, vẫn chưa có đủ hơi ấm để đâm hoa; những khúc quanh trên đèo Tài Hồ Sìn, Cao Bằng, vẫn mịt mù trong sương núi. Sáng 7-2 nắng lạnh, vợ chồng ông Nguyễn Văn Quế, 82 tuổi, nhà ở khối Trần Quang Khải 1, thị xã Lạng Sơn, ngồi co ro kể lại cái chết 30 năm trước của con trai mình, anh Nguyễn Văn Đài. Năm ấy, Đài 22 tuổi. Ông Quế nói: “Để ghi nhớ ngày ấy, chúng tôi lấy Dương lịch, 17-2, làm đám giỗ cho con”. Năm 1979, vào lúc 5giờ 25 phút sáng ngày 17-2, Trung Quốc nổ súng trên toàn tuyến biên giới Việt Nam, đánh chiếm từ Phong Thổ, Lai Châu, tới địa đầu Móng Cái.
“Những đôi mắt”
Hôm ấy, ông Quế không có nhà, vợ ông, bà Dự, bị dựng dậy khi bên ngoài trời hãy còn rất tối. Bà nghe tiếng pháo chát chúa ở hướng Đồng Đăng và phía dốc Chóp Chài, Lạng Sơn. Bà Dự đánh thức các con dậy, rồi 4 mẹ con dắt díu nhau chạy về xuôi. Tới ki-lô-mét số 10, đã quá trưa, bà rụng rời khi hay tin, anh Đài đã bị quân Trung Quốc giết chết. Anh Đài là công nhân đường sắt, thời điểm ấy, các anh đương nhiên trở thành tự vệ bảo vệ đoạn đường sắt ở Hữu Nghị Quan. Anh em công nhân trong đội của Đài bị giết gần hết ngay từ sáng sớm. Đài thuộc trong số 3 người kịp chạy về phía sau, nhưng tới địa bàn xã Thanh Hòa thì lại gặp Trung Quốc, thêm 2 người bị giết. Người sống sót duy nhất đã báo tin cho bà Dự, mẹ Đài.
Cùng thời gian ấy, ở bên núi Trà Lĩnh, Cao Bằng, chị Vương Thị Mai Hoa, một giáo viên cấp II, người Tày, mới ra trường, cũng bị giật dậy lúc nửa đêm rồi theo bà con chạy vào hang Phịa Khóa. Hàng trăm dân làng trú trong hang khi pháo Trung Quốc gầm rú ở bên ngoài, rồi lại gồng gánh theo nhau vào phía Lũng Pùa, chạy giặc. Chị Hoa không bao giờ có thể quên “từng đôi mắt” của dòng người gồng gánh ấy. Giờ đây, ngồi trong một cửa hàng bán băng đĩa trên phố Kim Đồng, thị xã Cao Bằng, chị Hoa nhớ lại: “Năm ấy, tôi 20 tuổi. Tôi nghĩ, tại sao mình lại chạy!”. Chị quay lại, sau khi thay quần áo giáo viên bằng bộ đồ chàm vì được những người chạy sau cho biết, rất nhiều người dân ăn mặc như cán bộ đã bị quân Trung Quốc giết chết. Từ trên đồi, chị Hoa thấy quân Trung Quốc gọi nhau ý ới và tiến vào từng đoàn.
“Cuộc Chiến 16 Ngày”
Ngày 15-2-1979, Đại tá Hà Tám, năm ấy là trung đoàn trưởng trung đoàn 12, thuộc lực lượng Biên phòng, trấn ở Lạng Sơn, được triệu tập. Cấp trên của ông nhận định: “Ngày 22 tháng 2, địch sẽ đánh ở cấp sư đoàn”. Ngay trong ngày 15, ông ra lệnh cấm trại, “Cấp chiến thuật phải sẵn sàng từ bây giờ”, ông nói với cấp dưới. Tuy nhiên, ông vẫn chưa nghĩ là địch sẽ tấn công ngay. Đêm 16-2, chấp hành ý kiến của Tỉnh, ông sang trại an dưỡng bên cạnh nằm dưỡng sức một đêm bởi vì ông bị mất ngủ vì căng thẳng sau nhiều tháng trời chuẩn bị. Đêm ấy, Trung Quốc đánh.
Ở Cao Bằng, sáng 16 tháng 2, tất cả các đồn trưởng Biên phòng đều được triệu tập về thị xã Cao Bằng nhận lệnh, sáng hôm sau họ tìm về đơn vị triển khai chiến đấu khi Trung Quốc đã tấn công rồi. Sáng 17-2, Tỉnh Cao Bằng ra lệnh “sơ tán triệt để khỏi thị xã”; đại đội 22 của thị xã Cao Bằng được trang bị thêm 17 khẩu súng chống tăng B41. Ngày 18-2, một chiếc tăng Trung Quốc có “Việt gian” dẫn đường lọt tới Cao Bằng và bị tiêu diệt. Nhiều nơi, chỉ khi nhìn thấy chữ “Bát Nhất”, người dân mới nhận ra đấy là tăng Trung Quốc. Đại tá Hà Tám công nhận: “Về chiến lược ta đánh giá đúng nhưng về chiến thuật có bất ngờ”. Tuy nhiên, Đại tá Hoàng Cao Ngôn, Tỉnh đội trưởng Cao Bằng thời kỳ 17-2, nói rằng, cho dù không có bất ngờ thì tương quan lực lượng là một vấn đề rất lớn. Phần lớn quân chủ lực của Việt Nam đang ở chiến trường Campuchia. Sư đoàn 346 đóng tại Cao Bằng nhiều năm chủ yếu làm nhiệm vụ kinh tế, thời gian huấn luyện sẵn sàng chiến đấu trở lại chưa nhiều. Lực lượng cầm chân Trung Quốc ở tuyến một, hướng Cao Bằng, chủ yếu là địa phương quân, chỉ có khoảng hơn 2 trung đoàn.
Trong khi, theo tài liệu từ Trung Quốc, chỉ riêng ở Cao Bằng trong ngày 17-2, Trung Quốc sử dụng tới 6 sư đoàn; ở Lạng Sơn 3 sư và Lào Cai 3 sư. Hôm sau, 18-2, Trung Quốc tăng cường cho hướng Cao Bằng 1 sư đoàn và 40 tăng; Lạng Sơn, một sư và 40 tăng; Lào Cai, 2 trung đoàn và 40 tăng. Lực lượng Trung Quốc áp sát Biên giới vào ngày 17-2 lên tới 9 quân đoàn chủ lực. Ngày 17-2, Trung quốc tiến vào Bát xát, Lao Cai; chiều 23-2, Trung Quốc chiếm Đồng Đăng; 24-2, Trung Quốc chiếm thị xã Cao Bằng; ngày 27-2, ở Lạng Sơn, Trung Quốc đánh vào thị xã.
Thế nhưng, bằng một lực lượng nhỏ hơn rất nhiều, các đơn vị Biên giới đã nhanh chóng tổ chức chiến đấu. Theo cuốn “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt”, xuất bản lần đầu năm 1993 của NXB Đại học Tứ Xuyên, quân Trung Quốc đã gọi con đường tiến vào thị xã Cao Bằng của họ là những “khe núi đẫm máu”. Đặc biệt, tiểu đoàn Đặc công 45, được điều lên sau ngày 17-2, chỉ cần đánh trận đầu ở kilomet số 3, đường từ Cao Bằng đi về xuôi qua đèo Tài Hồ Sìn, cũng đã khiến cho quân Trung Quốc khiếp vía. Những người dân Biên giới cho đến hôm nay vẫn nhớ mãi hình ảnh “biển người” quân Trung Quốc bị những cánh quân của ta cơ động liên tục, đánh cho tan tác. Đầu tháng 3-1979, trong khi hai sư đoàn 346, Cao Bằng và 338, Lạng Sơn, thọc sâu đánh những đòn vu hồi. Từ Campuchia, sau khi đuổi Pol Pốt khỏi Phnompênh, hai quân đoàn tinh nhuệ của Việt Nam được điều ra phía Bắc. Ngay sau khi Quân đoàn II đặt những bước chân đầu tiên lên Đồng Mỏ, Lạng Sơn; Quân Đoàn III tới Na Rì; Chủ tịch Nước ra lệnh “Tổng Động viên”… ngày 5-3-1979, Trung Quốc tuyên bố rút quân về nước.
Lào Cai, Sapa, Đồng Đăng, Lạng Sơn… bị phá tan hoang. Tại Cao Bằng, quân Trung Quốc phá sạch sẽ từng ngôi nhà, từng công trình, ốp mìn cho nổ tung từng cột điện. Nếu như, ở Bát Xát, Lao Cai, hàng trăm phụ nữ trẻ em bị hãm hiếp, bị giết một cách dã man ngay trong ngày đầu tiên quân Trung Quốc tiến sang. Thì, tại thôn Tổng Chúp, xã Hưng Đạo, huyện Hòa An, Cao Bằng, trong ngày 9-3, trước khi rút lui, quân Trung Quốc đã giết 43 người, gồm 21 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. Mười người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.
Lặng Lẽ Hoa Đào
Ngồi đợi ông Nguyễn Thanh Loan, người trông giữ nghĩa trang Vị Xuyên, Hà Giang, chúng tôi nhìn ra xa. Tháng Hai ở đây mới là mùa hoa đào nở. Nghĩa trang có 1680 ngôi mộ. Trong đó, 1600 mộ là của các liệt sỹ hy sinh trong cuộc chiến tranh từ ngày 17-2. Ở Vị Xuyên, tiếng súng chỉ thật sự yên vào đầu năm 1990. Năm 1984, khi Trung Quốc nổ súng trở lại hòng đánh chiếm hơn 20 cao điểm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, bộ đội đã phải đổ máu ở đây để giành giật lấy từng tấc đất. Rất nhiều chiến sỹ đã hy sinh, đặc biệt là hy sinh khi tái chiếm đỉnh cao 1509. Ông Loan nhớ lại, cứ nửa đêm về sáng, xe GAT 69 lại chở về, từng túi tử sỹ xếp chồng lên nhau. Trong số 1600 liệt sỹ ấy, chủ yếu chết trong giai đoạn 1984, 1985, có người chết 1988, còn có 200 ngôi mộ chưa xác định được là của ai. Sau khi hoàn thành việc phân giới cắm mốc, cái pháo đài trên đỉnh 1509 mà Trung Quốc dành được và xây dựng trong những năm 80, vẫn còn. Họ nói là để làm du lịch. Từ 1509, có thể nhìn thấu xuống thị xã Hà Giang. Năm 1984, từ 1509 pháo Trung Quốc đã bắn vào thị xã.
Trên đường lên Mèo Vạc, sương đặc quánh ngoài cửa xe. Từng tốp, từng tốp trai gái H’mông thong thả cất bước du xuân. Có những chàng trai đã tìm được cho mình cô gái để cầm tay. Một biên giới hữu nghị và hòa bình là vô cùng quý giá. Năm 1986, vẫn có nhiều người chết vì đạn pháo Trung Quốc nơi đoạn đường mà chúng tôi vừa đi, nơi các cô gái, hôm nay, để cho các chàng trai cầm tay kéo đi với gương mặt tràn trề hạnh phúc.
Quá khứ, rất cần khép lại để cho những hình ảnh như vậy đâm chồi. Nhưng cũng phải trân trọng những năm tháng đã thuộc về quá khứ. Tháng Hai, đứng ở bên này cửa khẩu Chi Ma, Lạng Sơn, nhìn sang bên kia, thấy lừng lững một tượng đài đỏ rực mà theo các sỹ quan Biên phòng, Trung Quốc gọi là “ đài chiến thắng”. Trở lại Lạng Sơn, những chiếc xe tăng Trung Quốc bị quân và dân ta bắn cháy hôm 17-2 vốn vẫn nằm bên bờ sông Kỳ Cùng, giờ đã được bán sắt vụn cho các khu gang thép. Ở Cao Bằng, chúng tôi đã cố nhờ mấy người dân địa phương chở ra kilomet số 3, theo hướng đèo Tài Hồ Sìn, tìm tấm bia ghi lại trận đánh diệt 18 xe Trung Quốc của tiểu đoàn đặc công 45, nhưng không thấy. Trở lại Tổng Chúp, phải nhờ đến ông Lương Đức Tấn, Bí thư Chi bộ, nguyên huyện đội phó Hòa An, đưa ra cái giếng mà hôm 9-3-1979, quân Trung Quốc giết 43 thường dân Việt Nam. Ông Tấn cũng chính là một trong những người đầu tiên trở về làng, trực tiếp đỡ từng xác phụ nữ, trẻ em, bị chặt bằng búa, bằng dao rồi quăng xuống giếng. Cái giếng ấy bây giờ nằm sâu trong vườn riêng của một gia đình, không có đường đi vào. Hôm ấy, anh Tấn phải kêu mấy thanh niên đi theo chặt bớt cành tre cho chúng tôi chụp hình bia ghi lại sự kiện mà giờ đây đã chìm trong gai tre và lau lách.
Huy Đức

Nguồn: Blog Osin

------------

07/09/2009

Vụ thảm sát Ba Chúc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Thảm sát Ba Chúc
Thảm sát Ba Chúc
Hài cốt tại Nhà mồ Ba Chúc
Địa điểm
Thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, Việt Nam
Mục tiêu
Dân thường Việt Nam
Ngày
18 đến 30 tháng 4 năm 1978
(ngày đẫm máu nhất: 18 tháng 4[1])
Loại tấn công
Thảm sát, tội ác chiến tranh
Tử vong
3.157 dân thường[2]
Thủ phạm
Khmer Đỏ
Vụ thảm sát Ba Chúc xảy ra tại thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang trong cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam năm 1978. Xã nằm cách biên giới Campuchia khoảng 7 km.
Trong vòng 2 tuần từ ngày 18 đến ngày 30 tháng 4 năm 1978, 3.157[2] dân thường Ba Chúc vùng quanh Núi TượngNúi Dài đã bị quân Khmer Đỏ thảm sát (trong tổng số 16 ngàn dân xã Ba Chúc). Phần lớn nạn nhân bị sát hại vào ngày 18 tháng 4, khi một toán quân Khmer xâm nhập dồn hết dân làng vào các ngôi chùa và trường học rồi thảm sát. Những người sống sót trốn được vào núi Tượng, tuy nhiên họ bị phát hiện ra vài ngày sau. Phần lớn nạn nhân bị bắn, chém, chặt đầu. Nhiều phụ nữ bị hãm hiếp, bị đóng cọc vào chỗ kín, trẻ em thì bị đâm lê trước khi giết chết.
Đây là một trong những sự kiện dẫn tới Chiến dịch phản công biên giới Tây - Nam.
Năm 1979, chính quyền và nhân dân An Giang đã xây dựng tại đây quần thể chứng tích tội ác, bao gồm 7 hạng mục: Nhà Mồ, Bia Căm thù, Nhà Truyền thống, Nhà Thủy tạ, Hồ sen, Nhà khách và vòng rào.
Nhà Mồ, công trình chính, có hình lục giác. Chính giữa nhà Mồ là một khung hộp kiếng tám cạnh bằng nhau, chứa đựng 1159 nạn nhân trong cuộc thảm sát.
Nhà nước Việt Nam đã công nhận Cụm Di tích Căm thù ở Ba Chúc (hay còn được gọi là Khu chứng tích tội ác diệt chủng Pôn Pốt, tại Ba Chúc), bao gồm ba điểm tiêu biểu là: Nhà Mồ, chùa Tam Bửu, chùa Phi Lai theo quyết định 92/VH.QĐ ngày 10 tháng 7 năm 1980.


Ảnh nơi phòng trưng bày cuộc thảm sát tại khu Nhà Mồ Ba Chúc.

[sửa] Xem thêm


[sửa] Tham khảo


[sửa] Liên kết ngoài


------------

Vụ thảm sát Mỹ Lai

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
Tọa độ: 15°10′42″B, 108°52′10″Đ
Thảm sát Mỹ Lai
Thảm sát Mỹ Lai
Địa điểm Làng Sơn Mỹ, Quảng Ngãi, miền nam Việt Nam
Mục tiêu Thôn Mỹ Lai 4 và Mỹ Khê 4
Ngày 16 tháng 3 năm 1968
Loại tấn công Thảm sát, tội ác chiến tranh
Tử vong 347 dân thường bị giết (thừa nhận của Lục quân Hoa Kỳ[1])
504 dân thường bị giết (thống kê của Việt Nam[2])
Thủ phạm Lục quân Hoa Kỳ
Thảm sát Mỹ Lai hay thảm sát Sơn Mỹ là một tội ác chiến tranh của Lục quân Hoa Kỳ[3][4] gây ra trong thời gian Chiến tranh Việt Nam. Vào ngày 16 tháng 3 năm 1968 tại khu vực thôn thôn Mỹ Lai thuộc làng Sơn Mỹ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, các đơn vị lính Lục quân Hoa Kỳ đã thảm sát hàng loạt 504[2] dân thường không có vũ khí, trong đó phần lớn là phụ nữ và trẻ em. Trước khi bị sát hại, nhiều người trong số các nạn nhân còn bị cưỡng bức, quấy rối, tra tấn, đánh đập hoặc cắt xẻo các bộ phận trên cơ thể[5]. Vụ việc đã bị che dấu cho tới cuối năm 1969 và ngoại trừ một chỉ huy cấp trung đội thì không có bất cứ sĩ quan hay binh lính Hoa Kỳ nào bị kết tội sau vụ thảm sát này.
Trong tiếng Anh, vụ thảm sát này có tên My Lai Massacre, Son My Massacre hoặc Pinkville, trong đó Pinkville là tên địa danh của quân đội Hoa Kỳ đặt cho khu vực Mỹ Lai[6]. Sự kiện thảm khốc này đã gây sốc cho nước Mỹ, hâm nóng phong trào phản chiến[2] và là một trong các nguyên nhân dẫn tới sự triệt thoái của quân đội Hoa Kỳ khỏi Việt Nam năm 1972.

Mục lục

[ẩn]

[sửa] Sự kiện


[sửa] Bối cảnh


Những người phụ nữ Việt Nam với các em nhỏ tại Mỹ Lai ngày 16 tháng 3 năm 1968. Họ bị lính Mỹ giết gần như ngay sau khi bức ảnh được chụp[7]
Ảnh của Ronald L. Haeberle
Anh ta bắn [vào đứa bé] với một khẩu a.45. Nhưng trượt. Chúng tôi cùng cười. Anh ta tiến thêm khoảng 1 mét rồi lại bắn trượt. Chúng tôi cười. Cuối cùng anh ta dí súng vào đầu đứa bé và cho nó ăn kẹo đồng.[8][9]
Đại đội Charlie thuộc Tiểu đoàn số 1, Trung đoàn bộ binh số 20, Lữ đoàn bộ binh số 11, Sư đoàn bộ binh số 23, Lục quân Hoa Kỳ, tới Nam Việt Nam tháng 12 năm 1967. Trong tháng đầu tiên tại Việt Nam họ không có cuộc chạm trán nào với đối phương. Tính cho đến giữa tháng 3 năm 1968, thương vong của đơn vị này là 5 người chết, 23 người bị thương, trong đó phần lớn binh sĩ thiệt mạng vì mìn và bẫy.
Trong thời gian diễn ra Sự kiện Tết Mậu Thân (tháng 1 năm 1968), Tiểu đoàn 48 của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (thường được quân đội Hoa Kỳ gọi là Việt Cộng) đã tiến hành một số cuộc tấn công trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi. Tình báo Mỹ cho rằng sau Sự kiện Tết Mậu Thân, Tiểu đoàn 48 đã rút lui về ẩn náu tại địa bàn làng Sơn Mỹ thuộc tỉnh này, cụ thể là các thôn Mỹ Lai 1, 2, 3 và 4.
Lục quân Hoa Kỳ quyết định tổ chức một cuộc tấn công lớn vào các làng bị nghi ngờ này. Đại tá Oran K. Henderson ra lệnh cho các sĩ quan cấp dưới "đánh mạnh vào đây, tiến gần kẻ địch và xóa sạch chúng"[10]. Trung tá Frank A. Barker ra lệnh cho các chỉ huy của Tiểu đoàn 1 đốt các ngôi nhà, giết sạch gia súc, phá hủy các kho lương thực và giếng nước[11]
Vào hôm trước của cuộc tấn công, tại cuộc họp chiến thuật của Đại đội Charlie, đại úy Ernest Medina thông báo cho lính của mình rằng gần như mọi dân làng sẽ ra chợ vào lúc 7 giờ sáng, tất cả những ai còn ở lại đều là lính Việt Cộng hoặc người giúp đỡ Việt Cộng[12]. Một số binh sĩ của đại đội Charlie sau này đã khai rằng mệnh lệnh của Medina theo như họ hiểu là giết toàn bộ du kích, lính Việt Cộng và những ai "khả nghi" (bao gồm cả phụ nữ, trẻ em), đốt trụi làng và đầu độc các giếng nước[13].
Trung đội 1 được chỉ định là đơn vị xung kích của Đại đội Charlie trong cuộc tấn công. Ngoài Charlie, còn có 2 đại đội khác có nhiệm vụ bao vây làng Sơn Mỹ.

[sửa] Vụ thảm sát

Vài người cố dậy và bỏ chạy. Họ không thể và ngã xuống. Tôi nhớ có một người phụ nữ, chị ta đứng dậy và cố gắng làm việc đó - cố gắng chạy - với một đứa bé trên tay. Nhưng chị không thể.[14]
Sáng ngày 16 tháng 3, sau một đợt công kích dọn chỗ ngắn bằng pháosúng máy bắn từ trực thăng, Đại đội Charlie đổ bộ vào làng Sơn Mỹ. Các binh sĩ của đơn vị này không tìm thấy bất cứ lính Việt Cộng nào trong làng, thay vào đó chỉ có những người dân thường, phần lớn là phụ nữ và trẻ em, đang cố gắng tìm chỗ ẩn nấp trước cuộc càn quyét của quân đội Mỹ. Trung đội của thiếu úy William Calley bắt đầu xả súng vào các "địa điểm tình nghi có đối phương", những người dân thường đầu tiên bị giết chết hoặc bị thương bởi các loạt đạn bừa bãi này. Sau đó lính Mỹ bắt đầu hủy diệt tất cả những gì chuyển động, người, gia súc, gia cầm... Họ bị giết bằng các loạt súng, bằng lưỡi lê hoặc bằng lựu đạn với mức độ tàn bạo mỗi lúc một cao. Đài BBC News mô tả lại cảnh này:
Binh lính bắt đầu nổi điên, họ xả súng vào đàn ông không mang vũ khí, đàn bà, trẻ em và cả trẻ sơ sinh. Những gia đình tụm lại ẩn nấp trong các căn lều hoặc hầm tạm bị giết không thương tiếc. Những người giơ cao hai tay đầu hàng cũng bị giết... Những nơi khác trong làng, nỗi bạo tàn [của lính Mỹ] mỗi lúc chồng chất. Phụ nữ bị cưỡng bức hàng loạt; những người quỳ lạy xin tha bị đánh đập và tra tấn bằng tay, bằng báng súng, bị đâm bằng lưỡi lê. Một số nạn nhân bị cắt xẻo với dấu "C Company" ("Đại đội C") trên ngực. Đến cuối buổi sáng thì tin tức của vụ thảm sát đến tai thượng cấp và lệnh ngừng bắn được đưa ra. Nhưng Mỹ Lai đã tan hoang, xác người la liệt khắp nơi.[15]
Vài chục người bị dồn vào một mương nước và xả súng giết chết, một số chỗ khác cũng xảy ra những giết hàng loạt như vậy[16]. Một nhóm lớn gồm khoảng 70 hoặc 80 dân làng nằm trong vòng vây của Trung đội 1 ở trung tâm làng bị Calley đích thân giết hoặc ra lệnh cho cấp dưới giết. Các binh sĩ của Trung đội 2 đã giết ít nhất từ 60 đến 70 dân làng bao gồm cả đàn ông, đàn bà và trẻ em trong khi đơn vị này càn qua nửa phía bắc của thôn Mỹ Lai 4 và Bình Tây[3].
Sau cuộc càn quét đầu tiên của Trung đội 1 và 2, Trung đội 3 được lệnh giải quyết bất cứ sự "kháng cự còn lại" nào. Ngay lập tức lính Mỹ giết tất cả những người và gia súc còn sống nhưng không may bị họ tìm được. Ngay cả những người giơ tay đầu hàng từ chỗ ẩn nấp hoặc những tiếng rên cất lên từ các đống xác người cũng bị những lính Mỹ này "giải quyết". Trung đội 3 cũng là đơn vị bao vây và giết một nhóm khoảng từ 7 đến 12 dân thường chỉ gồm phụ nữ và trẻ em[3].
Vì Đại đội Charlie không gặp bất cứ sự kháng cự nào của "quân địch", Tiểu đoàn 4 thuộc Trung đoàn bộ binh số 3 bắt đầu chuyển hướng càn quét sang các xóm của thôn Mỹ Khê 4 và giết khoảng 90 dân thường. Có một binh sĩ Mỹ chết và 7 người khác bị thương vì mìn và bẫy cá nhân[3]. Trong vòng 2 ngày tiếp theo, các đơn vị lính Mỹ tiếp tục việc đốt phá các làng xóm và tra tấn những người bị bắt. Các lính Mỹ nếu không tham gia vào các tội ác thì cũng không phản đối hoặc báo cáo lại nó với cấp trên[17]
"Có thể nói đa phần lính trong đơn vị tôi không coi dân Việt Nam là người"[18]

[sửa] Hành động giải cứu


Người đàn ông và đứa bé. Cả hai đều đã bị giết.
Ảnh của Ronald L. Haeberle
Quang cảnh phía dưới trông như một bể máu! Cái quái gì đang xảy ra vậy?[19]
Chuẩn úy Hugh Thompson, Jr., phi công trực thăng 24 tuổi thuộc đơn vị trinh sát trên không, ngay khi bay qua làng đã chứng kiến cảnh tượng khủng khiếp: Vô số xác người chết, tất cả đều chỉ là trẻ con, phụ nữ và người già, không hề có dấu hiệu của người thuộc độ tuổi tòng quân hay vũ khí ở bất cứ đâu. Đội bay của Thompson tận mắt nhìn thấy đại úy Medina đá và bắn thẳng vào đầu một phụ nữ không có vũ khí (Medina sau này tuyên bố người phụ nữ có mang một quả lựu đạn)[20]. Sau khi chứng kiến những cảnh kinh hoàng này, đội bay Thompson cố gắng thực hiện các cuộc điện đàm để cứu những người bị thương. Chiếc trực thăng của họ hạ cánh xuống một cái mương dầy xác người, trong đó vẫn còn người cử động. Thompson đề nghị một sĩ quan cứu người đó ra khỏi cái mương, viên sĩ quan này trả lời anh ta sẽ "giúp họ thoát khỏi nỗi khốn khổ". Cho rằng đây là một câu đùa, chiếc trực thăng của Thompson cất cánh, ngay lúc đó một người của phi đội thốt lên "Chúa ơi, anh ta đang xả súng vào cái mương".
Thompson sau đó nhìn thấy một nhóm dân thường (lại chỉ bao gồm phụ nữ, trẻ em và người già) trong một căn hầm tạm đang bị lính Mỹ tiếp cận. Chiếc trực thăng của phi đội Thompson hạ cánh và cứu được khoảng từ 12 đến 16 người trong căn hầm. Phi đội Thompson sau đó còn cứu được một đứa bé toàn thân đầy máu nhưng vẫn sống sót từ trong cái mương đầy xác người. Thompson sau đó đã báo cáo lại những gì anh nhìn thấy cho chỉ huy của mình, thiếu tá Watke, trong báo cáo Thompson đã dùng những cụm từ như "murder" (giết người) và "needless and unnecessary killings" (sát hại vô cớ và không cần thiết). Báo cáo của Thompson được các phi công và phi đội khác xác nhận[21].
Năm 1998 tại thủ đô Washington D.C., ba cựu sĩ quan thuộc phi đội Thompson gồm chỉ huy phi đội Glenn Andreotta, phi công Hugh Thompson và xạ thủ Lawrence Colburn đã được trao tặng Soldier's Medal (Huy chương Chiến sĩ) vì hành động ngăn cản đồng đội giết dân thường[22].

[sửa] Hậu quả


Hai mẹ con.Ảnh của Ronald L. Haeberle
Khi rời làng, tôi chẳng còn thấy một ai sống sót.[23]
Do hoàn cảnh hỗn loạn khi vụ thảm sát xảy ra và việc Lục quân Hoa Kỳ không thực hiện thống kê chính xác số nạn nhân, người ta không biết được hoàn toàn chính xác số dân thường bị lính Mỹ giết hại tại Mỹ Lai. Con số ghi lại tại Khu chứng tích Sơn Mỹ là 504 dân thường từ 1 tuổi đến 82 tuổi[2]. Con số do phía Mỹ đưa ra thấp hơn, 347 nạn nhân[1].

[sửa] Che dấu và điều tra

Những báo cáo đầu tiên của các đơn vị lính Mỹ đã tuyên bố rằng "128 Việt Cộng và 22 dân thường" bị giết tại làng sau "cuộc đọ súng ác liệt". Theo tạp chí Stars and Stripes của Lục quân Hoa Kỳ vào thời điểm đó đưa tin thì "Bộ binh Hoa Kỳ đã giết 128 Cộng sản sau một trận đánh đẫm máu kéo dài 1 ngày".
Cuộc điều tra đầu tiên về chiến dịch Mỹ Lai được thiếu tướng George H. Young giao cho đại tá Henderson, sĩ quan chỉ huy của Lữ đoàn bộ binh nhẹ số 11 phụ trách. Henderson đã thẩm vấn một số binh lính tham gia vụ thảm sát, sau đó đưa ra một báo cáo vào cuối tháng 4 ghi nhận rằng khoảng 22 dân thường đã bị giết hại một cách không cố ý trong chiến dịch. Quân đội Mỹ lúc này vẫn coi sự kiện ở Mỹ Lai là một chiến thắng quân sự khi lính Mỹ đã tiêu diệt được 128 lính đối phương.
Sáu tháng sau, Tom Glen, một binh sĩ 21 tuổi của Lữ đoàn 11, đã viết một lá thư cho tướng Creighton Abrams, tổng chỉ huy mới của các lực lượng Hoa Kỳ tại Việt Nam. Trong lá thư Glen buộc tội Sư đoàn Americal, tức Sư đoàn bộ binh số 23 (và toàn bộ các đơn vị lính Mỹ khác) liên tục sử dụng bạo lực chống lại dân thường Việt Nam, lá thư không trực tiếp nhắc tới vụ Mỹ Lai vì Glen không biết nhiều về vụ tàn sát. Một trong các sĩ quan được giao phân tích lá thư là Colin Powell. Trong báo cáo phân tích, Powell viết: "Điều phản bác lại những gì miêu tả trong bức thư là sự thật rằng quan hệ giữa binh sĩ Hoa Kỳ và người dân Việt Nam là tuyệt vời", một vài nhà quan sát cho rằng cách thức Powell xử lý lá thư đồng nghĩa với việc rửa sạch sự tàn bạo của quân đội Hoa Kỳ ở Mỹ Lai[24]. Tháng 5 năm 2004, Powell, khi này đã là Ngoại trưởng Hoa Kỳ, đã trả lời trong chương trình của Larry King trên đài CNN: "Ý tôi là, tôi đã ở trong đơn vị chịu trách nhiệm về vấn đề Mỹ Lai. Tôi ở đó sau khi sự kiện xảy ra. Mà trong chiến tranh thì những vụ việc kinh khủng như vậy vẫn xảy ra, và chúng ta vẫn phải ân hận về chúng"[25].
Vụ thảm sát Mỹ Lai có lẽ sẽ tiếp tục bị che dấu nếu không có bức thư thứ hai của Ron Ridenhour. Ridenhour, một thành viên cũ của Đại đội Charlie và biết về vụ thảm sát qua lời kể của đồng đội, vào tháng 3 năm 1969 đã gửi một lá thư trình bày chi tiết sự kiện Mỹ Lai cho tổng thống Richard M. Nixon, Lầu Năm Góc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, Bộ Tham mưu Liên quân và một số thành viên của Quốc hội Hoa Kỳ[26]. Phần lớn những người được nhận thư đã bỏ qua tầm quan trọng của nó.
Độc lập với chính phủ, nhà báo Seymour Hersh đã tiến hành cuộc điều tra về vụ Mỹ Lai thông qua các cuộc nói chuyện với Calley. Ngày 12 tháng 11 năm 1969 vụ việc Mỹ Lai vỡ lở. Ngày 20 tháng 11, các tạp chí lớn như Time, LifeNewsweek đồng loạt đăng lên trang bìa vụ thảm sát Mỹ Lai, đài truyền hình CBS cũng phát sóng cuộc phỏng vấn với Paul Meadlo. Tờ Plain DealerCleveland còn mạnh dạn hơn khi đăng các bức ảnh mô tả những dân thường bị giết trong vụ thảm sát. Tháng 11 năm 1969, tướng William R. Peers được chỉ định điều tra về sự kiện Mỹ Lai và các hành động che dấu của Lục quân Hoa Kỳ. Bản báo cáo cuối cùng, bản báo cáo Peers (Peers Report[27]), được công bố tháng 3 năm 1970, đã chỉ trích mạnh mẽ việc các sĩ quan cấp cao che dấu vụ việc cũng như những hành động của các sĩ quan thuộc Đại đội Charlie tại làng Mỹ Lai 4[28]. Theo đó:
Các binh lính [tiểu đoàn 1] đã giết ít nhất từ 175 đến 200 đàn ông, phụ nữ và trẻ em Việt Nam. Dù trong số bị giết có người ủng hộ hoặc thân với Việt Cộng (họ không mang vũ khí, gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em) nhưng nhiều bằng chứng đã xác nhận rõ chỉ có 3-4 người đích thực là Việt Cộng (VC). Một lính của đại đội được ghi nhận đã vô ý bị thương lúc nạp đạn.[29][3]

[sửa] Các phiên tòa


Trung úy Calley, trên bìa tạp chí là dòng chữ "Lời thú tội (hay tuyên bố) của trung úy Calley"
Ngày 17 tháng 3 năm 1970, Lục quân Hoa Kỳ đã buộc tội 14 sĩ quan, bao gồm cả thiếu tướng Samuel W. Koster, sĩ quan chỉ huy Sư đoàn Americal (Sư đoàn bộ binh số 23), về việc che dấu thông tin liên quan tới sự kiện Mỹ Lai. Phần lớn các lời buộc tội sau đó đã được hủy bỏ. Chỉ huy lữ đoàn Henderson là sĩ quan duy nhất phải ra tòa án binh về tội che dấu thông tin, dù vậy ông này cũng được tuyên bố trắng án ngày 17 tháng 12 năm 1971[30]
Sau phiên tòa 10 tháng, mặc dù đã tuyên bố mình chỉ tuân theo mệnh lệnh của sĩ quan cấp trên (đại úy Medina), Calley bị tòa tuyên là có tội ngày 10 tháng 9 năm 1971 với các tội danh giết người có chủ ý và ra lệnh cho cấp dưới nổ súng. Ban đầu Calley bị tuyên án chung thân nhưng chỉ 2 ngày sau tổng thống Nixon đã ra lệnh thả Calley. Sau cùng Calley chỉ phải chịu án 4 tháng rưỡi ngồi tù quân sự tại Fort Leavenworth, Kansas, trong thời gian này anh ta vẫn được bạn gái thăm nuôi không hạn chế[31]. Trong một phiên tòa khác, Medina phủ nhận việc ra lệnh thảm sát, và được tuyên trắng án ở tất cả các lời buộc tội. Vài tháng sau phiên tòa, Medina thừa nhận đã che dấu bằng chứng và nói dối Henderson về con số dân thường bị giết[32]. Phần lớn các binh lính có dính líu tới vụ thảm sát Mỹ Lai khi phiên tòa xảy ra đã giải ngũ, vì vậy họ được miễn truy tố. Trong số 26 người bị buộc tội, chỉ có duy nhất Calley bị kết án.
Calley cho rằng anh ta nên đặt nhiệm vụ mà Tổ quốc giao cho lên trên cái tôi của mình. Khi tiến vào Mỹ Lai, tất cả đàn ông ở đâu? Mỹ Lai tòan là phụ nữtrẻ em, không có thanh niên nào cả. Điều đó có nghĩa là cha chúng xa nhà đi chiến đấu. Họ chắc chắn là Việt Cộng[33].
Những người ủng hộ cuộc chiến cho rằng Calley đang làm nhiệm vụ. Phe chống đối thì cho rằng anh ta là người giơ đầu chịu báng.
Ngày 19 tháng 8 năm 2009, trong lúc phát biểu tại Kiwanis Club, Columbus, lần đầu tiên William L.Calley công khai lên tiếng xin lỗi nạn nhân[34]. Ông nói: "Không một ngày nào trôi qua mà tôi không cảm thấy hối hận vì những gì đã xảy ra ngày hôm đó tại Mỹ Lai"[35]

[sửa] Những người sống sót

Trong vụ thảm sát ở Mỹ Lai, có một số người sống sót nhờ được xác của những người thân che chắn khỏi những làn đạn của lính Mỹ, một trong số đó là Đỗ Ba (Đỗ Hòa), người đã được phi đội Thompson cứu khỏi cái mương đầy xác chết[36]. Những người sống sót sau đó đã tái định cư tại khu lán trại nằm ở thôn Mỹ Lai 2. Khu định cư này gần như đã bị phá hủy sau cuộc pháo kích và không kích của Quân lực Việt Nam Cộng hòa mùa xuân năm 1972. Vụ phá hủy đầu tiên được đổ cho Việt Cộng nhưng sự thật sau đó đã được các nhân viên Quaker làm việc ở Quảng Ngãi công bố. Vụ việc này sau đó đã được đăng trên tờ New York Times tháng 6 năm 1972[37].

[sửa] Tưởng niệm

Nhà báo Seymour Hersh, người phát hiện ra tình huống bi kịch này đã nhận giải thưởng Pulitzer về tường thuật quốc tế năm 1970. Tường thuật của ông được minh họa bằng hình của nhà nhiếp ảnh Ron Haeberle. Người nhiếp ảnh này đã tham dự vào chiến dịch dưới tư cách là phóng viên quân đội chính thức nhằm cung cấp chứng cứ cho cái được gọi là "đếm xác" (body count) của thống kê quân sự. Các xác chết được chụp đã được các sĩ quan xác nhận là của các binh sĩ Việt Cộng đã bị giết. Thế nhưng người ta không gặp một dấu hiệu nào của Việt Cộng trong làng và cũng không gặp kháng cự nào. Mặc dầu vậy, quân đội Mỹ rất hài lòng với cuộc hành quân, không có quân nhân Mỹ nào chết hay bị thương và 128 người chết của phía bên kia. Phải mất 1 năm Hersh mới tìm được một nhà xuất bản sẵn sàng công bố câu chuyện và hình ảnh của ông.
Việc xuất bản này đã đánh dấu một bước ngoặt trong cảm nghĩ của công chúng về Chiến tranh Việt Nam, cả ở Mỹ lẫn trong toàn bộ thế giới phương tây và đã góp phần quyết định vào việc tổng động viên của phong trào chống chiến tranh.
Ngày nay, tại nơi đấy là một trung tâm tư liệu về sự kiện: Khu chứng tích Sơn Mỹ. Bên cạnh làng cũ là 2 tòa nhà: 1 trường học và 1 trung tâm văn hóa, được xây dựng và tài trợ bởi cựu quân nhân của Chiến tranh Việt Nam.
Đạo diễn chuyên về đề tài chiến tranh Việt Nam Oliver Stone vào năm 2007 đã dự định làm một bộ phim về vụ thảm sát lấy tên Pinkville[38]. Bộ phim sẽ xoay quanh cuộc điều tra của tướng Peers, vai William Peers được giao cho diễn viên Bruce Willis, Woody Harrelson vào sẽ vào vai đại tá Henderson.

[sửa] Hình ảnh vụ thảm sát


[sửa] Xem thêm


[sửa] Chú thích

  1. ^ a b Law.jrank.org
  2. ^ a b c d Vụ thảm sát Mỹ Lai diễn ra như thế nào? - VnExpress.net
  3. ^ a b c d e Tóm tắt báo cáo của tướng Peers.
  4. ^ Department of the Army. Report of the Department of the Army Review of the Preliminary Investigations into the My Lai Incident (Báo cáo của tướng Peers), Volumes I-III (1970).
  5. ^ "Murder in the name of war - My Lai". BBC. July 20, 1998.
  6. ^ The My Lai Massacre: Seymour Hersh's Complete and Unabridged Reporting for the St. Louis Post Dispatch, November 1969 /Candide's Notebooks
  7. ^ "Report of the Department of Army review of the preliminary investigations into the My Lai incident. Volume III, Exhibits, Book 6 - Photographs, 14 March 1970". From the Library of Congress, Military Legal Resources.[1]
  8. ^ He fired at [the baby] with a .45. He missed. We all laughed. He got up three or four feet closer and missed again. We laughed. Then he got up right on top and plugged him. - “Peers Inquiry: Report of the Department of the Army Review of the Preliminary Investigations into the My Lai Incident”.
  9. ^ "Neo-fascism and the religious right". By John M. Swomley. Humanist (magazine). Jan-Feb, 1995.
  10. ^ "go in there aggressively, close with the enemy and wipe them out for good." "My Lai: A Question of Orders". Jan. 25, 1971. Time (magazine)
  11. ^ Tóm tắt báo cáo Peers. Cần nhấn mạnh rằng Frank A. Barker đã không ra lệnh cho cấp dưới phân biệt và bảo vệ những dân thường không thuộc các đơn vị Việt Cộng. My Lai: An American Tragedy. © William George Eckhardt 2000.
  12. ^ Peers Report: The Omissions and Commissions Of Cpt. Ernest L. Medina
  13. ^ "American soldiers testify in My Lai court martial". By Karen D. Smith. Dec. 6, 2000. Amarillo Globe-News.
  14. ^ Some of the people were trying to get up and run. They couldn't and fell down. This one woman, I remember, she stood up and tried to make it — tried to run — with a small child in her arms. But she didn't make it. - Phóng viên ảnh quân đội Ronald Haeberle, "Ronald Haeberle, Witness for the Prosecution".
  15. ^ Soldiers went berserk, gunning down unarmed men, women, children and babies. Families which huddled together for safety in huts or bunkers were shown no mercy. Those who emerged with hands held high were murdered. ... Elsewhere in the village, other atrocities were in progress. Women were gang raped; Vietnamese who had bowed to greet the Americans were beaten with fists and tortured, clubbed with rifle butts and stabbed with bayonets. Some victims were mutilated with the signature "C Company" carved into the chest. By late morning word had got back to higher authorities and a cease-fire was ordered. My Lai was in a state of carnage. Bodies were strewn through the village - "Murder in the name of war - My Lai". BBC. July 20, 1998.
  16. ^ Laurence Rogerson & Sue Powell (1999). “Exploring Vietnam - My Lai”. Truy cập 16 tháng 3 năm 2006.
  17. ^ My Lai: An American Tragedy
  18. ^ "I would say that most people in our company didn't consider the Vietnamese human". Celina Dunlop, "My Lai: Legacy of a massacre", BBC News, fetched 16th March 2008,[2]
  19. ^ It looks like a bloodbath down there! What the hell is going on? - Một phi công trực thăng bay trên khu vực Mỹ Lai - Into the Dark: The My Lai Massacre
  20. ^ Hugh Thompson | Times Online Obituary
  21. ^ Thompson's own testimony before a conference at the University of Tulane in 1994[3] and from the Peers Report summary
  22. ^ Heroes of My Lai honoured. March 7, 1998. BBC News
  23. ^ I did not see anyone alive when we left the village. - Binh nhất Robert Maples - Into the Dark: The My Lai Massacre
  24. ^ "In direct refutation of this portrayal is the fact that relations between American soldiers and the Vietnamese people are excellent." - "Behind Colin Powell's Legend -- My Lai" by Robert Parry and Norman Solomon, The Consortium for Independent Journalism, July 22, 1996
  25. ^ "I mean, I was in a unit that was responsible for My Lai. I got there after My Lai happened. So, in war, these sorts of horrible things happen every now and again, but they are still to be deplored." “Interview on CNN's Larry King Live with Secretary Colin L. Powell” (tháng May 4 năm 2004). Truy cập 16 tháng 3 năm 2006.
  26. ^ Text of Ridenhour's 1969 letter
  27. ^ Peers' final report
  28. ^ Biography of General William R. Peers
  29. ^ [The 1st Battalion] members had killed at least 175-200 Vietnamese men, women, and children. The evidence indicates that only 3 or 4 were confirmed as Viet Cong although there were undoubtedly several unarmed VC (men, women, and children) among them and many more active supporters and sympathizers. One man from the company was reported as wounded from the accidental discharge of his weapon.
  30. ^ "Biography of Oran Henderson"
  31. ^ Neier, A. War Crimes: Brutality, Genocide, Terror, and the Struggle for Justice, Random House, tr. 95
  32. ^ "An Introduction to the My Lai Courts-Martial"
  33. ^ Chiến tranh Việt Nam-Được và Mất-Nigel Cawthorne-NXB Đà Nẵng p 317-318
  34. ^ Cựu binh Mỹ xin lỗi nạn nhân vụ thảm sát Mỹ Lai
  35. ^ "There is not a day that goes by that I do not feel remorse for what happened that day in My Lai".AP, “Ex-Vietnam Lt. Calley says he's 'very sorry' for 1968 massacre in My Lai”, Los Angeles Times, 21 tháng 8 năm 2009. Truy cập 22 tháng 8 năm 2009.
  36. ^ Đừng gây ra những Mỹ Lai khác nữa - VnExpress
  37. ^ Teitel, Martin. “Again, the Suffering of Mylai”, New York Times, 6 tháng 6 năm 1972, tr. 45. Truy cập 19 tháng 3 năm 2008.
  38. ^ Pinkville (2008) trên IMDb

[sửa] Liên kết ngoài


------------

Gài độ